NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

VỀ CÁC YẾU TỐ LĂNH THỔ, QUỐC HIỆU VÀ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC


 

Tuyển Tập Những Bài Tham Luận Và Tác Phẩm Của Nguyễn Mạnh 

 

 

 

 

 

<> THI HÀNH CHÍNH SÁCH NGU DÂN VÀ GIÁO DỤC NHỒI SỌ

<> Nguyễn Mạnh Quang CÔ LẬP GIÁO DÂN

<> KHƠI ĐỘNG VÀ NUÔI DƯỠNG L̉NG THAM LAM VÀ ÍCH KỶ TÍN ĐỒ

 

VỀ CÁC YẾU TỐ LĂNH THỔ,

QUỐC HIỆU VÀ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

 

 

Nguyễn Mạnh Quang

 

CHƯƠNG 79

 

VỀ CÁC YẾU TỐ LĂNH THỔ, QUỐC HIỆU…
   VÀ CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

 

1.- DIỆN TÍCH LĂNH THỔ

 

   Lănh thổ của một quốc gia được coi như là tài nguyên của đất nước. Lănh thổ càng rộng lớn càng có lợi cho đất nước. Trong một cuộc tranh chấp giữa hai quốc gia, quốc gia nào có lănh thổ rộng hơn, có thể đuợc coi như có lợi thế hơn. Tuy nhiên, đây không hẳn là tuyệt đối.

 

   Diện tích cả nước Việt Nam vào khoảng 329,600 cây số vuông. Có sách ghi là 331,000 cây số vuông, và có sách ghi là 328,000 cây số vuông. Khác biệt giữa con số lớn nhất và con số nhỏ nhất ở đây là 3 ngàn cây số. Với cái nh́n trung trung, người viết chọn con số ở trung b́nh trong ba con số này. Hiệp Định Genève 1954 quyết định tạm thời lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới chia Việt Nam thành hai miền:

 

   A.- Miền Bắc: Miền Bắc tạm chiếm từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, có diện tích vào khoảng 155, 600 cây số vuông. 

 

   B.- Miền Nam: Miền Nam tạm chiếm từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, có diện tích vào khoảng 173,000 cây số vuông1.

 

   Như vậy, về phương diện lănh thổ, Miền Nam lớn hơn miền Bắc là 17.400 cây số vuông. Như thế, về yếu tố này, miền Nam có lợi thế hơn miền Bắc.

 

2.- DANH XƯNG HAY QUỐC HIỆU
   VÀ TỔ CHỨC QUYỀN LỰC

 

  Theo Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức danh xưng là tên gọi, và quốc hiệu là tên chính thức của quốc gia. Như vậy, hai từ kép “danh xưng” và “quốc hiệu” gần như đồng nghĩa với nhau. Hiểu như vậy, nước ta đă có danh xưng hay quốc hiệu là Việt Nam rồi. Nhưng đó chỉ hiểu theo nghĩa hẹp và không nói lên được nước Việt Nam theo chế độ chính trị nào.

 

   Trái lại, khi người ta gọi Vương Quốc Anh, Cộng Ḥa Pháp, Liên Bang Mỹ, Đức Quốc Xă, Đế quốc Nhât, v.v.. ta có thể hiếu nước Anh theo chế độ quân chủ, nước Pháp theo chế độ cộng ḥa, nước Mỹ theo chế độ cộng ḥa liên bang phân quyền và tản quyền, nước Nhật là một đế quốc hay ít ra đang theo đuổi chính sách đế quốc thực dân xâm lược, v.v… Như vậy, nhờ có cái danh xưng như trên, người ta có thể hiểu quốc gia mang danh xưng đó theo chế độ chính trị nào. Trong tiểu mục này, chúng tôi dùng danh xưng như trên để nói về miền Bắc hay miền Nam.   

 

   A.- Miền Bắc: Danh xưng hay quốc hiệu của miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và được tổ chức theo chế độ chuyên chính nhân dân với tổ chức song quyền:

 

   1.- Chính quyền ch́m (informal government hay réel gouvernement) là Ủy Ban Trung Ương Cộng Đảng Việt Nam. Chính phủ này ở hậu trường chỉ đạo, làm ra chính sách, hoạch định những kế hoạch cho chính chính phủ nổi thi hành, và chỉ định những thành phần nào được đưa vào nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ nổi. 

 

   2.- Chính quyền nổi (formal government hay apparent gouvernement) gồm có:

 

   a.- Cơ quan hành pháp tức là nội các gồm có thủ tướng chính phủ và các vị bộ trưởng nắm giữ các bộ trong hội đồng nội các và các ông giám đốc nắm giữ các cơ quan đặc biệt trong chính quyền. Vị lănh đạo cơ quan hành pháp cũng là thành viên trong chính phủ ch́m.

 

   b.- Cơ quan lập pháp tức là quốc hội.

 

   c.- Cơ quan tư pháp tức là các ṭa án.

 

   Tất cả các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có nhiệm vụ phải tuân hành những chỉ thị của chính phủ ch́m và thi hành nhiệm vụ theo đúng đường lối của chính phủ ch́m đă hoạch định và ban hành.

 

   B.- Miền Nam: Danh xưng của miền Nam vốn là Quốc Gia Việt Nam, sau đổi là Việt Nam Cộng Ḥa, được tổ chức theo chế độ độc tài tôn giáo của đạo Da-tô gọi là đạo phiệt Da-tô với tổ chức song quyền:

 

   1.- Chính quyền ch́mHội Đồng Giám Mục cùng một số linh mục có thế lực ngồi ở hậu truờng sân khấu chỉ đạo. Trong những năm 1954-1963, người có ảnh hưởng lớn nhất trong thế lực ở hậu trường chính trị miền Nam là Giám-mục Ngô Đ́nh Thục, có Giám-mục Phạm Ngọc Chi, Linh mục Bửu Dưỡng, Linh-muc Cao Văn Luận, Linh-mục Trần Hữu Thanh, Linh-mục Tần Đ́nh Vận, Linh Mục Mai Ngọc Khuê, Linh-mục Nguyễn Bá Lộc, Linh-mục Nguyễn Lạc Hoá, v.v… pḥ tá đặc lực. Khác với chính quyền ch́m ở miền Bắc, chính quyền ch́m ở miền Nam nhận chỉ thị trực tiếp từ Ṭa Thánh Vatican, căn cứ theo chủ trương tôn giáo (thần quyền) chỉ đạo chính quyền (thế quyền) và chính sách bất khoan dung đối với các thành phần thuộc các tôn giáo khác, rồi hoạch định những đường lối, những sách lược đại cương và ra lệnh (phần lớn là khẩu lệnh) để cho chính phủ nổi thi hành uyển chuyển tùy theo hoàn cảnh chính trị của từng địa phương và tùy theo t́nh thế của thời cuộc. Đó là trên lư thuyết. Trong thực tê, các ông tu sĩ Da-tô trên đây và những nhân vật quan trong trong chính quyền miền Nam cũng như tín đồ Da-tô người Việt, nhấnt là những tín hữu Da-tô di cư từ Bắc Kỳ và các tỉnh phía bắc Trung Kỳ c̣n Lă Mă hơn cả La Mă. Lá thư của ông Da-tô Nguyễn Văn Chức gốc Phát Diệm đề ngày 25/2/1955 gửi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm (sẽ được rơ ở trong mục nói về lănh đạo ở chương sau) và lời tuyên bố của ông Ngô Đ́nh Nhu dưới đây là bằng chứng cho sự kiện này:

 

Tôi có cả một chương tŕnh, đă bàn tính kỹ với Đức Giám-mục sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, c̣n chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết.” 2

 

   Hơn nữa, Hội Đồng Giám Mục c̣n nắm quyền chỉ định những thành phần nào được đưa vào nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ nổi. Ngoài Hội Đồng Giám Mục và các ông lịnh mục quyền thế như trên, c̣n có chính quyền Hoa Kỳ mà đại diện là ông Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sàig̣n có quyền quyết định tối hậu trong mọi việc đối nội cũng như đối ngoại. Tuy nhiên, b́nh thường, chính quyền Hoa Kỳ và Toà Đại Sứ Hoa Kỳ chỉ lo công việc ngoại chống đỡ cho chính quyền Sàig̣n và sắp xếp mọi việc liên hệ với nước ngoài rồi báo cho bộ ngoại giao của miền Nam biết để phải làm theo những ǵ họ đă sắp đặt) và các vấn đề quân sự (tổ chức, vũ trang, huấn luyện quân lính, thiết lập các phi trường và các có sở khác). C̣n việc quản lư nhân dân, Hoa Kỳ chỉ sắp đặt các viên chức cố vấn để hướng dẫn một cách đại thể cho các cấp chỉ huy, nhưng trong thực tế, họ để mặc cho Giáo Hội La Mă và chính quyền Ngô Đ́nh Diệm (sau đó là chính quyền Nguyễn Văn Thiệu) mặc sức muốn làm ǵ th́ làm, miễn là đừng quá trớn. Khi chính quyền Ngô Đ́nh Diệm quá trớn trong việc bách hại Phật Giáo trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1963, Hoa Kỳ đă phải ra lệnh (nói theo ngôn ngữ ngoại giao là yêu cầu) cho anh em ông Ngô Đ́nh Diệm phải từ bỏ mọi hành động bách hại và kỳ thị tôn giáo, phải cải tổ chính quyền và thay đổi chính sách quản lư nhân dân. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm không những đă không tuân hành lệnh của Hoa Kỳ, mà c̣n tỏ ra ngoan cố, lập tức bị Hoa Kỳ trừng trị bằng cách để mặc cho ngọn lửa căm thù của quân dân miền Nam thiêu rụi chế độ đạo phiệt dă man này.

 

   Cung cách hành xử trên đây của chính quyền Hoa Kỳ đối với chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm nói chung và cá nhân anh em ông Ngô Đ́nh Diệm nói riêng, cũng như đối với cá nhân và chính quyền của ông nguyễn Văn Thiệu sau đó, là nguyên tắc chung đối với tất cả chính quyền làm tay sai cho Hoa Kỳ. Đoạn văn trong bản tin có tựa đề là “U.S. pushes for different Iraqi leader” đăng nơi trang A3 trong The News Tribune Wesdenday, 29, 2006 cho chúng thấy rơ sự kiện này:

 

Ông Redha Jowad Taki, một thành viên Shiite trong Quốc Hội có mặt trong buổi họp nói rằng trong buổi họp vào ngày Thứ Bẩy (25/3/2006), ông Đại Sứ Zalmay Khalilizad nhờ ông lănh tụ khối chính trị Shiite chuyển một thông điệp của cá nhân Tổng Thống Bush đến Thủ Tướng lâm thời Ibrahim al-Jaafari. Theo ông Taki, một vị phụ tá cao cấp của ông Abdul-Aziz al-Hakim, lănh tụ khối Shiite th́ ông Đại Sứ Khalilizad nói rằng Tổng Thống Bush “không muốn, không ủng hộ, không chấp nhận” ông (Ibrahim) al-Jaafari làm thủ tướng.” 

 

(Nguyên văn: “The ambassador, Zalmay Khalilizad, told the head of the main Shiite political bloc at a meeting Saturday to pass on a “personal message from President Bush” to interim Prime Minister Ibrahim al-Jaafari, said Redha Jowad Taki, a Shiite member of Parliament who was at the meeting. Khalilizad said Bush “doesn’t want, doesn’t support, doesn’t accept” al-Jaafari to be the next prime minister, according to Taki, a senior aide to Abdul-Aziz al-Hakim, the head of the Shiite bloc."3

   

   2.- Chính quyền nổi gồm có:

 

   a.- Hành pháp tức là chính phủ Sàig̣n gồm có tổng thống và các nhân vật nắm giữ các bộ và trong hội đồng chính phủ các cơ quan đặc biệt trong chính quyền. Người lănh đạo ngành hành pháp vừa phải được Hoa Kỳ chấp thuận, vừa phải được Hội Đồng Giám Mục tuyển chọn hay đồng ư và phải là tay sai đắc lực của Hội Đồng Giám Mục hay là con cờ rất hữu ích cho Vatican trong một giai đoạn lịch sử.

 

   b.- Lập pháp tức là quốc hội.

 

   c.- Tư pháp tức là các ṭa án.

 

   Tất cả các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp đều có nhiệm vụ phải tuân hành những chỉ thị của chính phủ ch́m và thi hành nhiệm vụ theo đúng đường lối của chính phủ ch́m đă hoạch định và ban hành, nhưng cũng phải tuân hành lệnh truyền của chính phủ Hoa Kỳ. Thường thường, những dân biểu trong Quốc Hội trong thời chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đ́nh Diệm và các thượng nghị sĩ và dân biểu trong quốc hội lưỡng viện trong thời chế độ quân phiệt Da-tô Nguyễn Văn Thiệu đều hoặc là tay sai của hành pháp hoặc là bị hành pháp mua chuộc.

 

   Sự kiện này cho chúng ta thấy cả hai miền Bắc và Nam đều theo chế độ độc tài toàn trị và đều có hệ thống tổ chức song quyền như nhau. Tuy nhiên, có một sự khác biệt vô cùng quan trọng là ở miền Bắc, chính quyền ngầm chỉ đạo chính quyền nổi là một số đảng viên cao cấp trong Đảng Cộng Sản hành động hoàn toàn độc lập không tùy thuộc vào một quốc gia hay một thế lực của một ngoại cường nào cả, đặc biệt là họ đă hành động vô cùng khôn khéo và uyển chuyển đối với các cường quốc Cộng Sản như Liên Sô và Trung Quốc để bảo toàn chủ quyền độc lập của dân tộc. Lời nhận xét của ông Hoàng Nguyên Nhuận chủ bút báo điện tử Online www.chuyenluan.com mà chúng tôi đă trích nhận ở trong Chương 76 nói lên sự kiện này. Xin ghi lại đây mấy ḍng trong bản văn trích dẫn này để độc giả dễ dàng nhận ra sự thực này:

 

Việt Nam Cộng Ḥa được tiếng là quốc gia dân chủ tự do nhưng lại cũng từng là căn cứ chứa nửa triệu quân Mỹ! Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa được tiếng là nô lệ Nga-Hoa nhưng lại không hề có một căn cứ quân sự nào của Nga-Hoa trên đất liền, cũng như trong và sau khi sau chiến tranh chấm dứt rồi, Cam Ranh, Hạ Long, hay Động Hương Tích, Ba V́ vẫn không hề được nhường cho Nga-Hoa làm căn cứ để gọi là cám ơn các anh lớn…”4

 

   Trái lại, ở miền Nam, chính phủ ngầm là một nhóm tu sĩ cao cấp tay sai của Giáo Hội triệt để vâng lời và tuân hành những chỉ thị hay những lệnh truyền của Vatican để biến miền Nam thành một vương quốc Ki-tô đúng như tinh thần của Sắc Chỉ Romanus Pontifex được ban hành vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Việc chính quyền Sàig̣n triệt để thi hành lệnh sử dụng danh xưng “Công Giáo” thay thế các danh xưng Da-tô, Ki-tô, Cơ Đốc và Thiên Chúa Giáo La Mă trong các văn thư hành chánh, sách giáo khoa, ấn phẩm văn hóa, trên các báo chí va và trong các tài liệu truyền thông (sẽ được nói rơ trong mục nói về lănh đạo), việc Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tổ chức buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2/1959 rồi mời vị khâm-sứ đại diện của Vatican là Hồng Y Agagianian đến chủ tế buổi lễ dâng nước Việt Nam cho Vatican dưới danh nghĩa là Đức Mẹ Vô Nhiễm, và việc bảo quản khối ruộng đất khổng lồ 370 ngàn mẫu Anh của Giáo Hội La Mă ở miền Nam, v.v…, tất cả là bằng chứng bất khả phản bác cho vấn đề này. 

 

   Đồng thời chính quyền nổi miền Nam cũng phải triệt để tuân hành những chỉ thị của chính quyền Hoa Kỳ.

 

   Nói tóm lại, chính quyền miền Bắc là chính quyền của một quốc gia độc lập v́ đă bảo vệ được chủ quyền độc lập của dân tộc, trong khi đó th́ chính quyền miền Nam chỉ là một chính quyền làm tay sai cho cả Vatican và Hoa Kỳ. 

 

3.- CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

HAY LƯ TƯỞNG THEO ĐUỔI

 

   Theo Việt Nam Tự Điển của học giả Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu biên soạn th́ “Chính nghĩa là nghĩa vụ chính đáng, việc làm đúng với lẽ phải.”

 

   Theo Hán Việt Từ Điển của học giả Đào Duy Anh th́ “Chính nghĩa là đạo-lư chính-đáng có nghĩa như chữ công đạo (justice)

 

   Theo Tự Điển Pháp Việt Phổ Thông của cụ Đào Văn Tập th́ “justice là sự, tính công bằng, công minh chính trực, công lư, chính nghĩa, chính đạo,… En bonne justice: theo lẽ công bằng, agir avec justice: hành động theo chính nghĩa.”

 

   Căn cứ vào những định nghĩa trên đây, chúng ta thấy “chính nghĩa là nghĩa vụ chính đáng, là lẽ phải, là sự công minh chính trực hay sư công bằng.” Đề tài được nêu lên trong mục này là “chính nghĩa dân tộc” nghĩa là nói đến “cái nghĩa vụ chính đáng hay việc làm công minh chính trục đối với toàn thể nhân dân của cả nước mà không thiên vị hay trục lợi cho một cá nhân hay phe đảng hoặc một tôn giáo nào cả.”

 

   Vậy những việc làm như thế nào mới được gọi là những việc làm chính đáng cho toàn thể nhân dân của cả nước?

 

   Xin thưa nhiều lắm. Dưới đây là một số những việc làm chính đáng được coi là có chính nghĩa dân tộc và một vài trường hợp ngược lại được gọi là mất chính nghĩa hay phản dân tộc.

 

   1.- Khi đất nước bị quân xâm lăng tấn công, chính quyền đương thời hay các tổ chức nhân dân đem quân ra chống trả, đẩy lui quân giặc để bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ quốc gia, để tránh cho nhân dân khỏi bị giết hại, tài sản của họ khỏi bị cướp đoạt, và mùa màng của họ khỏi tàn phá. Việc làm này được gọi là chính đáng và là có chính nghĩa dân tộc.

 

   2.- Trái lại, là người lănh đạo quốc gia gặp phải lúc quân xâm lăng tấn công, thấy rằng thế giặc mạnh, chống không nổi, đành phải buông súng đầu hàng và chấp nhận hết tất cả những điều kiện của giặc đưa ra miễn là được giặc giữ lại làm bù nh́n hay aay sai cho giặc trong việc thống trị và bóc lột nhân dân. Làm như vậy gọi là bất chính, tức là vừa làm mất chính nghĩa, vừa có tội với lịch sử và không c̣n có tư cách ngồi lại ở ngôi vị lănh đạo đất nước. Đây là trường hợp của các vua nhà Nguyễn từ thời Tự Đực trở về sau.

 

   3.- Khi đất nước bị mất chủ quyền, nằm dưới ách thống trị của người ngoại bang, cá nhân hay thế lực nào huy động được nhân dân hăng hái tham gia vào lự lượng nghĩa quân đánh đuổi được kẻ thù ra khỏi lănh thổ, giành lại quyền độc lập cho dân tộc, th́ cá nhân hay thế lực đó đă làm được việc chính đáng rất vĩ đại đối với cả nước hay có đại công với dân tộc. Đây là trường hợp của Vua Ngô Quyền vào năm 939, trường hợp của vua Lê Lợi trong những năm 1418-1427, của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh dưới quyền lănh đạo của ông Hồ Chí Minh trong những năm 1945-1954.

 

   4.- Trái lại, khi đất nước bị quân giặc xâm lăng hay nằm dưới ách thống trị của người ngoại bang, cá nhân hay phe nhóm nào v́ quyền lợi riêng tư của cá nhân hay của phe nhóm hoặc tôn giáo của ḿnh mà nhẩy ra làm tay sai, làm thông ngôn, đưa đường dẫn lối, tiếp tay cho giặc tấn công các lực luợng pḥng thủ, truy lùng các lực lượng kháng chiến hay nhẩy ra làm việc hay làm quan cho giặc trong bộ máy quản trị và đàn áp nhân dân, th́ gọi là những quân nội gian, những quân phản quốc, phản dân tộc v́ họ đă làm những việc làm bất chính, đại gian, đại ác, có nguy hại đế quyền lợi tối thượng của đất nước. Đây là trường hợp của một nhóm thiểu số người Việt bị các ông truyền giáo Da-tô mê hoặc rồi lùa vào cáo tḥng lọng Da-tô (Catholic loop) và bị nhồi sọ thành những hạng người “thà mất nước, chứ không tà mất Chúa”, tuyệt đối vâng lời và tuân hành lệnh truyền các đấng bề trên của họ để chống lại tổ quốc và dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay. Con số những hạng người khá nhiều, cả đến những ông vua trong triều đ́nh Huế như Đồng Khánh, Thành Thái, Khải Định và Bảo Đại cũng thuộc những hạng người này. Các ông vua này được là vua bù nh́n hay vua gỗ. Cụ Phan Chu Trinh mắng thẳng vào mặt Vua Khải Định lúc tên vua gỗ này đến Paris vào năm. Ngoài mấy ông vua gỗ ở trong triều đ́nh Huế ra, những tên Việt gian nổi bật nhất trong thời kỳ này Trương Như Cương, Nguyễn Hữu Độ, Trần lục, Trần Bá Lộc, Pétrus Trương Vĩnh Kư, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Thân, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Trường Tộ, Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu, Hoàng Gia Mô, Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Bá Ṭng, Nguyễn Duy Hàn, Vi Văn Định, Cung Đ́nh Vận, v. v…

 

   Ở Pháp, khi bị quân Đức Quốc Xă xâm lăng vào năm 1940, có một số người v́ quyền lợi cá nhân hay phe nhóm trong đó có Thống Chế Pétain, nhẩy ra cộng tác với Đức Quốc Xă thành lập chính quyền thân Đức đóng đô ở Vichy. Dân Pháp gọi những người này là Pháp gian.

 

   Ở Trung Hoa, khi người Măn thanh xua quân tiến vào đánh chiếm Trung Hoa lập nên nhà Thanh (1636-1911), có Ngô Tam Quế và một số người Trung Hoa nhẩy ra giúp cho người Măn Thanh tấn công và củng cố quyền lực ở Trung Hoa. Người Trung Hoa, gọi Ngô Tam Quế và những người này là những quân Hán gian. Trong những năm 1937-1945, khi quân Nhật tấn công Trung Hoa và chiếm đóng một số lớn thành phố lớn dọc theo vùng ven biển Thái B́nh Dương. Tṛng thời gian này, có một số người Trung Hoa trong đó có Uông Tinh Vệ, nhẩy ra tiếp sức cho người Nhật trong việc tất công và củng cố quyền lực ở Trung Hoa. Tất cả những người này đều là những hạng người bất chính và đều bị người Trung Hoa gọi là Hán gian.

 

   5.- Khi đất nước bị chia hai hay nhiều vùng, mỗi vùng nằm dưới quyền cai trị của một cá nhân hay một thế lực. Cá nhân hay thế lực nào có chủ trương thống nhất đất nước và cương quyết theo đuổi chủ trương này bằng bất cứ giá nào, th́ cá nhân hay thế lực đó được coi là có chính nghĩa, có đại công với đất nước, sẽ được suy tôn là cứu tinh của dân tộc và sẽ được đời đời kính mến và ngưỡng vọng. Những nhân vật như Abraham Lincoln (1809-1865) của Hoa Kỳ, Otto Eduart Leopold Bismarck (1815-1898), Giuseppe Garibaldi (1807-1882) của nước Ư, Đinh Bộ Lĩnh (924-979), Nguyễn Huệ (1753-1792), Hồ Chí Minh (1890-1969) của Việt Nam ở vào trường hợp này.

 

   6.- Một chính quyền có chính nghĩa dân tộc khi chính quyền đó thực hiện được những cải cách chính trị như tôn trong quyền sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc của nhân dân, thực hiện được những tiến bộ xă hội như phổ thông hóa giáo dục, phổ thông hóa y tế, trợ cấp một số ngân khoản hàng tháng cho những gia đ́nh đồng con nghèo khổ, những người già yếu, những cô nhi, quả phụ, những người ốm đau, tàn tật và trợ cấp phiếu y tế miễn phí cho họ trong trường phải đi thăm bác sĩ, phải điều trị tại bệnh viện và tiền thuốc trị bệnh.

 

   Trên đây là một số trường hợp được coi là có chính nghĩa dân tộc. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng tổ chức chính trị nào có chính nghĩa dân tộc th́ sẽ được dân thương dân mến, nhiệt liệt ủng hộ và tích cực tham gia. Ngược lại, tổ chức chính trị nào không có chính nghĩa dân tộc (phi dân tộc), th́ không những sẽ không được nhân dân ủng hộ, mà c̣n bị phỉ nhổ và bị chống đối đến cùng. Đây là quy luật lịch sử. Chúng ta hăy t́m hiểu vấn đề này ở nơi chính quyền miền Bắc và chính quyền miền Nam trong những năm 1954-1975 để kiểm chứng quy luật lịch sử này.

 

   A.- Miền Bắc: Chính quyền Miền Bắc xuất phát từ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh. Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh có chủ trương đặt quyền lợi của tổ quốc và dân tộc lên trên hết, đặc biệt là có chủ trương phục vụ cho quyền lợi của đại khối nhân dân bị trị trong đó đại đa số là nông dân và công dân lao động. Trong thời “trăm năm nô lệ giặc Tây’, hai giai cấp này bị bóc lột nhiều nhất và là những thành phần đă từng có những thân nhân chết đói trong mùa xuân năm Ất Dậu 1945. Mục tiêu đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh là giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Liên Minh Pháp – Vatican. Mục tiêu này được tiến hành song song với cuộc cách mạng chính trị, hủy bỏ chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền lỗi thời để cởi bỏ cho nhân dân cái gánh nặng làm tôi thần (subject) đối với một ông vua (monarch), đúng hơn là một bạo chúa (tyrant), và cởi bỏ cho những người cuồng nô vô tổ quốc cái tinh thần nô lệ làm tôi tớ hèn mọn cho Ṭa Thánh Vatican. Sau đó, họ sẽ tiến hành cách mạng xă hội và kinh tế để xoá bỏ những tàn tích đế quốc thực dân và phong kiến của thời “trăm năm nộ lệ giặc Tây” hầu mang lại công bằng về kinh tế trong nông thôn. Việc giải phóng dân tộc và cách mạng chính trị mới chỉ hoàn thành được ở miền Bắc vào tháng 7 năm 1954. Cuộc cách mạng xă hội cũng đă hoàn tất vào cuối thập niên 1950. Về việc thống nhất đất nước, mới đầu, miền Bắc trông cậy vào cuộc bầu cử sẽ đươc tổ chức vào tháng 7 năm 1956 trên toàn quốc như Hiệp Định Genève 1954 đă quy định. Nhưng v́ chính quyền đạo phiệt miền Nam và Hoa Kỳ từ chối thẳng thừng, khiến cho Việt Nam không thể thống nhất bằng tổng tuyển cử. V́ vậy, cuối năm 1960, miền Bắc phải quyết định phát động cuộc chiến thống nhất đất nước. Đối với nhân dân Việt Nam, đây là một cuộc chiến có chính nghĩa v́ nó đă đáp ứng được khát vọng của dân tộc.

 

   Đảng Cộng Sản Việt Nam hay Mặt Trận Việt Minh trong thời 1945-1954 và chính quyền miền Bắc trong những năm 1954-1975 chính là chính quyền Việt Nam hiện nay. Phần trên đây đă nói rơ Đảng Cộng Sản Việt Nam và Mặt Trận Việt Minh trong những năm 1945-1954 và chính quyền miền Bắc trong những năm 1954-1975 có chính nghĩa dân tộc với những chiến công hiển hách là đánh tan được Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican, khiến cho Đế Quốc Thực Dân Pháp phải công nhân chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam và phải cuốn gói ra đi; rồi trong những năm 1954-1975 chính quyền miền Bắc lại phát động cuộc chiến đánh phá tan được Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican khiến cho că Mỹ và Vatican đều phải cuốn gói ra đi và công nhận chủ quyền độc lập với sự toàn vẹn lănh thổ dân tộc ta. Như ậy là suốt trong chiều dài lịch sử từ năm 1945 cho đến 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam hay Mặt Trận Việt Minh tức là chính quyền Việt Nam hiện nay đă hoàn thành được hai nhiệm vụ lịch sử là đánh đuổi quân thù xâm lược ra khỏi lănh thổ giành lại chủ quyền độc lập cho tổ quốc tộc và thống nhất đất nước. Ngoài việc hoàn thành hai nhiệm vụ lịch sử vĩ đại trên đây, chính quyền hiện nay đă thực hiện được tiến bộ về xă hội, giáo dục và dân sinh để theo kịp đà tiến hóa của nhân loại. Sự kiện này được ông Hoàng Văn Giầu ghi nhận trong tờ báo đỉện tử nhận www.chuyenluan.com với nguyên văn như sau:

 

Chế độ hôm nay là lịch sử rồi. Và công tội lịch sử là điều hiển nhiên. Điều hiển nhiên đó là chế độ này đă chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, triệt hạ độc quyền kinh tế của Hoa kiều, độc quyền văn hóa giáo dục của Vatican, đă phổ thông hóa giáo dục và y tế, đă nâng địa vị xă hội của phụ nữ. Chế độ này đă đánh Pháp, đánh Mỹ, và khi cần cũng dám đương cự với Trung Quốc. Quyền lực quốc gia thu hồi về tay người Việt. Quyền lực nào cũng có cái quá đà và lạm dụng, chế độ hôm nay không phải là hoàng kim Nghiêu Thuấn. Nhưng xét tội th́ cũng phải xét công, và muốn đối lập th́ phải cho ra đối lập, phê phán cho ra phê phán, v́ đối lập càng lếu láo bậy bạ chỉ tổ biện minh cho độc tài. Đối lập đối kháng không phải là mở miệng ra th́ phải d́m đối phương xuống bùn đen mà quên rằng càng hạ nhục kẻ thắng ḿnh th́ chỉ làm cho thất bại của ḿnh thêm ê chề nhục nhă, để rồi càng nhục nhă càng chạy tội đổ vấy cho kẻ khác.” 5

   

   B.- Miền Nam: Các chính quyền Miền Nam không có lư tưởng ǵ cả v́ những người lănh đạo của các chính quyền này là do Liên Minh Pháp – Vatican và Liên Minh Mỹ - Vatican đưa lên cầm quyền để làm tay sai thi hành những chính sách của họ. Lời tuyên bố tự thú “tin tưởng tuyệt đối vào quyền lực của Vatican và ông chống Cộng cực lực” của Ngô Đ́nh Diệm với các chính khách Hoa Kỳ trong một bữa cơm chiều tại Khách Sạn Mayflower ở Washington D.C. vào tháng 10 năm 1950,6 và lời tuyên bố, “Nếu Hoa Kỳ c̣n tiếp tục viện trợ th́ tôi sẽ c̣n chiến đấu” của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào tháng 4 năm 1975 là những bằng chứng rơ ràng nhất cho sự kiện này.

 

   V́ do hai thế lực Mỹ và Vatican đưa lên cầm quyền, cho nên các nhà lănh đạo chính quyền miền Nam bắt buộc phải đặt quyền lợi của Giáo Hội La Mă và của Hoa Kỳ lên trên hết, luôn luôn đứng vào thế đứng của Vatican và Hoa Kỳ để phục vụ cho quyền lợi của Vatican và Hoa Kỳ. V́ thế mà sau khi đă nắm quyền rồi và thấy rằng t́nh h́nh đă ổn định, ông Ngô Đ́nh Diệm liền cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 rồi mời vị Khâm Sử của Toà Thánh Vatican tại Sàig̣n là Hồng Y Agagianian đến làm chủ lễ để dâng nước Việt Nam cho Vatican dưới danh nghĩa là “Đức Mẹ Vô Nhiễm”.7

 

   Vatican chủ trương duy tŕ Việt Nam măi măi ở trong t́nh trạng chia đôi để biến miền Nam thành một quốc gia theo đạo Ki-tô với những tập tục, lễ nghi sặc mùi phong kiến, biến người dân thành những người nô lệ cho tôn giáo, cam phận làm tôi tớ hèn mọn của Toà Thánh Vatican, và Hoa Kỳ cũng chủ trương như vậy để biến miền Nam thành tiền đồn ngăn chặn phong trào Cộng Sản đang lan tràn từ miền Bắc, th́ các chính quyền đạo phiệt miền Nam cũng phải tuân lệnh Vatican và Hoa Kỳ bằng cách chống lại việc tổ chức tổng tuyển thống nhất đất nước. Hành động như vậy tức là miền Nam tự đặt ḿnh vào cái thế phi chính nghĩa và phản dân tộc.

 

   Kết luận, miền Bắc có chính nghĩa v́ đă có công giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và phá tan được Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp – Vatican, rồi sau đó lại cương quyết theo đuổi chủ trương tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất theo đúng khát vọng thống nhất đất nước của dân tộc. Miền Nam không có chính nghĩa v́ nhiều yếu tố. Có nhiều yếu tố nói lên tính cách bất chính của các nhà lănh đạo cả về quá tŕnh hoạt động lẫn chính sách theo đuổi khi cầm quyền. Dưới đây là một số trong những yếu tố này:

 

   1.- Vốn là những người đă từng làm tay sai bán nước cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp- Vatican và Liên Minh Đế Xâm Lược Mỹ - Vatican, rồi được Vatican và Pháp hay Mỹ đưa lên cầm quyền để làm tay sai cho các đế quốc này.

 

   2.- Đă có những thành tích chống lại tổ quốc và dân tộc, chống lại các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong thời Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican 1858-1945 và trong thời Kháng Chiến 1945-1954.

 

   3.- Từ chối, nhất định không đồng ư tổ chức tổng tuyển cử vào tháng 7/1956 để thống nhất đất nước.

   4.- Hoàn toàn thụ động và luôn luôn hành động theo lệnh truyền của chính quyền Hoa Kỳ và Ṭa Thánh Vatican.

 

   Nói cho rơ, chính quyền miền Nam là công cụ do Hoa Kỳ và Ṭa Thánh Vatican tạo dựng nên để phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Vatican. Khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, Liên Minh Mỹ - Vatican đến thay thế Liên Minh Pháp – Vatican, th́ cái gọi là “Chính Quyền Quốc Gia” trong thời 1948-1954 được đổi danh xưng là Chính Quyền Việt Nam Cộng Ḥa. Đồng thời, đạo quân đánh thuê cho Liên Minh Pháp – V atican trong thời 1946-1954 được Hoa Kỳ hứng lấy, đổi tên là Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, rồi được Hoa Kỳ huấn luyện, trang bị, nuôi ăn, trả lương hàng tháng để phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ và quyền lợi của Vatican.

 

   Với t́nh trạng như vậy, miền Nam làm sao có thể tạo nên chính nghĩa dân tộc để đương đầu với miền Bắc?

 

1 Hà Mai Phương, Địa Lư Việt Nam (San Jose, CA: Mai Hiên, 1979), tr. 15.

 

2Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập I (Los Alamitos, CA: Xuân Thu, 1989), tr. 428.

 

3Edward Wong “U.S. pushes for different Iraqi leader.” The News Tribune [Tacoma, WA.] Wesdenday, 29, 2006, Morning Edition: A3. 

 

4 Hoàng Nguyên Nhuận. “Để thay lời chúc Tết: GIĂ TỪ HOA GIÁP ẤT DẬU 1945-2005.” www.chuyenluan.com Ngày 30/1/2006.

 

5 Hoàng Nguyên Nhuận. “Xin Thưa Cùng Anh Chị Emwww.chuyenluan.com Ngày 9/9/2006.

 

6 Lê Hữu Dản, Sự Thật - Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA: TXB, 1997), tr. 23.

 

7Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie, 1978), tr. 126-127

 

Trích giaodiemonline.com

NDVN, ngày 16/11/05

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend