NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 75


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

   

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian.  Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950  

*  NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ  

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

*  TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

 

Tony Blair picture 1811810 

 

Lê Hồng Phong

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ  

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa 

 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

 

 

* 11 tuổi tự nhận là hiện thân của đại sư Phật giáo (Dân trí) - Một cậu bé 11 tuổi người Mỹ đă quyết định nghỉ học sau khi tự nhận ḿnh là người tái thế của một đại sư Phật giáo đă mất từ năm 1250.  

 

* Bộ mặt thật của một “nhà thơ đấu tranh dân chủ”

* Sự thật về “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tại Mỹ

* Ông “linh mục” và những hoạt động vi phạm pháp luật

* Nguyễn Văn Lư và sự hoang tưởng về chính trị

* "Giải thưởng nhân quyền" cho 2 công dân vi phạm pháp luật: Một tṛ hề lố bịch

* Từ “100 khuôn mặt văn nghệ sĩ” đến tờ báo phản động “Viễn tượng Việt Nam”  

* “Tôi đă hỏi cung Nguyễn Sĩ B́nh như thế nào?”

* Mỹ triển khai tên lửa sát biên giới Nga

* Động thái mới của Mỹ đối với Israel

* Mỹ bất đồng về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân

* Nga - Mỹ lại khẩu chiến về lá chắn tên lửa

* Chương tŕnh hạt nhân của Iran: Giờ G sắp điểm

* Mỹ dùng mạng Internet để bôi xấu chính quyền Tehran

* Mâu thuẫn căng thẳng giữa Venezuela với Mỹ và Colombia

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa.....  (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) -  (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng  Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp 

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

 * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

*THƯ MỤC: NHÂN DÂN VIỆT NAM 2009

*THƯ MỤC NHÂN DÂN VIỆT NAM.2006-2007

 

 

 

 

 

 

 

KHÍA CẠNH NGOẠI GIAO TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

 

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt-Mỹ, cũng là kết thúc chính sách thực dân đế quốc Pháp-Mỹ tại Đông Dương Việt-Miên-Lào. Nói cho cùng, cuộc trường kỳ kháng chiến của ba dân tộc Việt-Miên Lào đồng tâm hiệp lực “ Đánh cho Mỹ cút – Việt Miên Lào gian nhào ”, dành  độc lập, chủ quyền và vẹn toàn lănh thổ của từng quốc gia Đông Dương bị thực dân đế quốc Pháp-Mỹ đô hộ trên 100 năm.     

* Kỷ niệm 35 năm ngày thống nhất đất nước và 124 năm ngày Quốc tế Lao động

 

TP.HCM đón nhận Huân chương Sao vàng lần thứ 2 Sáng 30.4, Thành ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ TP.HCM phối hợp Bộ Tư lệnh Quân khu 7 long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 124 năm ngày Quốc tế Lao động với sự tham gia của 50.000 cán bộ, chiến sĩ, đồng bào TP.

 

* Chiến thắng 30.4.1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, giữ nước

 

TP.HCM diễu binh, diễu hành mừng ngày đất nước thống nhất: Sáng 29.4, Ban Chấp hành T.Ư Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Ủy ban T.Ư MTTQ VN đă tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30.4.1975) tại Hội trường Bộ Quốc pḥng, Hà Nội.

 

* Tái hiện chiến thắng Chương Thiện

 

(TNO) Năm chiếc máy bay quân sự lượn khắp bầu trời, những tàu chiến PCF xé nước dọc ḍng kênh Xáng Xà No là những h́nh ảnh tiêu biểu cho sức mạnh vũ trang của quân đội Mỹ đánh phá vào Chương Thiện (Hậu Giang) cách đây 37 năm.

 

* Tài liệu chưa từng công bố của chính quyền Sài G̣n: Đội quân tan ră

 

medium_Paris_Tran Van Lam 51953635.jpg
Hội Nghị Ḥa B́nh Quốc Tế về vấn đề Việt Nam ngày 2 Tháng Ba, 1973 tại Paris.
Hội nghị giữa hai bên miền Nam VN luôn rơi vào t́nh trạng bế tắc và ngày 8.10.1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng ḥa miền Nam VN tuyên bố không thương thuyết với chính quyền Sài G̣n.

 

 

* Những bóng hồng của dinh Độc Lập - Khi Mai Anh (vợ Nguyễn Văn Thiệu) ra đi...

 

“Cách duy nhất để hoàn thành cuộc đảo chính lật đổ Diệm là phải giết ông ta, nếu không ông ta sẽ len lách về vị trí cũ bằng năng lực chính trị của ḿnh” - đó là nhận định của Schecter sau khi tham cứu nhiều nguồn tài liệu về Việt Nam sau ngày Diệm - Nhu bị bắn chết...

 

* Những bóng hồng của dinh Độc Lập - "Phủ đầu rồng" đón những phu nhân mới

 

Sau ngày bị ném bom vào năm 1962, dinh Độc Lập được Tổng thống Diệm ra lệnh xây mới và sau khi hoàn thành, nơi đây thường được gọi là "Phủ đầu rồng"...

 

* Gợi ư của Đại sứ Graham Martin

 

Người trong cuộc cho rằng Mỹ không gây áp lực, nhưng quan chức ngoại giao cấp cao nhất của Mỹ tại Sài G̣n lúc bấy giờ đă gợi ư ông Thiệu từ chức.

 

* Con đường t́nh ta đi của Nguyễn Văn Thiệu....

 

Một trong những kỷ niệm ngọt ngào nhất trong đời sống vợ chồng giữa bà Mai Anh với ông Thiệu có lẽ là kỳ nghỉ mát cuối cùng ở Hawaii dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của họ vào cuối tháng 9.2001.

 

* Mỹ bỏ rơi VNCH

 

Cả Tổng thống Gerald Ford lẫn Ngoại trưởng Kissinger đều đă đặt dấu chấm hết cho chính quyền Sài G̣n trước khi cuộc chiến thực sự kết thúc vào ngày 30.4.1975.

    Kết thúc chiến tranh Việt Nam là kết thúc chiến tranh Mỹ-Đông Dương, mà đế quốc Mỹ ngụy ngôn chiến tranh Việt Nam (Vietnam War: nội chiến) hay  chiến tranh Việt-Mỹ (American-Vietnam War: mà Quân đội Nhân dân Việt Nam là chủ lực chính của Quân đội Nhân dân Đông Dương đối đầu với Quân đội Mỹ chiếm đóng tại Đông Dương), để chạy tội ác diệt chủng trên 3 triệu người Việt-Miên-Lào, dưới bom đạn Mỹ và vũ khí sinh hóa  chất độc da cam & CBU

 

    Tư Tưởng Hồ Chí Minh chủ đạo chiến thuật-chiến lược Chính trị - Quân sự - Ngoại giao - T́nh báo đang bện liên kết thần sầu chung cho ba dân tộc Việt-Miên-Lào, và nhất là khả năng, giá trị của bản lỉnh và trí tuệ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam quyết đánh cho Mỹ cút phải cuốn cờ chiến bại tháo chạy khỏi Đông Dương vào ngày 30 tháng 4 nhăm 1975, tại Việt Nam 

 

    V́ thấu rơ ước mơ của mỗi dân tộc, thoát gông xiềng đô hộ thực dân đế quốc Pháp-Mỹ, dành độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước và nhất là đoàn kết thực ḷng giúp nhau đánh xâm lược.

 

    Cho nên thống nhất đất nước chính quyền Việt-Miên-Lào không xía vào nội bộ, mà cùng nhau hợp tác kinh tế- ngoại giao-quân sự-văn hóa đồng tiến lên phát tiển, xóa đói, giảm nghèo, cơ khí hóa, bảo tồn phong tục tập quán, dân giàu nước mạnh và văn minh tiến bộ…..

 

    Chiến thắng, chiến tranh Đông Dương trong đó có Khía Cạnh Ngoại Giao đă được cấp lănh đạo kháng chiến Miên –Lào, ủy nhiệm cho lănh đạo Việt Nam kinh qua vận động và đấu tranh ngoại giao với Mỹ và Quốc tế, được các sử gia, nhà nghiên cứu và học giả Thế giới ca ngợi chiến thắng kinh ngạc Khía Cạnh Ngoại Giao Trong Chiến Việt Nam, khả năng chiến thuật, chiến lược ngoại giao của Lê Duẩn-Lê Đức Thọ và đảng CSVN hoặch định chiến tranh ở Bắc Việt….. chính Kissinger trong sách Hồi Kư (Memoires) đă nói rằng: Lê Đức Thọ đối xử với Kissinger như là: một ông thầy giáo nghiêm khắc rầy một đứa học tṛ kém khả năng  ( Tựa Préface, tr 4 )

 

    ĐDTB, trích đăng trọn bài (gồm có 3 phần) Khía Cạnh Ngoại Giao Trong Chiến Tranh Việt Nam của trang nhà BBC, ngày 6-12-23 /4/05, cho chúng ta thấy rằng: Hồ Chí Minh và đảng CSVN đă lợi dụng và vận dụng chủ nghĩa Cộng Sản, để được Liên sô- Trung quốc và Quốc tế hết ḷng ủng hộ kháng chiến toàn dân Việt nói riêng và dân tộc Đông Dương nói chung, đánh đuổi thực dân đế quốc Mỹ.

 

    Đă được, BBC chuyển dịch tích từ tiểu luận mang tiêu đề “ Victory by Other Means: The Foreingn Policy of thr Democratic Republic of Vietnam”, in  trong tập why the North Won the Vietnam War ( Mars Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002 ) của Willam Duiker.

 

   “ William Duiker, tác giả quyển “Hồ Chí Minh: A Life” (2000), cho rằng cần phải nhìn nhận, dù đã có sai lầm gì tại Washington hay Sài Gòn, thì chiến thắng của người cộng sản ở Việt Nam là một thành tựu gây kinh ngạc và là bằng chứng cho khả năng chiến thuật, chiến lược của những người hoạch định chiến tranh ở Bắc Việt, cũng như ý chí và lòng hy sinh của nhiều triệu người ủng hộ trên toàn quốc

 

     Ông cũng cho rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt, trong hai thập niên, đã thành công trong việc vận động tình hình quốc tế để nhận sự ủng hộ mà thường là miễn cưỡng của các đồng minh chính, cũng như giành được cảm tình từ nhiều dân tộc trên thế giới.”

 

   Cho chúng ta biết rằng, Toàn dân và đảng CSVN chủ động cuộc chiến đem đến thắng lợi chung cho nhân dân Đông Dương, trước sức ép của Trung quốc không muốn Việt Nam thống nhất, và nhất là âm mưu thâm độc của Nixon “ ngoại giao bóng bàn với TQ” và “ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trước sức mạnh Hạm Đội 7 bảo vệ vùng biển VN ”….

 

    Cho dù “… quan hệ Trung – Việt đã ngày càng căng thẳng. Các viên chức Bắc Việt nói thẳng ra là Hà Nội đã từng phạm sai lầm khi nghe theo lời khuyên của TQ tại Geneva 1954”, đă được “…Các lãnh đạo Việt Nam đã khéo léo tận dụng mâu thuẫn Trung – Xô để nhận sự giúp đỡ từ cả hai nước. Họ cũng biết cách thực hiện việc hòa đàm theo hướng tạo ra ấn tượng trước công luận là Hà Nội rất uyển chuyển, trong khi trên thực tế không bước vào đàm phán thật sự cho đến một thời điểm do tự họ quyết định….”

 

    Nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, xin giới thiệu nhận định sau đây của một trong những chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam, William Duiker nguyên là nhân viên ngoại giao tại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn trong thời gian chiến tranh. Nhận bằng tiến sĩ ở ĐH Georgetown University, trong nhiều năm cho tới khi về hưu năm 1997, ông là giáo sư khoa Lịch sử ở ĐH bang Pennsylvania.

 

    Ông là tác giả của nhiều tập sách về Việt Nam như The Communist Road to Power in Vietnam (1981), Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (1994), Vietnam: Revolution in Transition (1995) và Hồ Chí Minh: A Life (2000).”…   (BBC)

 

 

KHÍA CẠNH NGOẠI GIAO TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 

 

 

Vì sao những người cộng sản đã chiến thắng trong cuộc chiến ở Việt Nam?

 

    Đã có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Có người quy trách nhiệm cho các sai lầm từ các nhà hoạch định chính sách Mỹ; người lại phân tích về khả năng lãnh đạo và chiến lược của những người cộng sản.

 

    William Duiker, tác giả quyển “Hồ Chí Minh: A Life” (2000), cho rằng cần phải nhìn nhận, dù đã có sai lầm gì tại Washington hay Sài Gòn, thì chiến thắng của người cộng sản ở Việt Nam là một thành tựu gây kinh ngạc và là bằng chứng cho khả năng chiến thuật, chiến lược của những người hoạch định chiến tranh ở Bắc Việt, cũng như ý chí và lòng hy sinh của nhiều triệu người ủng hộ trên toàn quốc.

 

    Ông cũng cho rằng các nhà lãnh đạo Bắc Việt, trong hai thập niên, đã thành công trong việc vận động tình hình quốc tế để nhận sự ủng hộ mà thường là miễn cưỡng của các đồng minh chính, cũng như giành được cảm tình từ nhiều dân tộc trên thế giới.

 

    Trong loạt tư liệu nhân kỷ niệm 30 năm kết thúc chiến tranh, xin giới thiệu nhận định sau đây của một trong những chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam.

 

Cái nhìn từ phía Việt Nam

 

    Bản tiếng Việt là phần trích từ tiểu luận mang tiêu đề “Victory by Other Means: The Foreign Policy of the Democratic Republic of Vietnam”, in trong tập Why the North Won the Vietnam War (Marc Jason Gilbert chủ biên, NXB Palgrave Macmillan ấn hành năm 2002).

 

    Đến cuối thập niên 1950, trong những người cảm tình với Việt Minh tại miền Nam xuất hiện thêm sức ép đòi một quan điểm cứng rắn hơn để bảo vệ cuộc cách mạng. Chính quyền Diệm ở Sài Gòn đã tăng cường nỗ lực đàn áp mọi phe đối lập. Tháng Giêng 1959, vấn đề được đưa ra thảo luận tại cuộc họp của Trung ương Đảng (năm 1951, đảng Cộng sản đã đổi tên thành đảng Lao động).

 

    Một số lãnh đạo trong đảng phản đối khả năng tăng cường võ lực, không chỉ vì làm thế sẽ mất lòng các đồng minh của Hà Nội, mà còn vì lý do miền Bắc chỉ mới bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH bằng chương trình hợp tác hóa kéo dài ba năm.

 

    Ông Hồ Chí Minh bày tỏ thận trọng để tránh khiêu khích Mỹ. Nhưng ông Lê Duẩn, nhân vật đang lên lúc này, vừa hoàn tất một chuyến đi bí mật vào Nam và ủng hộ có hành động mạnh mẽ. Cuối cùng, đảng ra một thỏa hiệp, đồng ý việc tái tục chiến tranh cách mạng trong Nam, nhưng mức độ đấu tranh chính trị và võ trang tới đâu thì vẫn chưa được giải quyết.

 

    Sau đó, ông Hồ đi Bắc Kinh và Moscow để giải thích quyết định và xin ủng hộ. Nhưng Moscow không cam kết, còn Trung Quốc bày tỏ thận trọng. Mao Trạch Đông nói với vị khách rằng điều kiện ở Đông Dương và thế giới chưa chín muồi. Ông nói có thể mất 100 năm để thống nhất VN. Đó không phải là thông điệp mà những đồng chí nhiệt huyết của ông Hồ ở Hà Nội muốn nghe.

 

    Một nguyên do của chính sách thận trọng là việc cần khảo sát thái độ của Mỹ. Sau hội nghị Geneva 1954 chính phủ Eisenhower đã ủng hộ mạnh mẽ ông Ngô Đình Diệm với việc mời ông thăm chính thức Washington năm 1957. Tuy nhiên, đến cuối thập niên này, xuất hiện lo ngại ở Washington do có sự chống đối Diệm tại miền Nam và có xung đột giữa chính phủ hoàng gia Lào với lực lượng Pathet Lào. Lúc này có viễn cảnh Mỹ đưa quân can thiệp vào Lào, nên Hà Nội đã phải cảnh báo Pathet Lào không đẩy nhanh tình hình đi đến chỗ tiêu diệt chính phủ hoàng gia ở Vientiane.

 

    Cùng lúc, Hà Nội có thêm một vấn đề là cuộc xung đột ý thức hệ giữa Moscow và Bắc Kinh. Việc Hà Nội muốn duy trì quan hệ tốt với cả hai nước này chắc chắn đã cản trở việc đưa ra một chính sách hoàn chỉnh cho việc thống nhất.

 

    Tuy nhiên, lúc này những thay đổi trong chính sách của Hà Nội đã xuất hiện. Họ thành lập một mặt trận mới – Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam – để lãnh đạo phong trào ở miền Nam. Mục tiêu công khai của mặt trận là buộc cố vấn Mỹ rút khỏi miền Nam và thành lập chính phủ liên hiệp. Để trấn an người nước ngoài và các nhân tố trung dung ở miền Nam, không hề có sự nhắc tới CNCS hay về liên hệ trong tương lai với Đảng cộng sản.

 

    Nếu một trong các mục tiêu của việc thành lập mặt trận là giảm bớt sự nghi ngờ của Mỹ về liên hệ giữa phong trào nổi dậy trong Nam và miền Bắc, thì mục tiêu này đã không mấy thành công. Ngay sau khi đắc cử năm 1961, tổng thống Kennedy ra lệnh thành lập một nhóm để đánh giá tình hình miền Nam và đề xuất biện pháp ngăn việc cộng sản chiếm Sài Gòn.

 

    Nhưng Washington lúc này lo ngại nhiều hơn về tình hình ở Lào. Không muốn đưa quân Mỹ vào nước này, Kennedy chọn giải pháp có hội nghị hòa bình ở Geneva để ngừng bắn và thành lập chính phủ trung lập tại Lào.

 

    Việc đưa vấn đề Lào ra bàn hội nghị, đối với Hà Nội, là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang tìm lối ra khỏi Đông Dương. Trong các cuộc họp, ông Hồ Chí Minh nói rằng Hoa Kỳ, nước không có quyền lợi an ninh cốt tử trong khu vực, chỉ muốn giữ thể diện tại Đông Dương. Với niềm tin đó, Hà Nội đi tìm phương thức đưa Mỹ ra khỏi miền Nam thông qua đàm phán để thành lập một chính phủ liên hiệp mà bề ngoài sẽ trung lập nhưng rồi người cộng sản sẽ nắm đa số.

 

    Tuy vậy, Hà Nội đã có lạc quan sai về Washington. Sự nghi ngờ cộng sản và nỗi sợ về thuyết domino tiếp tục chi phối chính trị ở Mỹ. Mặc dù các cuộc thăm dò nhau đã diễn ra trong mùa hè 1962, nhưng Nhà Trắng mau chóng mất kiên nhẫn khi họ nhận ra rằng Bắc Việt không có ý định làm theo sự bảo đảm của Liên Xô rằng Bắc Việt sẽ không lợi dụng thỏa thuận ở Lào để tăng cường vận chuyển người và thiết bị vào miền Nam thông qua ngả Lào.

 

    Khi viễn cảnh Mỹ rút khỏi miền Nam bị khép lại, Hà Nội quay lại lựa chọn quân sự. Tháng 12-1963, Trung ương đảng xem xét khẩn cấp đề nghị tăng tốc sức ép quân sự ở miền Nam với hy vọng chiến thắng nhanh chóng trước khi Washington kịp quyết định có can thiệp hay không. Tuy vậy, một quyết định như thế sẽ tăng khả năng chiến tranh rộng lớn. Lúc này, Bắc Kinh không thấy có vấn đề lớn với chiến tranh vì họ đã sẵn sàng chấp nhận nguy cơ để được Hà Nội ủng hộ trong cuộc tranh chấp Xô – Trung. Nhưng nó có thể làm Liên Xô giận dữ vì kể từ sau khủng hoảng tên lửa Cuba 1962, Liên Xô đã muốn cải thiện quan hệ với Mỹ.

 

    Cuộc tranh luận lúc này trở nên nóng bỏng vì nhiều người trong đảng, trong đó có Hồ Chí Minh, vẫn miễn cưỡng không muốn gây hiềm khích với Moscow hoặc khiêu khích Washington. Nhưng ông Lê Duẩn và đồng minh đã chiếm ưu thế và cuối cùng, đề xuất được thông qua.

 

    Để làm dịu những người còn nghi ngờ, đảng quyết định là sẽ không đưa quân chính quy miền Bắc vào Nam. Đảng cũng gửi thư cho một số nước đồng minh hứa rằng cuộc chiến sẽ chỉ khoanh vùng trong ranh giới miền Nam.

 

    Tuy nhiên, Hà Nội lúc này đã đánh giá sai khi họ nghĩ rằng trước xung đột tăng lên ở miền Nam, Mỹ sẽ giảm bớt sự có mặt. Chính phủ Johnson thông qua các biện pháp đe dọa tăng cường vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột. Tháng Tám 1964 sau khi xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ, Nhà Trắng nhanh chóng ra lệnh không kích trả đũa vào miền Bắc.

 

    Vài tuần sau đó, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch đưa những đơn vị bộ đội miền Bắc đầu tiên vào Nam. Quyết định này càng làm mất lòng Moscow, nhưng được Bắc Kinh đồng ý. Dù vậy, Trung Quốc cũng không muốn bị đưa vào thế đối đầu với Washington và Mao Trạch Đông cảnh báo Hà Nội không được phản ứng quá mức với Mỹ.

 

    Tháng Mười 1964, Nikita Khrushchev bị phế truất và một bộ máy lãnh đạo mới lên thay, do Leonid Brezhnev đứng đầu. Mặc dù diễn biến này không có bao nhiêu tác động đến quan hệ Xô – Trung, nhưng nó có tác động quan trọng tại Hà Nội. Lý do là các lãnh đạo mới ở Moscow hy vọng sẽ cô lập Trung Quốc trong phe cộng sản, và trở nên dễ chịu hơn trước lời kêu gọi giúp đỡ của miền Bắc. Từ đó trở đi, Liên Xô trở thành nguồn cung cấp thiết bị quân sự cho Hà Nội.

 

    Nhưng không dễ để duy trì quan hệ với cả Liên Xô và Trung Quốc. Bắc Kinh rất bất mãn vì Hà Nội nhận viện trợ tăng cường từ Liên Xô. Khi Đặng Tiểu Bình đi thăm Hà Nội tháng 12 năm đó, ông yêu cầu miền Bắc từ nay phải từ chối giúp đỡ của Moscow và dựa vào Bắc Kinh. Các vị chủ nhà từ chối và Trung Quốc, lo ngại VN sẽ ngả theo Moscow, đành nhượng bộ. Cuối cùng thì Hà Nội đã học được cách sử dụng sự chia rẽ theo hướng có lợi cho mình. Nhưng mầm mống của những rạn nứt về sau với Bắc Kinh đã được gieo từ đây.

 

    Giờ đây khi hai đồng minh chủ chốt đã cam kết ủng hộ với điều kiện chiến tranh không được lan ra biên giới miền Nam, Hà Nội có được một số lợi thế để giải quyết tình hình đang biến chuyển ở miền Nam.

 

    Mùa đông 1964-1965, tình hình chính trị ở Sài Gòn đã đến điểm hỗn độn khi các chính thể liên tiếp thay đổi. Ở nông thôn, lực lượng Việt Cộng tận dụng sự lộn xộn và thực thi chiến thuật chủ động hơn.

 

    Theo đánh giá của tình báo Mỹ lúc này, Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam kiểm soát 80% tổng số đất đai ở miền Nam.

 

    Dấu hiệu tiến triển này đưa đến một khoảnh khắc vui mừng ở Hà Nội rằng chiến thắng đã trước mặt. Tại cuộc họp tháng Hai 1965, các lãnh đạo đảng quyết định không gửi thêm quân từ miền Bắc vào nữa. Họ hy vọng lực lượng Việt Cộng trong Nam đủ sức lật đổ chế độ Sài Gòn vào giữa mùa hè.

 

    Với tư tưởng ấy, Hà Nội quay lại nỗ lực ngoại giao trong tháng Tư, khi thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra tuyên bố ‘Bốn điểm’ nổi tiếng. Tuyên bố kêu gọi một thỏa hiệp dựa trên việc Mỹ rút quân, việc quay lại các điều khoản hiệp định Geneva, một thỏa thuận hòa bình dựa trên nghị trình của Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, và việc thống nhất hai miền trong hòa bình không có nước ngoài can thiệp.

 

    Nhưng đề xuất này nhanh chóng gây ra tranh cãi, do Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam gần như ngay lập tức đưa ra tuyên bố ‘Năm điểm’. Nó có vẻ đòi Mỹ rút quân trước khi có thể có hòa đàm.

 

    Các viên chức Mỹ cũng lo ngại rằng điểm số Ba trong Bốn điểm của Hà Nội có thể đòi hỏi việc đầu hàng hoàn toàn của chính thể ở Sài Gòn.

 

    Washington tìm cách giải thích thông qua đường ngoại giao, nhưng Hà Nội không tỏ ra mặn mà. Và sau vài cuộc gặp trong mùa hè, Hà Nội đột ngột chấm dứt liên lạc.

 

    Theo sử gia Robert Brigham, Hà Nội rút khỏi đàm phán chủ yếu vì họ cân nhắc quan điểm của người trong Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam, những người lo ngại rằng mình sẽ bị Hà Nội bỏ rơi.

 

    Nhưng còn một yếu tố khác nữa, đó là kết luận của tổng bí thư Lê Duẩn rằng Washington lúc này chưa sẵn sàng có nhượng bộ lớn tại bàn đàm phán. Như ông viết trong Thư vào Nam, thì Hà Nội không muốn đàm phán cho đến khi những người cách mạng chiếm ưu thế rõ rệt trên chiến trường.

 

    Tuy nhiên, đến cuối mùa hè 1965, rõ ràng lực lượng Việt Cộng chưa đủ sức lật đổ chế độ miền Nam. Sự tăng cường quân Mỹ tại miền Nam buộc Hà Nội nhận thức rằng họ phải tăng cường quân từ miền Bắc vào.

 

    Người ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm này là tướng Nguyễn Chí Thanh, người đưa ra chiến lược tấn công gây sức ép cho quân Mỹ và quân miền Nam trên toàn miền Nam để buộc đối phương đầu hàng.

 

    Hà Nội cũng không cắt đứt hoàn toàn ngả thương thuyết, nhưng ông Lê Duẩn và các đồng minh trong đảng quyết định hiện chưa đúng lúc cho đàm phán.

 

    Việc tăng tốc chiến tranh khiến Hà Nội càng cần phải có sự trợ giúp từ các đồng minh. Moscow có thể hài lòng chừng nào Hà Nội ngăn không để chiến tranh lan ra khỏi biên giới miền Nam. Nhưng các viên chức Liên Xô bày tỏ bất mãn là lãnh đạo Việt Nam không tham vấn với họ về kế hoạch chiến tranh.

 

    Như thường lệ, quan hệ với Bắc Kinh tỏ ra phức tạp hơn. Hà Nội muốn Trung Quốc không chỉ là người giúp đỡ quân sự mà còn là vật cản đường khiến Mỹ ngại không mở rộng chiến tranh ra khỏi biên giới miền Nam.

 

    Trong những tháng đầu năm 1965, Bắc Kinh hứa với Hà Nội rằng Trung Quốc sẽ là ‘hậu phương lớn’ của cách mạng VN, cung cấp trợ giúp quân sự và nếu cần, đưa cả quân Trung Quốc vào để giúp các đồng chí VN đạt mục tiêu. Trong tháng Tư, hai nước ký thỏa thuận cho phép triển khai quân TQ vào miền Bắc. Hai tháng sau đó, các cuộc thảo luận song phương ở Bắc Kinh đồng ý rằng Trung Quốc sẽ phản ứng trước bất kì nỗ lực tăng tốc chiến tranh của Mỹ.

 

    Tuy nhiên, trên thực tế, một số lãnh đạo TQ ngày càng lo ngại họ có thể bị kéo vào thế đối đầu trực tiếp với Mỹ. Bắc Kinh bắt đầu tỏ dấu hiệu với Washington rằng, mặc dù họ sẵn sàng can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, nhưng cũng không có ý định khiêu khích xung đột với Mỹ. Thông điệp ngụ ý nếu Washington không trực tiếp đe dọa Trung Quốc, TQ sẽ không trực tiếp can dự vào cuộc chiến.

 

    Sau một cuộc thảo luận căng thẳng trong mùa hè tại Bắc Kinh, Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Hà Nội về việc gửi phi công chiến đấu TQ và cự tuyệt đề nghị của Liên Xô thành lập mặt trận thống nhất trợ giúp cho miền Bắc.

 

    Nhưng mặc dù các lãnh đạo TQ thận trọng trong việc xác định mức độ can dự, thì khả năng TQ có thể can thiệp đã là yếu tố quan trọng khiến chính quyền Johnson không có giải pháp cứng rắn hơn trong chiến tranh. Ngoài ra, trong các năm kế tiếp, sự trợ giúp quân sự của Trung Quốc đã tăng mạnh, trong khi số lượng nhân viên quân sự và dân sự Trung Quốc phục vụ tại miền Bắc tăng trên 100.000 người.

 

    Nhưng điều này cũng không giải quyết được các khác biệt giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Tình huống trở nên căng thẳng trong cuối thập niên 1960 khi các chiến sĩ Hồng vệ binh đến thăm Hà Nội bắt đầu khoe các khẩu hiệu cách mạng trước mặt các vị chủ nhà. Các lãnh đạo ở Hà Nội có cách bày tỏ sự không hài lòng của họ, với các bài báo xuất hiện nói về truyền thống ‘xâm lược thời phong kiến’ của Trung Quốc. Tín hiệu này nhanh chóng được Bắc Kinh để ý. Đặng Tiểu Bình nói với Lê Duẩn vào tháng Tư 1966 rằng “nếu sự có mặt của chúng tôi khiến các bạn tức giận, chúng tôi sẽ rút lui ngay tức thời.”

 

Chiến trường

 

    Trong lúc đó trên chiến trường, Hà Nội lo ngại về các tổn thất nhân mạng và vật chất, trong lúc chưa thấy các lợi ích rõ ràng. Đến đầu năm 1967, đã có sự không hài lòng xuất hiện trong một bộ phận quân nhân và viên chức tại Hà Nội. Một số thậm chí bày tỏ hy vọng theo đuổi con đường đàm phán. Lúc này phong trào phản chiến tại Mỹ và trên thế giới lan rộng, và Hà Nội có một ít lạc quan rằng chính quyền Johnson có thể có nhượng bộ lớn để chấm dứt chiến tranh.

 

    Tháng Giêng 1967, ngoại trưởng Bắc Việt, Nguyễn Duy Trinh, ra dấu hiệu với Washington rằng nếu chiến dịch đánh bom miền Bắc của Mỹ chấm dứt vô điều kiện, viễn cảnh đàm phán sẽ mở ra. Hà Nội lúc này đã từ bỏ đòi hỏi là Mỹ phải chấp nhật cả Bốn điểm trước khi mở đàm phán. Tuy nhiên, Washington thấy thông điệp của Hà Nội vẫn mơ hồ và cuối cùng họ bác bỏ, xem đó là chưa đầy đủ.

 

    Dù vậy, chính quyền Johnson chưa mất hết sự quan tâm đến đàm phán. Vào tháng Sáu, lại có thêm các tiếp xúc; lúc này Nhà Trắng có đề xuất mới, mà thường được biết với tên gọi công thứ Pennsylvania hay công thức San Antonio.

 

    Đề nghị nói sẽ tạm ngưng đánh bom miền Bắc nếu hòa đàm bắt đầu và rằng miền Bắc phải bảo đảm sẽ không lợi dụng tình thế để gia tăng nỗ lực quân sự ở miền Nam.

 

    Tại Hà Nội, một số tỏ ý quan tâm đề nghị. Nhưng vì lúc này đã có kế hoạch tổng tấn công ở miền Nam vào đầu năm sau, nên cuối cùng Hà Nội bác bỏ đề nghị.

 

    Các nhà chủ chiến hy vọng rằng một cuộc tấn công lớn sẽ làm tình hình miền Nam thêm bất ổn và buộc Mỹ phải nhượng bộ.

 

    Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân diễn ra vào cuối tháng Giêng 1968. Các sử gia đã tranh luận nhiều về mục tiêu của chiến dịch này. Nhưng các nguồn từ miền Bắc cho thấy rõ là bản thân Hà Nội không chắc chắn về kết quả sẽ đạt được.

 

    Điều này phản ánh quan điểm của ông Lê Duẩn, trích dẫn lại từ Lênin, rằng “chúng ta phải đánh và rồi sẽ chờ xem”.

 

    Mục tiêu cao nhất của Hà Nội là kết hợp tấn công vũ trang và nổi dậy để lật đổ chế độ Sài Gòn, đưa đến đàm phán và Mỹ rút quân. Nhưng mục tiêu tối thiểu của họ là gây bất ổn tại miền Nam đủ để Mỹ phải tìm đường đàm phán theo các điều kiện bất lợi.

 

    Kết cục là trận Mậu Thân đem lại kết quả lẫn lộn. Lực lượng Việt Cộng chịu tổn thất nặng nề và không lật đổ được chế độ Sài Gòn.

 

    Nhưng chiến dịch đã có tác động lớn đến dư luận tại Mỹ vốn trước đó ủng hộ chiến tranh, và thuyết phục được nhiều viên chức Mỹ rằng họ không thể giành chiến thắng với một cái giá chấp nhận được. Nhà Trắng sau đó miễn cưỡng quyết định gia tăng nỗ lực để có đàm phán hòa bình.

 

    Nhưng chiến dịch đã có tác động lớn đến dư luận tại Mỹ vốn trước đó ủng hộ chiến tranh, và thuyết phục được nhiều viên chức Mỹ rằng họ không thể giành chiến thắng với một cái giá chấp nhận được.

 

    Nhà Trắng sau đó miễn cưỡng quyết định gia tăng nỗ lực để có đàm phán hòa bình.

 

    Đột phá đầu tiên diễn ra vào đầu tháng Tư 1968, khi Hà Nội đồng ý mở thảo luận với các đại diện Mỹ nhằm tìm thỏa thuận cho việc Mỹ dừng ném bom vô điều kiện. Đây được xem là phương thức đem lại vòng đàm phán đầu tiên.

 

    Quyết định của Hà Nội lập tức gây ra vấn đề với Trung Quốc, nước mà trong ba năm qua đã cảnh báo Hà Nội không được bỏ đi tuyên bố Bốn Điểm như tiền đề cần thiết trước khi tham gia đàm phán.

 

    Trong cuộc gặp ông Phạm Văn Đồng trong tháng Tư, ông Chu Ân Lai chỉ trích VN vì muốn có sự ngừng đánh bom tạm thời. Ông gọi điều này sẽ khiến lực lượng cách mạng ở miền Nam mất đi chủ động.

 

    Ông Đồng phản bác lại là Hà Nội chỉ muốn dùng ngoại giao để vận động dư luận thế giới chống lại Mỹ và buộc Washington phải nhượng bộ.

 

    Khi Chu nói Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm giao thiệp với Mỹ hơn, ông Đồng nói lời cảm ơn nhưng cũng nói thêm “chúng tôi là người đang chiến đấu chống Mỹ và đánh bại họ.” Ông kết luận vì thế Hà Nội chịu trách nhiệm cho việc thực hiện các hoạt động ngoại giao và quân sự.

 

    Đến mùa thu, TQ nhắc lại sự chỉ trích khi Hà Nội đồng ý mở thảo luận với Mỹ, Mặt trận dân tộc giải phóng và chính quyền Sài Gòn tại Paris.

 

    Tuy vậy đến lúc này quan hệ Trung – Việt đã ngày càng căng thẳng. Các viên chức Bắc Việt nói thẳng ra là Hà Nội đã từng phạm sai lầm khi nghe theo lời khuyên của TQ tại Geneva 1954.

 

    Kết quả là Mao Trạch Đông đành tán thành với chiến lược vừa đánh vừa đàm của Hà Nội.

 

    Trên thực tế, Bắc Việt tiếp tục dùng đàm phán ở Paris chủ yếu như một diễn đàn để vận động dư luận, trong lúc đồng thời tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang trong miền Nam.

 

    Tháng Chín 1970, ông Phạm Văn Đồng nói với Chu Ân Lai rằng Bắc Việt không có ảo tưởng về một giải quyết ngoại giao tại thời điểm này vì Washington vẫn đang tìm kiếm chiến thắng trên chiến trường.

 

    Lúc này các điều kiện mà Hà Nội đặt ra tại đàm phán là: thiết lập thời biểu cho việc Mỹ rút quân hoàn toàn, phế bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trước khi thành lập một chính phủ liên hiệp.

 

    Ông Phạm Văn Đồng nói những điều kiện không nhằm để xem xét nghiêm túc mà chỉ để dồn Mỹ vào thế bí và vận động dư luận có cảm tình với phong trào cách mạng ở miền Nam và trên thế giới.

Ông nhấn mạnh cuộc đấu tranh ngoại giao đóng vai trò hữu ích đồng thời cùng nỗ lực quân sự trên chiến trường.

 

Cú sốc Nixon

 

    Nhưng đến đầu thập niên 1970, Hà Nội đột nhiên chứng kiến một thực tế mới không dễ chịu khi Trung Quốc quyết định nối lại tình thân với Mỹ.

 

    Đối với các lãnh đạo ở Hà Nội, đây là cú đánh vào chiến lược của họ, do chiến lược này dựa trên tiền đề là sự thù địch Trung – Mỹ là yếu tố cố định trên chính trường thế giới. Giờ đây Bắc Việt đối diện khả năng là Trung Quốc sẽ hùa theo Mỹ để tước bỏ những thành tựu cách mạng của Bắc Việt.

 

    Trung Quốc thì nhấn mạnh quan hệ cải thiện Trung – Mỹ có thể có lợi cho sự thống nhất Việt Nam vì khi đó, Mỹ sẽ giảm bớt lo ngại về sự bành trướng cộng sản ở Đông Nam Á và sẽ tập trung vào các khu vực khác.

 

    Nhưng Hà Nội không chia sẻ quan điểm này.

 

    Lo ngại của Hà Nội có vẻ được chứng thực phần nào khi Trung Quốc sau đó tin rằng Washington đang định tìm một sự rút lui trong danh dự ra khỏi Đông Dương.

 

    Giờ đây Bắc Việt tập trung nỗ lực cho hy vọng mở một đợt tổng tấn công mới tại miền Nam. Nếu thành công, nó có thể bào mòn uy tín chính quyền Sài Gòn và buộc Mỹ có thêm nhượng bộ trong hòa đàm.

 

    Đợt tổng tấn công cuối tháng Ba 1972 thể hiện ưu thế của lực lượng Bắc Việt trước quân đội miền Nam – lúc này chiến đấu mà không có sự hỗ trợ của bộ binh Mỹ. Tuy vậy, các đợt không kích của Mỹ đã giúp phản pháo và chính quyền Sài Gòn vẫn tồn tại.

 

    Trong mấy tháng kế tiếp, các nhà lãnh đạo Bắc Việt đánh giá tình hình dựa trên thực tế mới. Vào tháng Bảy 1972, ông Chu Ân Lai khuyên ông Lê Đức Thọ hãy mềm dẻo hơn trong hòa đàm và nếu cần thì thừa nhận Nguyễn Văn Thiệu như một thành viên tiềm năng trong một liên minh tay ba tương lai.

   

    Ông Thọ tỏ ra ngờ vực, vì đối thủ chính của Nixon trong chiến dịch tranh cử tổng thống 1972, nghị sĩ Dân chủ George McGovern, đang vận động dựa trên cương lĩnh sẽ rút quân Mỹ ngay tức khắc ra khỏi miền Nam.

 

     Nhưng đến đầu mùa thu, tình thế cho thấy rõ là thượng nghị sĩ McGovern sẽ chịu thất bại trong bầu cử, trong lúc Nixon đe dọa gia tăng sức ép quân sự của Mỹ ở VN sau bầu cử nếu không đạt được thỏa thuận hòa bình.

 

    Ngày 8-10, ông Lê Đức Thọ từ bỏ việc yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Thay vào đó, ông chấp nhận kế hoạch kêu gọi một ‘sự ngừng bắn có hiệu lực’ và việc công nhận hai thực thể hành chính ở miền Nam – chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và chính phủ cách mạng lâm thời.

 

    Một hiệp định cuối cùng được ký ở Paris tháng Giêng 1973.

 

    Đối với nhiều thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, thỏa thuận Paris nhắc họ nhớ về sự phản bội ở Geneva 1954, và các lãnh đạo Bắc Việt đã phải nỗ lực bảo đảm với họ rằng mục tiêu thống nhất chưa bị lãng quên.

 

    Nhưng trên thực tế, có vẻ Hà Nội không cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải hoàn tất việc thống nhất. Giờ đây khi quân Mỹ đã rút, các lãnh đạo Bắc Việt tin rằng chiến thắng chỉ là vấn đề thời gian.

 

    Trong hội đàm ở Bắc Kinh tháng Sáu, Chu Ân Lai nói: “trong năm, mười năm kế tiếp, Nam Việt Nam, Lào và Campuchia cần xây dựng hòa bình, độc lập và trung lập.” Ông Lê Duẩn có vẻ đồng ý, nói rằng Bắc Việt không vội vã trong vấn đề đưa chính quyền miền Nam thành chính quyền XHCN và nhắc tới khả năng 10 – 15 năm.

 

    Cuối cùng thực tế là đã không lâu đến như vậy. Khi chính quyền Thiệu không thực hiện các điều khoản hiệp định Paris và tấn công các khu vực do đối phương kiểm soát ở miền Nam, Bắc Việt thay đổi kế hoạch và mở tổng tấn công đầu năm 1975.

 

    Quyết định gây ra một vài lo ngại ở Bắc Kinh và Moscow, nhưng khi Washington không phản ứng, sự kháng cự ở miền Nam nhanh chóng suy sụp và Sài Gòn thất thủ ngày 30-4. Việc thống nhất diễn ra một năm sau đó và chính thể mới soạn ra kế hoạch chuyển hóa XHCN trên toàn quốc vào cuối thập niên.

 

Kết luận

 

    Sau 1975, các nguồn chính thức ở Hà Nội quy chiến thắng là nhờ các yếu tố: sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước của nhân dân, và thiên tài chiến lược của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

 

    Ít có sự nhắc tới vai trò của ngoại giao hay sự viện trợ của các đồng minh của Hà Nội. Các lãnh đạo Việt Nam, khi bước vào sự tranh chấp gay gắt với Trung Quốc, liên tục giảm nhẹ sự hỗ trợ mà họ đã nhận từ bên ngoài. Sự giúp đỡ của Bắc Kinh giờ đây bị mô tả như là nhằm phục vụ mục tiêu ích kỷ của Trung Quốc.

 

    Tuy vậy, ngoại giao thực ra là vũ khí quan trọng cho đảng trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

 

    Các lãnh đạo Việt Nam đã khéo léo tận dụng mâu thuẫn Trung – Xô để nhận sự giúp đỡ từ cả hai nước. Họ cũng biết cách thực hiện việc hòa đàm theo hướng tạo ra ấn tượng trước công luận là Hà Nội rất uyển chuyển, trong khi trên thực tế không bước vào đàm phán thật sự cho đến một thời điểm do tự họ quyết định.

 

    Dĩ nhiên, Hà Nội đã có nhiều nhượng bộ đáng kể để có hiệp định Paris 1973. Nhưng đối với các nhà chiến lược Việt Nam, nhượng bộ tại Paris không có tính thực tế vì họ nhận thức rằng một khi Mỹ đã rút khỏi miền Nam, chính quyền Sài Gòn không phải là đối trọng với miền Bắc.

 

    Bắc Việt có vẻ đã nghĩ rằng sẽ còn mất một khoảng thời gian trước khi có chiến thắng cuối cùng, và sẵn lòng chấp nhận một thỏa hiệp về một chính phủ liên hiệp mà phía Mặt trận miền Nam sẽ giữ ưu thế. Nhưng việc Nixon từ chức tháng Tám 1974 đã đem lại một tình thế mới.

 

 

Trích BBC, ngày 6-12-23 / 4 / 2005

NDVN, ngày 30/4/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend