NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI - Nguyễn Thị Ngọc Hải (Tập I)


Thiếu Tướng Anh hùng LLVT, Phạm Xuân Ẩn 

 

Tiễn Bạn

                                          

Đời người t́nh báo thế là xong

T́nh dân, nghĩa Đảng, nợ non sông

Làm trai trong suốt thời ly loạn

Anh thật xứng danh một anh hùng

Xuân Ẩn từ nay ẩn thật rồi

Bạn bè thương tiếc măi khôn nguôi... 

 

Cụm trưởng t́nh báo chiến lược H63

Tư Cang Nguyễn Văn Tào

 

               

    

Lễ truy điệu - động quan – vĩnh biệt  thiếu tướng, Anh hùng LLVT Phạm Xuân Ẩn

 

TIỄN ĐƯA NHÀ T̀NH BÁO LỖI LẠC PHẠM XUÂN ẨN

 

Dù vẫn biết những tin tức về áp thấp nhiệt đới, nhưng những người đến dự lễ tang Thiếu tướng, Anh hùng LLVT Phạm Xuân Ẩn sáng 23-9 vẫn không thể không liên tưởng giữa những phút chia tay cuối cùng với cơn mưa dai dẳng khác thường buổi sáng...

 

>> Thiếu tướng t́nh báo Phạm Xuân Ẩn qua đời
>> Một người Việt Nam trầm lặng
>> Làm phim về Phạm Xuân Ẩn
>> Người Việt thầm lặng

 

Ông Tư Cang (Đại tá Nguyễn Văn Tào), cụm trưởng t́nh báo chiến lược, người bạn già thân thiết với những thú chơi chim, nuôi chó của ông Ẩn, ngậm ngùi viết hẳn một bài thơ “Chim ngưng hót, chó tru buồn/ Nền trời u ám, giọt mưa tuôn/ Tôi đến tiễn anh ḷng nặng trĩu/ Nhớ đoạn đời qua giữa Sài G̣n…”.

 

Nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt, ông Mười Hương (Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng) lại đến lần nữa trong mưa, thắp nén hương cuối cùng lưu luyến. Đứng trên sân nhà tang lễ, hai ông cùng một nhận định “Chiến thắng rỡ ràng của chúng ta, ông Ẩn đă đóng góp một phần rất lớn bằng những tài liệu tối quan trọng, những phân tích chiến lược sắc bén, những dự báo quân sự, chính trị thiên tài”. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Tổng cục trưởng Tổng cục 2 không giấu được xúc động trong bài điếu văn không mấy đậm màu quân sự “Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn là một trong số ít những ngôi sao sáng nhất của ngành t́nh báo. Nay ông đă về với tiền nhân, ngôi sao sáng đă trở về hội tụ cùng cḥm sao sáng, chúng tôi không biết nói ǵ hơn ngoài sự tiếc thương…”.

 

Các nhà báo, nhà văn, đạo diễn đă từng được làm việc, tiếp xúc và t́m hiểu về con người Phạm Xuân Ẩn sáng nay đều có vẻ cuống quít, mất b́nh tĩnh. Lúc cười, lúc khóc, họ nói với bất kỳ ai bên cạnh “Không biết bao giờ mới t́m lại được một người có nhân cách lớn như vậy”. Ấy là họ không chỉ nhắc đến những chiến công t́nh báo, mà là đến sự hết ḷng của ông với bạn bè, thái độ cương quyết bảo vệ nguồn tin, tâm thế ung dung, tự tại của ông trước những góc khuất của cuộc đời...

 

Một nhà t́nh báo lỗi lạc, một nhà báo xuất sắc, một nhân cách đáng ngưỡng mộ, và c̣n nhiều nữa những điều rất nhiều người chưa hiểu và muốn hiểu về ông. Tiễn đưa ông không chỉ có người thân, bạn bè, đồng đội mà có cả những người dân vừa đọc báo, vừa được biết có một nhà t́nh báo như thế. Ai cũng hẫng hụt…

 

Như lời thơ của ông Tư Cang “Xuân Ẩn từ nay ẩn thật rồi/ Bạn bè thương tiếc măi không thôi/ Riêng tôi nhớ măi người đồng chí/ Dũng cảm, thông minh giữa cuộc đời…”.

 

Dù ông rất lặng lẽ, rất “ẩn” như chính tên ḿnh, nhưng với những ǵ ông đă cống hiến, đă sống, mọi người sẽ không bao giờ quên.

 

P. VŨ – TuổitrẻOnline ( ngày 24/9/06)

 

 

 

PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI

(TẬP I)

 

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải 

(Trích Phóng Sự - Kư Sự của Tuổi Trẻ Cuối Tuần Online - kỳ 1 đến kỳ 10)

 

 

 

  

Thiếu Tướng T́nh Báo Phạm Xuân Ẩn - Ông Là Ai?

 

 

Thiếu tướng t́nh báo, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Phạm Xuân Ẩn.sinh ngày 12-9-1927 tại Biên Ḥa và mất ngày 20-9-2006 tại TP.Hồ Chí Minh, hưởng thọ 80 tuổi.

 

Những ngày này, trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, một số hăng thông tấn nước ngoài đều đưa tin nhà t́nh báo vĩ đại, tầm cỡ thế giới, nhà báo chuyên nghiệp đă ra đi.

 

Những nhân vật nổi tiếng thường chinh phục người khác bằng tài năng của chiến công, nghị lực và sức tỏa sáng từ phẩm chất của họ. Nhưng với Phạm Xuân Ẩn, h́nh như là một ngoại lệ. Trông bề ngoài ông cũng như bao người b́nh thường khác, thật khó phát hiện điều ǵ ẩn chứa bên trong.

 

Năm 2002, sau gần 10 năm tiếp cận ông Ẩn, nhà báo, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải đă hoàn thành cuốn sách về ông với tựa đề Phạm Xuân Ẩn - Tên người như cuộc đời. Tác giả đă đi vào chiều sâu tinh tế rất khó lột tả về tư chất, phong thái, nghề nghiệp ở ông.

 

Vẻ thầm lặng đôi lúc hài hước của ông có cái ǵ đó rất đặc biệt. Cuốn sách đă phác họa chân dung với đầy đủ ư nghĩa cao quư của con người như lúc sinh thời ông Ẩn thường  tâm niệm: Tôi chiến đấu cho độc lập và công lư xă hội.

 

Trong sách có đoạn viết: “Vị tướng đă yếu do bệnh và tuổi cao. Dáng đi của ông hơi c̣ng xuống, do cao gầy, hay là do thân thể ấy đă mang vác một cuộc đời quá phong phú và gian truân. Chỉ vẻ mặt, đôi mắt to đen, thông minh và đôi tai to, người trong nghề nhạc gọi là đôi tai thẩm âm tốt, làm toát lên vẻ linh hoạt trẻ trung của một trí tuệ vẫn mạnh mẽ”.

 

Cùng chung một cảm nhận với nhà báo, nhà văn Ngọc Hải, năm 2005, Jean-Claude Pomonti, nhà báo Pháp kỳ cựu của nhật báo Le Monde, người nhiều năm quen biết, tác nghiệp cùng ông Ẩn đă viết cuốn sách về ông với tựa đề: Người Việt thầm lặng (Nhà xuất bản Editions des Equateurs) đánh giá rất cao phẩm chất làm báo của ông Ẩn. Hơn thế, từ vỏ bọc một nhà báo chuyên nghiệp ở văn pḥng tạp chí Time, ông Ẩn đă làm nên sự bất ngờ, bởi chiến công của nhà t́nh báo chiến lược trong cuộc chiến tranh Việt Nam. “Phạm Xuân Ẩn, người Việt Nam mà phía Mỹ ưa chuộng nhất đă lừa chính quyền Hoa Kỳ từ đầu đến cuối”.

 

Với trên 200 trang sách, Phạm Xuân Ẩn - Tên người như cuộc đời, một cuốn truyện kư văn học của Nguyễn Thị Ngọc Hải lần đầu tiên đă giới thiệu con người này với công chúng. Sau đó có các nhà văn, nhà báo trong và ngoài nước đă và sẽ viết về ông. Nhưng với tác phẩm này, đă gây được dấu ấn đối với bạn đọc, đặc biệt trong giới chính trị, quân sự, t́nh báo và với những người viết văn. Cuốn sách đă đoạt giải thưởng loại A của “Giải thưởng văn học về đề tài V́ an ninh Tổ quốc và b́nh yên cuộc sống 1995-2005” do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức.

 

Rất nhiều bạn đọc đă đề nghị chúng tôi cung cấp thêm thông tin về con người vĩ đại mà bí ẩn này. Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin giới thiệu lần lượt từng chương sách. Hy vọng với bút lực của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, bạn đọc sẽ được gặp gỡ Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn trong cuộc đời, như một con người bằng xướng bằng thịt.

 

 

 

 

Phạm Xuân Ẩn : 30 Năm Vẫn C̣n Là Bí Mật

 

 

Peter Ross Range - “burô”, sếp của ông thời kỳ ở Việt Nam khi ông làm cho tờ Time đă nghĩ ra hẳn tên một cuốn sách để khuyến khích ông viết lại cuộc đời ḿnh. Nếu không có câu chuyện của anh, một mảnh quan trọng của lịch sử sẽ bị thiếu - Peter viết - Không ai có một câu chuyện như anh để kể lại: làm việc trong một cơ quan báo chí Mỹ trong khi cung cấp tin tức cho miền Bắc. Không ai có một cuộc đời như đời anh, tham gia Việt Minh ở một lứa tuổi rất trẻ - Một câu chuyện lư thú biết bao!

Phóng viên AP Richard Pyle gặp ông Ẩn năm 2000

 

 

Peter thuyết phục một cách đầy hứng khởi. Ông ta c̣n đề nghị cái tựa cho quyển sách ấy: A man of honor: The life of Pham Xuan An.

 

Bây giờ Peter đi dạy học và viết sách: Khi Miền Nam giải phóng, ông ta về nước, dẫn theo cô bồ người Việt. Trong khoảng thời gian dài sau này h́nh như họ đă ly dị. Th́ Phạm Xuân Ẩn, năm nay cũng đă ngoài 70, vẫn tính hài hước đặc sắc: “Thành họ nhà ma rồi c̣n ǵ” - Thời gian đang trôi nhanh. Nói như triết, th́ chẳng có ǵ mất đi hết, mặc dù chẳng có cái ǵ tồn tại măi. “Chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Các yếu tố tinh thần có như vậy không? Nó có chuyển các đặc điểm của ḿnh vào các thế hệ sau? Hay là nó mang đi theo các người già nằm xuống? Có người không chịu viết hồi kư, v́ dù có khách quan đến mấy th́ cũng viết về ḿnh - Mà con người ta thường nhớ kỹ những điều hay, quên đi điều dở… Nhưng cuộc đời của vô số trong số họ, đă là tài sản tinh thần, là những số phận cụ thể không có viện bảo tàng nào giữ được, nếu họ không ghi lại… Rồi đến con cái cũng chẳng hiểu ngày xưa bố mẹ ḿnh làm ǵ. Đó là những lư thuyết đối chọi nhau trong việc viết hồi kư.

 

Với Phạm Xuân Ẩn, lư do cũng mang đậm màu sắc khó tả: Ông không viết hồi kư, từ chối tất cả các cuộc gặp gỡ báo chí để viết về ông. Tuy nhiên ông sẵn sàng gặp với tư cách đồng nghiệp hay t́nh bạn. Vừa mang đặc điểm thận trọng của nghề t́nh báo, vừa là ư thích của một “ông già” tự thấy cần một cuộc sống thanh thản. Luôn tự trào, nh́n mọi việc bằng cái nh́n hài hước: “Chẳng có ông già nào không bảo thủ hết. Thay đổi là khó chịu. Dọn nhà là khổ. Tụi trẻ đang lên, anh này lấy cô kia, chẳng sợ thay đổi. Nó chưa trải. Hồi nhỏ ḿnh bạt mạng, nay thấy con cái bạt mạng lại không cho. Th́ mày trả giá bằng cuộc đời mày. Học bài người khác trả tiền hơn là học bài ḿnh trả…”

 

Ông đă trải đời ḿnh cùng với lịch sử kháng chiến của Việt Nam, là quân nhân trong ba quân đội khác nhau. Tham gia Vệ quốc đoàn khi 18 tuổi, bị trả về v́ thiếu súng đạn, vũ khí lúc đó dành cho thành phần cơ bản. Ông ḥa vào phong trào học sinh sinh viên Trần Văn Ơn tại Sài G̣n năm 1950.

 

Trở thành lính trong quân đội Pháp, không phải lính bộ binh, mà là bí thư cho trưởng pḥng lo về chính trị trong quân đội. Khi ḥa b́nh lập lại ở Đông Dương sau hội nghị Genève, Mỹ can thiệp dựng Ngô Đ́nh Diệm với chủ trương phá hoại Hiệp định, không chịu tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam sau hai năm như đă kư kết. Mỹ đổ tiền của vào Việt Nam để giúp họ Ngô đứng vững. Ba cơ quan như cái trụ ba chân được thành lập: Pḥng thông tin Mỹ (USIS), Quân sự (MAAG) và kinh tế hành chính (USOM). Đến năm 1962 USIS đổi tên là JUSPAO và MAAG lấy tên là MACV, USOM lấy tên là USAID. Ông Ẩn do có tiếng Anh và thạo nghề, nên lại trở thành nhân viên dịch thuật tại Bộ Tổng tham mưu, tham dự vào việc thành lập những sư đoàn đầu tiên do Mỹ tuyển chọn và đào tạo.

 

Năm 1957 ông là sinh viên Việt Nam đầu tiên đến học về báo chí ở quận Cam và sống ở California trong hai năm. Ngày nay trong cuốn niên giám của trường Đại học Columbia của Mỹ, ở trang 2 in h́nh và giới thiệu về chàng sinh viên Việt Nam với tên Pham An, như mọi cuốn kỷ yếu của các trường học. Nhưng không ai biết được ngoài việc học thực sự kiến thức, chàng sinh viên ấy đă trở thành Đảng viên Cộng sản từ năm 1953, được chính bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tuyển vào Chiến khu D từ 1952.

 

Phạm Xuân Ẩn tại Mỹ (1957-1959)

 

Sang Mỹ học, Ẩn c̣n có nhiệm vụ t́m hiểu về văn hóa Mỹ v́ Đảng đă nh́n thấy sự dính líu sâu sắc của Mỹ đối với Việt Nam. Muốn chiến thắng kẻ thù này, việc đào tạo những người có điều kiện như Ẩn, “chuyển qua làm với Mỹ, phải được đào tạo tŕnh độ phù hợp với yêu cầu của Mỹ”. Sau khi học ở Mỹ về, Phạm Xuân Ẩn hành nghề báo chí, từ Việt Tấn xă dưới thời Ngô Đ́nh Diệm, cho tới làm phóng viên cho các  hăng nước ngoài tại Việt Nam như Reuters, Time… Ông là người Việt Nam duy nhất vào biên chế của hăng nước ngoài với lương rất cao thời đó, 750 đô la một tháng. Phạm Xuân Ẩn hành nghề báo chí và trở thành kư giả thực sự có tên tuổi. Chỉ có điều khác lạ là ông c̣n trở thành một vị Thiếu tướng,  Anh hùng lực lượng vũ trang của Quân đội Nhân dân Việt Nam. 

 

V́ sao sau khi đất nước giải phóng, cả nước và thế giới biết rơ ông là t́nh báo, vậy mà người Mỹ trong giới báo chí hoạt động cùng thời với ông nay trở lại  Việt Nam vẫn đem ḷng tin tưởng và kính trọng ông? Đó là một nhân cách, một tài năng. Đời ông là một câu trả lời lớn cho nhiều câu hỏi vẫn làm đau đầu nhiều người bạn Mỹ của ông. Đến hôm nay họ quay lại đất nước này vẫn t́m ông để mong có câu giải đáp v́ sao Mỹ thất bại ở Việt Nam. V́ sao một trí thức giỏi và sống có nhân cách theo “kiểu Mỹ” như ông Ẩn lại có thể là người đứng trong tổ chức chặt chẽ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, của ngành t́nh báo vốn đầy hiểm nguy? Có những người Mỹ là bạn cũ  trong giới báo chí của ông, nay đă mất nhưng dặn lại con cái họ sang Việt Nam hăy t́m đến ông Ẩn. Họ nói sẽ học được nhiều ở con người đó. Quả thật, cuốn sách viết về ông nên có tên là “Người có cuộc đời bí ẩn như  cái tên” - chứ không cần đến cái tựa đề của Peter Ross Range đề nghị.

 

Bởi v́, cuộc đời ông không được ông viết ra bao giờ. Năm 1989, 14 năm sau ngày miền Nam giải phóng, Morley Safer chủ biên Chương tŕnh 60 phút nổi tiếng của đài truyền h́nh CBS đă trở lại Sài G̣n, gặp ông Phạm Xuân Ẩn như người bạn làm báo cũ trong thời kỳ chiến tranh. Cuộc gặp gỡ này đă được viết thành hẳn một chương trong cuốn sách Hồi tưởng: Khi trở lại thăm Việt Nam của Morley Safer do Nhà xuất bản Random House xuất bản năm 1989.

 

Hăy xem dưới mắt nhà báo phương Tây, ông Ẩn đă hiện ra như thế nào:

 

“Phạm Xuân Ẩn đang đứng nơi cổng sắt đă mở sẵn với một cặp chó Đức kèm sát bên. Ẩn và những con chó thân yêu của anh ta. Anh ta thường dắt chó đi khắp nơi, hay uống café buổi sáng ở khách sạn Continental với con chó Đức tḥ cái mơm đen ra khỏi gầm bàn. Anh ta tiến về phía tôi, mở rộng ṿng tay choàng ôm hôn, một cung cách ít thấy ở người Việt”.

 

Có lẽ Morley Safer đang sống lại những cảm xúc của một thời đă xa, khi họ c̣n làm báo ở Sài G̣n và Continental là nơi họ tụ họp mỗi buổi sáng vừa điểm tâm vừa trao đổi tin tức. Với Morley, lúc đó Ẩn là nhà báo thực thụ của tuần báo Time, người rất nhạy bén về các vấn đề thời cuộc, cả chính trị lẫn quân sự. Anh có nhiều mối quen biết quan trọng.

 

Lại lời Morley Safer: “Ở ṭa báo Time anh được coi là người khôn khéo. Ẩn luôn luôn được giao nhiệm vụ thuyết tŕnh cho nhóm phóng viên  mới tới. Và cũng chính anh ta là người gỡ mối cho những vấn đề chính trị rối mù của chính giới Việt Nam lúc đó. Anh là người cởi mở, dấn thân và có óc hài hước, luôn được niềm nở tiếp đón trong các giới quân sự và ngoại giao Việt - Mỹ và cũng là một trong số rất ít kư giả Việt được cho phép tham dự các buổi thuyết tŕnh hạn chế của phái bộ Mỹ”.

 

Khi Morley đến gặp Phạm Xuân Ẩn muốn có người cùng đi là Patti Hassler - nhà sản xuất Chương tŕnh 60 phút v́ Morley không muốn ghi chép như mọi lần hành nghề khác. Ông muốn có một nhân chứng cho cuộc gặp này, để mọi chi tiết đều được ghi nhớ. Morley đă bộc bạch cái cảm giác của người b́nh thường vẫn có khi bị làm nhân vật cho người khác phỏng vấn. Đấy là cảm giác rất thật mà dân nhà nghề đă quan sát được ở các nhân vật của ḿnh. Thật chẳng an tâm chút nào khi đang nói mà có người ghi chép, hoặc dễ sợ hơn nữa là có người dùng máy ghi âm. Và Morley đă gặp ông Ẩn trong tư thế những bạn bè cũ cùng nghề, trao đổi về thời cuộc.

 

“Ẩn rất ít thay đổi” - Morley viết - “Nay đă 61 nhưng trông anh vẫn ở cái tuổi cách đây 30 năm. Có thể nói dáng anh vốn ḷng kḥng nay thêm gầy đi và khô đét…”

 

Morley nói ông Ẩn c̣n là một bí mật. Thật ra điều đó chỉ đúng với cảm giác của Morley, c̣n với người Việt Nam th́ ông nếu có là một bí mật th́ chỉ là v́ ông ít bộc bạch cuộc đời ḿnh. Người Việt Nam đều biết ông là Anh hùng t́nh báo, một Thiếu tướng được kính trọng. Không ai c̣n hỏi như Morley hỏi hôm đó: “Anh đang c̣n là một bí mật. Dân chúng vẫn chưa biết chắc là anh hoạt động cho phe nào. Vậy sự thật ra sao?”

 

“Ẩn cười lớn: Sự thật? Sự thật nào mới được chứ? Có một sự thật là trong 10 năm tôi là phóng viên cho ṭa soạn tuần báo Time và trước đó làm cho hăng Reuters. Một sự thật khác nữa là tôi gia nhập phong trào cách mạng từ năm 1944 và là thành viên của họ từ đó với các chức vụ khác nhau. Hai sự thật, hai sự thật… đều thật”.

 

Trong cái nh́n của Morley, ông Ẩn là một sự bí ẩn, cũng khó giải thích và có những vấn đề chưa thể hiểu hết như chính cuộc chiến ở Việt Nam mà Mỹ thất bại. Vậy là đối với các kư giả Mỹ như thế này, nhiệm vụ của họ là “hai trong một”. Hiểu được những con người như Phạm Xuân Ẩn cũng có thể tiến gần tới việc hiểu v́ sao Mỹ thua cuộc. Và nếu nghề nghiệp thúc đẩy họ với bản chất nghề báo “A nose for news” th́ họ c̣n muốn biết hơn thế: Nh́n nhận con đường phát triển hiện tại của nước Việt Nam thông qua một con người đáng tin cậy. Ư muốn đó thôi thúc Morley do phẩm chất cá nhân, và cũng do sự khách quan của một kư giả lỗi lạc. Theo Morley, trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài G̣n, chính ông Ẩn là người đă thuyết phục giới chức Mỹ đem đi di tản một số bạn hữu của ḿnh rời khỏi Việt Nam. Ông Ẩn cũng thu xếp để vợ và 4 con lên máy bay, c̣n ḿnh th́ ở lại.

 

Nhà báo Morley sau gần 15 năm Sài G̣n được giải phóng, vẫn không hiểu làm thế nào ông Ẩn có thể giữ được bí mật tung tích riêng trong suốt thời gian đó. Ông Ẩn đă bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng ra sao? Ông phải làm nhiệm vụ ǵ trong suốt thời gian làm báo, và ông có “làm ǵ” trong báo Time không? Ông có cách nào chuyển tin tức đi? Ông có sợ ḿnh bị phát hiện không? Điều ǵ xảy ra sau cái hôm mọi người di tản? Tại sao cuộc cách mạng lại c̣n nhiều điều chưa thành công trong cải cách? Người ta có ŕnh rập ông không? Ông có được quyền ra đi không? Ông có bao giờ hối tiếc về những điều đă làm và bây giờ ông đă thấy kết quả?...

 

Chỉ xem qua những câu Morley hỏi cũng đủ biết người Mỹ c̣n vất vả, thậm chí có những điều họ sẽ không sao hiểu hết trong mọi câu trả lời của Phạm Xuân Ẩn. Dĩ nhiên, ông không trả lời theo công thức hoặc ít ra cũng là để “giữ ḿnh” một cách cần thiết. “Tại sao cuộc cách mạng gặp những thất bại?” Morley hỏi về những suy thoái và khó khăn trong cải cách hiện nay. Ông Ẩn không “sửa gáy” người hỏi để giữ cho ḿnh “có lập trường”. Ông đă nói thẳng thắn như xưa nay phân tích thực chất các hiện tượng một cách khách quan. “Có nhiều lư do. Có quá nhiều lỗi lầm chỉ v́ sự dốt. Như mọi cuộc cách mạng, chúng tôi gọi đây là cuộc cách mạng nhân dân, nhưng dĩ nhiên chính nhân dân là thành phần đầu tiên chịu khốn khổ”.

 

Ông cũng không ngại ngần nhận định: “Khi nào mà dân chúng c̣n ngủ đầu đường xó chợ th́ khi đó cuộc cách mạng c̣n thất bại. Không phải do giới lănh đạo là những người tàn nhẫn, nhưng đó là hậu quả của chính sách cha chú của nhân dân cũng như các lư thuyết lỗi thời về kinh tế”. Morley nhận thấy c̣n nhiều người nằm vỉa hè khi ông tản bộ trên đường phố Sài G̣n vào ban đêm. “Khi tôi đề cập điều này th́ Ẩn có vẻ bối rối như là chính anh đă tiếp tay cho tấn thảm kịch. Tôi nghĩ, theo một nghĩa nào đó anh ta đă có sự liêm khiết  để biết hổ thẹn”.

 

Khi nghe ông Ẩn nhận xét về “những thất bại của cách mạng”, nhà báo Mỹ không khỏi bật ra câu hỏi: “Anh không ngại phải nói thẳng ra như vậy sao? Có nguy hiểm không?”

 

Ông Ẩn đă nói rằng mọi người đều biết ông nghĩ ǵ, v́ ông không giấu giếm những suy nghĩ trung thực của ḿnh. Không phải bây giờ, mà là từ ngày xưa, từ bản chất. Ông nhắc lại cho Morley nhớ cái thời họ cùng làm báo ở Sài G̣n trước 1975: “Thời Thiệu, chính quyền ấy biết rơ là tôi nghĩ ǵ về bọn trộm cắp ấy. Tôi đă quá già để có thể thay đổi”. Ẩn cười lớn: “Tôi cũng quá già để mà câm miệng lại”.

 

Trả lời cho câu hỏi: “Trong những năm hoạt động đó anh có sợ ḿnh sẽ bị phát hiện không?” Ông Ẩn bộc bạch không lên gân giả dối: ông nói ḿnh sợ thường xuyên. Bởi luôn có nguy hiểm.  “Anh đă biết vào khoảng những năm 60 có tin đồn tôi làm việc cho CIA. Tôi muốn duy tŕ những tin đồn như vậy v́ nghĩ rằng điều ấy sẽ che chở tôi phần nào. Nhưng dĩ nhiên về sau điều này trở thành một đe dọa. Tôi hoạt động trong phạm vi an ninh rất chặt chẽ, rất ít người biết được hoạt động của tôi. Vào khoảng những năm 70 khi chính quyền Sài G̣n ngày càng tồi tệ, tôi sợ rằng kkhi t́nh h́nh suy sụp, tôi sẽ chẳng có th́ giờ đâu để giải thích với mấy cậu lính giải phóng trẻ với cây AK.47 trên tay rằng tôi là đại tá trong quân đội của họ. Tôi thường nói với mọi người: Có lẽ tụi nhỏ đó sẽ giết tôi đồng thời nướng sống mấy con chó của tôi nữa”.

 

Những mối lo rất thực tế ấy càng chứng tỏ thêm nhiều hoàn cảnh phức tạp mà nghề t́nh báo luôn gặp phải. Vậy mà Morley cho rằng những giải thích của ông Ẩn không làm sáng sủa ǵ hơn mà lại càng khiến ông thêm bí ẩn. “Anh có hối tiếc ǵ về điều đă làm không?  Và bây giờ anh đă thấy kết quả?” Câu hỏi này được đặt ra sau khi Morley đă hỏi ông Ẩn về những ngày đầu sau giải phóng “Ẩn ở trong trại… không phải trại cải tạo nhưng là một trại đặc biệt gần Hà Nội dành cho các “đồng chí” có thể đă bị nhiễm độc v́ quá gần gũi với người Mỹ”.

 

Ông có phút giây nào hối tiếc không? “Tôi ghét câu hỏi đó, tôi đă tự hỏi tôi câu hỏi ấy hàng ngàn lần. Nhưng tôi lại càng ghét câu trả lời hơn nữa. Không, không hối tiếc. Tôi phải làm như vậy.  Ḥa b́nh mà chúng tôi giành được có thể phải trả giá bằng sự khốn khổ của xứ sở này nhưng chiến tranh cũng đă giết chết bao nhiêu sinh linh. Cho dù tôi yêu nước Mỹ đến như thế nào,  Mỹ không thể có quyền ǵ ở đây. Bằng cách này hay cách  khác người Mỹ cũng bị đẩy ra khỏi Việt Nam. Chúng tôi phải tự chọn cách  xây dựng  xứ sở ḿnh”. Đó là những câu kết trong một chương sách của Morley.(kỳ1, ngày 18/10/06)

 

Im Lặng Là Nguyên Tắc Sống

 

Tôi muốn t́m ra cái chất “Người Việt trầm lặng”. Tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những ǵ dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy...

 

Ấy là vài nét hé lộ tính cách ông Phạm Xuân Ẩn. Cũng mới chỉ là lời của Peter Ross Range, của Morley Safer, hay là sau này Henry Kamm trong cuốn Dragon Ascending xuất bản năm 1996. Có vẻ như giới viết lách của Mỹ quan tâm đến ông nhiều hơn. Do trước đây họ đă làm việc với ông? Henry Kamm trong chương Heroes of war and peace đă nói rằng ḿnh biết Ẩn đă một phần tư thế kỷ. Vậy mà Henry “không một phút giây nào tôi ngờ rằng trong suốt cuộc chiến tranh ông là đại tá của Mặt trận giải phóng dân tộc mà kẻ thù của họ gọi là Việt Cộng. Tôi biết ông là một đồng nghiệp hào phóng, hiểu biết và hóm hỉnh”. Henry đă đánh giá cao hơn nữa: “Tướng Ẩn - một trong những nhân viên t́nh báo Cộng sản bí mật gan dạ nhất ở Sài G̣n trong suốt cuộc chiến tranh chống Hoa Kỳ…” .

 

Trong cuộc nói chuyện với các đồng nghiệp cũ khi họ trở lại Việt Nam sau này, ông Ẩn quan tâm thăm hỏi tin tức của các đồng nghiệp cũ như Frank Mc.Culloch, giám đốc văn pḥng  tuần báo Time tại Sài G̣n, Richard M. Clurman, trưởng ban phóng viên cho Time - life  có văn pḥng tại New York. Những người Mỹ đă biết ông Ẩn tới một phần tư thế kỷ mà vẫn c̣n  nhiều bất ngờ về ông.  Sau nữa, chắc ǵ họ đă hiểu ông Ẩn như họ thường cho là họ hiểu. Như Morley chẳng hạn. Morley viết: “Tội nghiệp cho Ẩn. Anh đă chọn chỗ đứng giữa vùng đất không người, tùy thuộc vào sự h́nh thành của lực lượng thứ ba. Chẳng có chỗ đứng nào cho một tâm hồn nhạy cảm như anh…”. Mặc dù Morley cũng nhận ra rằng do ư nghĩa lịch sử, chỉ có một chỗ đứng như ông Ẩn đă đứng, dành  cho những tâm hồn nhạy cảm. Nếu hiểu theo cách người Việt nghĩ th́ do đất nước gặp ngoại xâm, tất cả những tâm hồn yêu nước, nhạy cảm, chỉ có một chỗ đứng giống nhau như vậy thôi, chỗ đứng trong đội quân những người cứu nước. Morley c̣n cho rằng nếu Graham Greene nh́n Việt Nam theo một cách nào đó, ông có thể viết cuốn tiểu tuyết Người Việt Nam trầm lặng với Phạm Xuân Ẩn là nhân vật mẫu.

 

Rơ ràng Phạm Xuân Ẩn có cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết. Nhưng các nhà báo Việt Nam cũng như nhà báo nước ngoài mới chỉ được “những chớp đèn flash” những nét thoảng qua nào đó của cuộc đời ông theo những sự kiện lịch sử lớn lao. Chưa ai có được tấm chân dung hay “bản hồ sơ về tâm hồn” với tính cách điển h́nh Việt Nam. Các thành tích của ông đă khắc ghi bằng danh hiệu Anh hùng cao quư do nhà nước tặng. Nhưng điều ǵ, hoàn cảnh nào đă tạo nên một người Việt đặc sắc như thế?

 

Đó là nỗi niềm mong ước của tôi, khi lưỡng lự bấm chuông một ngôi biệt thự ở vào vị trí rất đẹp nhưng chỉ vào hạng xoàng trên đường Lư Chính Thắng, Sài G̣n. Tôi không thể đủ điều kiện viết về ông theo cách chuẩn xác của những điệp vụ. Càng không muốn liệt kê theo các bản khai lư lịch đơn thuần. Tôi muốn t́m ra cái chất “Người Việt trầm lặng” mà Morley h́nh dung, hoặc là chất honor trong cuộc đời ông mà Peter Ross Range đề nghị. Nhưng sau hết, tôi muốn mọi người Việt Nam được đón lấy những ǵ dịu dàng nhất, can đảm nhất, yêu thương tươi cười nhất, từ cuộc đời của một con người cao gầy, mỏng manh như cây sậy. Sức mạnh của con người ấy được lấy từ mỏ năng lượng quư báu và thần diệu nào đă ban cho? Nếu như bạn đọc nào ao ước cùng tôi điều đó th́ hăy đọc cuốn sách này. Nó là một phần chân dung để chúng ta tự hiểu, h́nh ảnh người Việt cao quư giống như chúng ta đang vẽ ra bản đồ của một tâm hồn. Một việc thật khó làm!

 

Được gặp ông, nếu như có h́nh ảnh nào có thể liên tưởng từ cuốn sách của Morley th́ đó là cái dáng ông Ẩn ḷng kḥng nay gầy thêm và khô đét. Tôi để ư xem có đúng là ông mang cặp kính dày cộp trông giống trí thức gia thường gặp nơi các quán café quanh khu đại học Sorbonne không, nhưng tất nhiên là không h́nh dung ra, bởi tôi chưa hề đến Pháp. Ông có thói quen gỡ kính ra khi nói và đeo vào khi lắng nghe không? Tôi cũng cố h́nh dung ra cái góc bàn nơi Morley ngồi và đă mô tả từ chiếc máy chữ xách tay cũ kỹ hiệu Oliveti để nơi góc bàn. Ông không có điếu thuốc Lucky Strike kẹp giữa những ngón tay xương. Trên mặt bàn thấp giữa sofa và hai ghế ngồi, ông cũng không bày các ly với chai Whisky White Horse và xô nước đá như khi tiếp Morley.

 

Nhưng nhận xét của Morley khi nói rằng: “Anh ta nói chuyện  duyên dáng thoải mái với phong cách của một thi nhân” th́ vẫn luôn luôn đúng. Chính ở căn nhà này, ông Ẩn đă cùng hai con chó quấn quưt dưới chân để đưa tiễn Morley ra xe. Morley cũng nói rằng Ẩn đă sống những cuộc sống rất đặc biệt, tại sao không viết ra. Đó sẽ là cuốn sách rất hấp dẫn, và cũng là cuốn sách quan trọng nữa. Ông Ẩn trả lời: “Trong những năm tôi làm phóng viên, không ai bảo tôi phải làm ǵ ở hăng thông tấn  Reuters hoặc Time. Tôi đă quá già để học thêm những luật lệ mới rằng điều ǵ cho viết điều ǵ không. Tôi e rằng những ngày làm phóng viên của tôi đă qua rồi”.

 

Không biết tới hôm nay, những năm cuối cùng của thế kỷ 20 này, liệu lời từ chối ấy của ông có lặp lại, và tôi sẽ thất bại hay không. Điều này khiến tôi thật sự lo lắng khi đă ngồi ở bộ sofa, chuẩn bị cuộc trao đổi. Đôi bàn tay xương của ông rót nước trà. Cái b́nh trà cũng ngộ nghĩnh: ở gần ṿi của b́nh, có đeo một chiếc rổ nhỏ xíu bằng kim loại, làm nhiệm vụ giữ lại những sợi bă chè nhỏ theo ḍng nước chảy xuống, không cho chúng rơi vào tách trà mời khách.

 

Tất nhiên là ông lại từ chối việc viết sách. Đă từ lâu ông ít bộc lộ ḿnh với giới báo chí. Nhưng ông không nói rằng do cái ǵ là luật lệ kiềm chế hay không. Ông nói như giải thích để mong nhận được sự thấu hiểu:

 

- Nghề tôi có hai cái kỵ: Nếu bị bắt, không trốn được (nếu trốn được th́ tốt), nhưng nếu không sống được th́ phải kể là chết. Cái cần giữ không phải xác anh. Xác anh kể là chết, nhưng không được tiết lộ nguồn tin. Không khai báo đă đành, ngay khi những ǵ địch đă biết, anh có thể nhận, nhưng tuyệt đối phải bảo vệ người cung cấp tin. Thứ hai là cái ǵ lấy được rồi, giấu tuyệt đối.

 

- Như vậy th́ không bao giờ nhân dân, người đọc rộng răi biết được cụ thể chiến công của anh là ǵ và làm thế nào anh có được nguồn tin t́nh báo?

 

- Đúng vậy.

 

- Ngay cả khi cuộc chiến tranh qua đi đă mấy chục năm, nhiều tư liệu, nhiều sự thật rắc rối bí ẩn cũng đă được đưa ra ánh sáng, lên báo chí và phim ảnh?

 

Ông quay ra than phiền rằng trước đây có một nhà báo được ưu tiên tiếp xúc tài liệu và ông đă ra sức can thiệp để không đưa lên công khai, nhưng cuối cùng ngăn không được. Đấy là một sự kiện khiến ông phiền ḷng nhất.

 

- Tôi hứa ǵ, giữ đúng. Bao nhiêu năm sau cũng vậy. Có phải điều ǵ cũng viết ra hết cả đâu. Cái nghề t́nh báo nó vậy, đừng ai đụng tới. Những chuyện thất bại, đổ bể mới kể ra. Thế giới, hoặc Mỹ nó cũng vậy. Cái nào êm cho êm luôn.

 

- Nhưng ở Mỹ người ta cũng viết về những trường hợp t́nh báo chống Anh. C̣n những cuốn Tass được quyền công bố, Hội tam hoàng hoặc Người từ xứ lạnh đến của John Care và cả Người không có mặt của tác giả Đức?

 

- Th́ nói tượng trưng thế thôi. Hoặc như Graham Greene (tác giả Người Mỹ trầm lặng) ông ta là t́nh báo Anh Thế chiến thứ hai. Daniel Defoe viết Robinson cũng là một tay t́nh báo giỏi… Thông thường th́ ít ai đụng tới viết về những ǵ t́nh báo làm. Lâu lâu ḷi ra một trường hợp bị đổ bể, người ta mới viết…

 

Có vẻ như lư lẽ này của ông không  được vững cho lắm, dù trong nghề của ông, người ta hành xử như vậy. “Lấy làm nhân vật tiểu thuyết th́ nhiều hơn”. Ông Nguyễn Khải có viết hai cuốn tiểu thuyết lấy mẫu từ Phạm Xuân Ẩn, th́ ông không lo lắng ǵ. Tiểu thuyết hư cấu mà. C̣n với tay nhà báo mà ông phiền ḷng kia, lại viết hết ra những “đồ” mà ông lấy được, kể tỉ mỉ cả những nguồn cung cấp tin…

 

Nó tai hại ở chỗ nào?

 

- Thường người viết cứ cho rằng viết ra những tài liệu lịch sử. Nhưng người ta tốt với ḿnh, dù là họ vô t́nh không biết mà mang lỗi với công việc của họ, tổ chức của họ. Người ta giúp ḿnh những việc nguy hiểm. Sao lại đưa người ta ra?

 

Th́ ra là vậy - Ở đây có nguyên tắc sống, thái độ ứng xử, sự trung thành với con người chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật. Ông giữ nguyên tắc sống này cho vĩnh viễn. Bảo vệ nguồn tin măn đời. Đến hôm nay, sau cuộc chiến tranh đă lâu, có cả lứa sinh viên trẻ nghiên cứu khoa học Mỹ sang Việt Nam, ngay đó là con trai một thống đốc bang sang liên hệ tài liệu để làm luận án, ông cũng từ chối ngay.

 

“Ḿnh xài đồ. Nếu nay dù họ có chết đi rồi, cũng không nên nói họ ra. Ḿnh viết ra, con người ta lại trách con ḿnh sao? Lối cư xử Á Đông, ông bà ḿnh dạy, không thể xong việc ḿnh rồi th́ mặc kệ việc người”. Rơ ràng ông giữ một nguyên tắc sống, nguyên tắc cư xử của con người được giáo dục về nhân văn rất kỹ. “Có được một người bạn là khó khăn lắm, công phu lắm. Một người quan hệ bao lâu mới thân, bao lâu mới đủ tới mức họ giúp đưa đồ, đâu phải dễ. Có cả những người bạn tốt, tin cậy tới mức đưa máy bay rước tôi lên Buôn Mê Thuột đọc tài liệu. Nay dù chiến tranh đă qua rồi nhưng các thế hệ lănh đạo của nước Mỹ đều ít nhiều dính vô chiến tranh Việt Nam. Đám đẻ sau Thế chiến thứ hai là dính vô Việt Nam đủ các lĩnh vực. Hội chứng này nặng lắm. Cho nên những mối quan hệ sâu sắc giúp ḿnh làm nhiệm vụ, ḿnh không thể nói người ta ra. Lúc giúp ḿnh, người ta tin rằng đă giúp tài liệu cho một nhà báo để xài tài liệu phân tích hiểu biết thời cuộc. Ḿnh không thể làm hại đến họ bất kể kiểu ǵ”.

 

Ông đă nghĩ tới nguyên tắc của nghề, và nguyên tắc sống. Chỉ có hiểu ông điểm này mới biết v́ sao ông oán tay nhà báo nọ. Ḿnh kể nguồn tin ra, Mỹ nó sẽ truy người ta liền, dù là chuyện qua đi đă lâu. “Ổng đ̣i đăng, tôi không chịu mà không can thiệp được. Lệnh trên là phải cung cấp tài liệu cho nhà báo đặc biệt đó để  phục vụ công tác chung. Nhưng đăng lên th́ không được. Tôi có can thiệp nhờ ông Mười Hương lúc đó, nhưng ông Mười Hương đứt mạch máu năo là ông này chơi liền. Thế mới đau…”. Không phải chỉ đau về nguyên tắc sống giữ ǵn sự trong sạch của nghề, một lư do ông không muốn nói hết công việc đă làm là: Ông tự nhận “có tật” luôn luôn nh́n tới chứ không nh́n lui. Tương lai của ḿnh là do ḿnh quyết định hiện tại. Cái ǵ xảy ra đă xảy ra rồi, ngoái lại sau lưng để làm ǵ. Ḿnh không thể làm thay đổi quá khứ được.

 

Ông thường nói: “Bệnh người già là hay nói chuyện cũ. Cuộc sống bây giờ lại găng lắm. Ngày xưa cá nhận xuồng, nhắc vô kho. Vài con trùn, nhái rê rê là có cá ăn. Nay đấu kinh tế thị trường dữ lắm. Người già sống buồn thất nghiệp, tụi trẻ ưa nói cái mới. Kể chuyện ḿnh cũ x́ tụi trẻ nó không thích đọc đâu”.

 

Ông đùa hay ông nói nghiêm chỉnh? Tôi tự hỏi: Có thể nào tụi trẻ nó không thích nghe những chuyện như cuộc đời ông Ẩn? (kỳ 2, ngày 19/10/06)

 

Những Con Vật Dẫn Đường

 

Theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: Con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”.  Con chim th́ nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. C̣n con cá th́ dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư...

 

Trong bản thành tích tóm tắt in ra công khai, ở trang “Anh hùng Trần Văn Trung” (tên ông Ẩn) chỉ khoảng 20 ḍng: Sinh năm 1927, quê Biên Ḥa - Đồng Nai, nhập ngũ tháng 12-1952. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung tá, cán bộ t́nh báo thuộc Bộ tham mưu Miền, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phạm Xuân Ẩn trên đường phố Sài G̣n 1952 - Ảnh tư liệu

 

Từ năm 1952 đến tháng 4-1975 do yêu cầu của nhiệm vụ t́nh báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, Trần Văn Trung vẫn luôn giữ vững ḷng trung thành với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng. Trong công tác, Trần Văn Trung đă khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đă cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn. Trần Văn Trung luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ư thức tổ chức, kỷ luật cao. Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nh́, 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng Ba, 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.

 

Năm 1976 ông Ẩn, tức Trần Văn Trung được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

 

Nhưng cuộc đời và cuộc chiến đấu mấy chục năm của ông chắc chắn phong phú, đầy sự kiện, đă không được công bố cho báo giới hoặc in ra trên các phương tiện in ấn khác.

 

Những thư báo cáo tin tức về việc Mỹ đang thay dần quân Pháp ở Việt Nam là thời kỳ trước năm 1961. Sau đó là những tài liệu có tính chiến lược để chúng ta có thể nắm vững các kỹ thuật và chiến thuật mới của Mỹ - ngụy. Có những tài liệu mang giá trị cực lớn nêu rơ chiến lược quân sự, b́nh định theo cách chống nổi dậy được các chuyên gia Mỹ đúc kết kinh nghiệm từ  các nước để áp dụng vào Miền Nam. Tài liệu về tổ chức, trang bị, các kế hoạch hành quân và các dự định hoạt động của địch, vừa mang ư nghĩa chiến lược, vừa tổng kết kinh nghiệm hoạt động quân sự và b́nh định. Đó là những nét khái quát lớn nhất về sự đóng góp của điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Những tài liệu cực kỳ quan trọng này được chuyển ra rất sớm, giúp cho quân dân ta t́m được các biện pháp chiến lược chiến thuật đối phó đánh giặc, lập được nhiều chiến công xuất sắc.

 

Những kế hoạch lập ấp chiến lược, b́nh định nông thôn, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ… được kịp thời chuyển tới Trung ương, là kết quả của một cuộc phấn đấu, một đời hoạt động khá độc lập của ông tại các cơ quan cao nhất của kẻ địch. Ông đă làm việc, quen thân, ra vào dễ dàng, được ḷng tin cậy từ những cơ quan lớn của chính quyền Sài G̣n như cơ quan Trung ương t́nh báo ngụy, Tổng nha Cảnh sát, An ninh  Quân đội, được Phủ Tổng thống mời với tư cách chuyên viên tham gia đánh giá, đọc các tài liệu tối mật, tham gia ư kiến vào việc hoạch định chiến lược quan trọng của chế độ.

 

Ông đă làm việc cùng với nhân viên của đại tá Edward G. Lansdale, chỉ huy trưởng Phái bộ quân sự Sài G̣n (Saigon Military Mission - phái bộ này hoạt động cả quân sự, t́nh báo CIA và chính trị), người tổ chức hàng loạt chiến dịch phá hoại chống Việt Cộng. Ông Ẩn là một trong số ít phóng viên Việt Nam được mời dự giao ban quân sự. Đă có thời kỳ ông tư vấn đề cử các sĩ quan tham gia các khóa học huấn luyện ở các trường đào tạo quân sự tại Mỹ. Chính ông là người đă làm thủ tục cho Nguyễn Văn Thiệu đến Hoa Kỳ lần đầu tiên tham gia khóa học chỉ huy và tham mưu tại Leavenworth. Đám chỉ huy hành quân Mỹ c̣n cho phép ông lên trực thăng HU.1A đi theo hành quân sát trận địa, chiến trường, đến các pḥng thuyết tŕnh t́nh h́nh xem những bản đồ chiến sự mới nhất.

 

Nhưng có phải tất cả những thành công trên đây là do ông Ẩn là phóng viên chiến tranh của tờ báo Time lớn nhất nước Mỹ? Ở vị trí đó nên ông được sự thân thiết của giới cầm quyền cao nhất như Ngô Đ́nh Cẩn ở Huế, Trần Kim Tuyến, Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Đính, Đỗ Cao Trí và rất nhiều dân biểu, bộ trưởng Phạm Kim Ngọc, giám đốc chiến tranh tâm lư Nguyễn Hữu Có, Cao Văn Viên, Lam Sơn?... Có phải tất cả các nhà báo đều có thể dễ dàng tạo dựng những mối quan hệ như vậy? - Mối quan hệ thân tới mức “lại nhà chơi cũng được”…

 

Có lần Trần Kim Tuyến yêu cầu ông đứng ra làm chủ bút một tờ báo, lời ăn, lỗ th́ bác sĩ Tuyến chịu. Nhưng ông Ẩn đâu có tham vọng làm chủ báo, đâu có mục đích làm giàu. Đă có lần Ẩn phỏng vấn Ngô Đ́nh Cẩn sau vụ đảo chính hụt về việc chính Cẩn đă phát hiện âm mưu đảo chính. Đă có báo cáo lên nhưng bị vứt vào sọt rác. “Thưa ôn nếu ôn chịu, con viết chi tiết đó cho Reuters”. - Ẩn thăm ḍ. Ngô Đ́nh Cẩn phải bảo thôi đừng đăng: “Mi phỏng vấn tao thiếu nước lạy. Mồm ác lắm!” Ông Ẩn có một người anh họ làm giám đốc Cảnh sát Công an Trung phần. Biết Cẩn thích  chơi chim, ông anh thấy Ẩn có con chim loan liền bảo: “Mi cho tao để biếu ôn”. Ẩn có cái ống nḥm, anh cũng xin “Cho anh biếu ông Cậu để ổng đi câu cá”. “Câu cá, hay là để ḍm các cô?” “Cái miệng mi ra Huế chết tao”.

 

Sinh hoạt thời kỳ ấy có những chuyện vui bên lề. Phủ Tổng thống thấy Ngô Đ́nh Diệm thích có người Nam mà biết Huế, biết Bắc, nói chuyện thẳng thắn và vui, họ muốn chọn Ẩn v́ Ẩn đủ “tiêu chuẩn”. Diệm thích tṛ chuyện với những tay thẳng thắn, lại thích cây cối. Một lần Diệm xuống Vĩnh Long thăm ông anh là Ngô Đ́nh Thục làm đức cha ở dưới miền Tây. Ngô Đ́nh Diệm thích cây cối. Đi dọc đường, ông ta ưa thích nh́n mạ xanh bên ruộng hai bên đường thẳng cánh c̣ bay. Ông luôn mồm rủa những kẻ đang tâm chặt cây cối về làm cây Noel. Đang nh́n chiếc cổng làng phía xa có cây cổ thụ, dưới gốc cây nhiều nông dân đang nghỉ ăn trưa, Diệm thính lắm bèn hỏi: “Cây chi rứa mi?” Người lái xe cự lại: “Cây chi cụ nh́n cụ biết chứ, con đang chạy xe 100km/giờ sao dám nh́n cây! Tính mạng cụ nằm trong tay con đây nè”. Sau lần đi ấy, Diệm thường than mắng các cấp dưới chỉ biết a dua nịnh bợ ông mà chẳng ai thật ḷng. Có người bộ trưởng vào tiếp kiến vâng, dạ lễ độ, lúc đi ra không dám quay lưng đi tử tế, lại đi giật lùi, chẳng may đụng phải đôn chậu cây vấp ngă, Diệm khoái trá cười: “Chỉ quen a dua nịnh bợ, các ông không thương tôi bằng người Sốp - phơ”.

 

Có lần ở sát biên giới Miên có tranh chấp. Thiếu tướng Becna Trần Tử Oai làm Tư lệnh vùng 4 sát biên giới, Ngô Trọng Hiếu lúc đó làm đại sứ, bị Xihanúc phiền trách. Diệm kiếm chuyên gia về Campuchia để hỏi ư kiến t́m cách giải quyết t́nh h́nh căng thẳng, liền xuống Cần Thơ t́m Tư lệnh vùng 3. “Cụ kêu lên” - viên tướng cấp tốc lên gặp, chào kiểu nhà binh cái rốp. “Tư lệnh vùng phải không?” “Dạ phải.” “Ở biên giới có tranh chấp, cho ư kiến giải quyết thế nào?” “Mật lắm Cụ ạ”. “Nói đi. Mật hoài.” “Phải rồi, cái này mật. Cụ cho con một ngày đi, một ngày về, tổng cộng khoảng 5 ngày con giải quyết xong”. “Năm ngày là sao?”, “Con hành quân đến Phompenh đánh một ngày”. “Đâu có được. Tưởng có mưu ǵ ngoại giao”. “Con quân sự chỉ có hành quân thôi. Quân sự là thế. Con nói Cụ rồi, mật lắm!”.  Diệm khoái những người như “Oai” và nói thẳng như thế, có khi dám phản ứng theo cách của ḿnh. V́ vậy người ta nhắm “chắc thằng Ẩn” đủ tiêu chuẩn để tṛ chuyện với Cụ. Nhưng cũng có người phát hiện “Nó ẩu lắm. Nó dám dắt ông Cụ đi dancing th́ lộ hết mặt đám quan chức ăn chơi đi dancing tối ngày”. Ai chứ Ẩn th́ dám dắt ông Diệm đi chơi đêm bất tử, ḷi ra các bộ trưởng nhảy đầm!

 

Một dịp Tết, Ẩn lại chơi nhà Trần Kim Tuyến. Có mấy vị bộ trưởng mới tới chào Tuyến, Ẩn liền lại nói chuyện với bà vợ Tuyến. Thấy nhà họ được biếu quá nhiều hoa thủy tiên, Ẩn miệng nói, tay bốc: “Xài không hết. Tôi không có”. Vị bộ trưởng lấy làm lạ hỏi “Thằng nào hỗn vậy?” “À, anh Ẩn nhà báo thân đó mà” - bà Tuyến cười giải thích.

 

Ông Ẩn được nhiều quyền đặc biệt không chỉ do nghề nghiệp mà là do quan hệ rộng. Ông đi lại có cả giấy của an ninh Phủ Tổng thống, có súng. Ông lái xe đi Buôn Mê Thuột khi cần. Cùng với các nhà báo nước ngoài, Ẩn đi cả vĩ tuyến 17. Đi tham quan khu trù mật th́ bằng xe của Phủ Tổng thống. Ẩn có chiếc xe riêng, xe taxi nhỏ hiệu Renault dùng suốt từ năm 1960 tới khi miền Nam giải phóng.

 

Người ta đă quen chiếc xe nhỏ của tay kư giả chuyên viết chiến sự, đi khắp nơi, tự lái và luôn chở con chó đi cùng. Ông nuôi bécgiê giống quư. Con bécgiê mua từ Đức cũng nổi tiếng vào hàng số một Sài G̣n lúc đó với giá 30 cây vàng. Những đêm ông làm báo cáo bí mật con chó nằm dưới chân. Nếu có động tĩnh ǵ, con chó thính lắm. Cảnh sát đi khám sổ gia đ́nh (hộ khẩu) ban đêm giờ giới nghiêm ngoài đường cách gần cây số nó nằm yên nghe, lấy chân khều khều báo cho chủ. Ban đêm khi ông chụp lại các tài liệu, bản đồ dưới ánh đèn 500 watt che kín, nếu có tiếng chó sủa tức là có ai đó đi bên ngoài.

 

Sau này ông bán con chó đó để mua con khác từ Mỹ đem qua. Nó cũng tinh tường một cách đặc biệt. Những đêm Mỹ đem máy bay B.52 rải bom ở xa tận ngoài chiến khu, đất rền rung rất nhẹ nó đă sủa khi chưa ai cảm thấy. Măi sau khi nghe nó sủa rồi, cố để ư mới thấy cửa rung. Con chó thường ngồi sau xe. “Có lần tôi trao đồ cho người liên lạc, bà khựng lại sợ quá v́ thấy con chó”. Khi ông vào nhà hàng (ông thường vào các nhà hàng Brô-đa, Givràl, Continental… nơi tập trung giới báo chí, các quan chức, dân biểu) con chó được lệnh ngồi chờ ở ngoài xe. Nó có thể tuân lệnh ngồi yên như thế chờ đến một, hai tiếng tới khi ông chủ ra. Nếu được vào nhà hàng, nó chui nằm yên dưới bàn.

 

Hẳn là nó quá ấn tượng với đám bạn làm báo hồi đó. Đến nỗi nhiều năm sau này khi Sài G̣n giải phóng, họ trở lại thăm ông Ẩn, làm các cuộc phỏng vấn, như ta đă thấy trong miêu tả của họ, bao giờ bên ông Ẩn cũng có h́nh ảnh con vật thân thiết của ông. Morley đă tả lại kỷ niệm cũ khi tiếp xúc với Ẩn ngày xưa ở nhà hàng, cái mơm đen của con chó tḥ ra khỏi gầm bàn im lặng khi chủ của nó đang nói cười. Và h́nh ảnh gặp lại ông Ẩn ở Sài G̣n sau hàng chục năm cũng có “Ẩn và những con chó thân yêu của anh ta”.  Kết thúc bài viết, cũng là “Ẩn giơ cánh tay xương dài vẫy vẫy từ biệt cùng với tiếng chó sủa theo chúng tôi ra ngoài con lộ”.

 

Ngày Tết, đám bạn bè và quan chức thường mừng rỡ nếu thấy chàng kư giả vốn “rất Mỹ” này lại khăn đóng áo dài dẫn bécgiê đến chúc Tết. “Ông nội này láo” - đám bạn bè trêu chọc b́nh luận. Nhưng Ẩn bảo: “Không đi với vợ mà đem chó bécgiê theo là hên”. Con chó cũng giúp Ẩn mở quan hệ thân thiết. Ông thân với Đỗ Cao Trí (tướng nắm Vùng 3 chiến thuật, vùng Sài G̣n và Đông Nam Bộ), cũng qua con chó. “Chả khoái bécgiê, đi chợ chó luôn. Cố vấn Mỹ mua cho chả 3 con: hai đực, một cái, nhưng đẻ con ra không đẹp. Ổng xin giống từ con chó của tôi. Nó nhảy, đẻ con rất đẹp. Ông nào thích th́ cho giống với giá 100 đô một lần nhảy. Có khi tôi đem chó con đến biếu những người giúp đỡ ḿnh. Họ mừng lắm”.

 

Lansdale phụ trách Phái bộ quân sự Sài G̣n, trong đó có hoạt động của CIA, cũng nuôi một con chó. Ông ta nh́n phản ứng của chó để ḍ xét người khác. Lansdale cho rằng người không có tà tâm th́ chó của y nằm yên lặng. Người nào con chó nó ḍm chừng th́ có vấn đề gian dối tà tâm ǵ đó. Theo ông ta: “Con chó nó đánh giá được”. Có lần ông Ẩn bảo: “Mỗi lần tiếp tôi, anh để chó ớn lắm”. “Anh nuôi chó mà lại ớn chó sao? Nó giúp canh chừng, nó ḍm cảm t́nh th́ tâm địa tốt.” Lansdale lại giải thích. Ông Ẩn bảo: Đâu có nhất nhất như vậy. Có con nhạy có con không, sủa tầm bậy vu vơ. Chẳng có sách nào dạy cái “đồ” này.

 

Bây giờ ông Ẩn vẫn nhận xét thế. Nhưng theo ông, trong nhà phải nuôi ba con vật: con chó trung thành, “con có thể chê cha mẹ khó chứ chó không bao giờ chê chủ nghèo”.  Con chim th́ nhảy hoài. Nó tiêu biểu cho sự bận rộn làm việc suốt ngày, không làm biếng. C̣n con cá th́ dạy sự khôn ngoan, im lặng, không nói nhiều mà suy tư. Ông c̣n đùa: không nên làm nghề xuất nhập khẩu. Bệnh do khẩu nhập họa do khẩu xuất mà!

 

“Bệnh ăn bệnh nói dễ vô tù”. (kỳ 3, ngày 20/10/06)

 

Những "Đồng Chủ Nhân" Trong Vườn

 

Cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm ḍ nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… Ông Ẩn, chờ đón, xem xét, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho chúng đến ăn rồi lại đi. Chúng là những "đồng chủ nhân" trong mảnh vườn nhỏ với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống...

 

Chiếc cổng sắt lúc nào cũng đóng kín, có một cái chuông cũng đặc biệt: không nhấn nút cho reo, mà giật vào sợi dây dài. Một cái chuông nhỏ ở đâu đó kêu leng keng lạ tai. Có lẽ v́ vậy mà thỉnh thoảng đám con nít đi qua cổng “ngứa tay” lại giật chơi. Chúng tưởng rằng chỉ có bầy chó sẽ xô ra sủa mà không biết rằng mỗi lần như thế, có rất nhiều “nhân vật” kinh động. Không phải chỉ có chủ nhà...

 

Thông thường, ở Sài G̣n thời mở cửa, bắt đầu cuộc làm ăn thị trường sôi động, nhà mặt tiền trên phố thế này chẳng ai không nghĩ cách tận dụng, xoay ra tiền bạc. Ngôi nhà của ông là một biệt thự hạng thường mà theo miêu tả của Henry Kamm th́ “tướng của quân đội Việt Nam cũ không bao giờ cư ngụ trong căn nhà khiêm nhường đến thế”. Nếu ông bán đi như người ta thường làm, để lấy số tiền lớn mua một căn nhà nhỏ hơn, dôi ra được ít tiền. Hoặc nếu ông xây cất thêm chi chít, cho thuê, mở cửa hàng, hoặc làm quán ăn, café vườn… th́ đó cũng là phương án thông thường của người Sài G̣n ngày nay. Nhưng ngôi nhà của ông giữ nguyên một mảnh vườn nhỏ phía trước. Tôi cảm nhận nó giống như một lời thầm nói lên tính cách của chủ nhân.

 

Một người từng trải qua mọi sang, hèn, đă là một kư giả như một chính khách thời thượng nhất, giờ đây “ông Ẩn c̣n yếu đuối hơn những ngày ông làm phóng viên” - lại lời của Henry - “Một người yếu đuối cong xuống nhưng không dễ dàng bị đánh gục giống như cái cây trong giông băo”.

 

Tôi cũng giật vào cái chuông đặc biệt trước nhà. Ông ra mở cổng sau khi đă chải đầu thật gọn gàng. Không rơ là kiểu tóc luôn được chải vậy hay là vừa mới gội đầu. Có khi ông vẫn mặc áo ba lỗ, ra mở cổng ngay sợ khách chờ lâu bên ngoài. Nếu mà nghe kể tên những thứ ở khoảnh vườn nhỏ th́ rất dễ bị h́nh dung ra bài trí của biệt thự sang mà ta hay gặp. Nhưng khu vườn lại rất b́nh thường với vài ba khóm cây cao, c̣n lại là các loại hoa cây nhỏ và thấp xuống bên dưới khiến người ta khó mà nói ngay rằng đó là mảnh vườn trồng rau hay là vườn êm ả của các bụi cây cho bóng mát và sự yên tĩnh.  Một con chó đá đen trùi trũi ở gần bậc cửa, nơi có một chiếc bàn đá nhỏ có thể ngồi chơi uống nước hóng mát các buổi chiều. Cái bàn này chỉ cách đường phố ầm ĩ gầm gào xe cộ suốt ngày đêm bởi vài bụi cây nhỏ. Vậy mà vị trí của nó đă đem lại ngay sự thanh b́nh rồi.

 

Mỗi tiếng chuông giật không chỉ là bầy chó sủa, mà làm kinh động nhiều “nhân vật” nào vậy? Khách không nhận ra ngay bởi họ đang bước vào khoảnh vườn vắng trước cửa. Chỉ đến khi quan sát các công việc tỉ mỉ, rất nhẹ nhơm của ông, mới thấy ở đây được khá nhiều vị khách lạ nḥm ngó lui tới. Không chỉ ḿnh ta là vị khách bước vào.

 

Ông Ẩn bắt ổ chim, đỏ lói mới nở và cho chúng ăn bằng trứng kiến. Ông lấy ra thứ trứng kiến trắng như gạo, mềm, nhỏ li ti. Đó là trứng mới đẻ. “Kiến vàng đít chua lắm. Nấu canh chua th́ bắt nguyên ổ, vớt kiến bỏ đi, c̣n lại nước chua lắm”. Ông giải thích như chia sẻ với một người cùng sở thích. Lời nói đó nhẹ nhàng “như thi nhân” bởi nó giống lời th́ thào say sưa của đứa trẻ lúc đang chơi. Một thói chơi hồn nhiên như trẻ. Không có ǵ to lớn hoặc cầu kỳ theo kiểu dân chơi nhà nghề sành điệu đưa lên thành nghệ thuật. Thú chơi của ông khác lắm. Chiều theo thiên nhiên, lặng lẽ và có vẻ ǵ đó hưởng thụ như một cậu bé con ṭ ṃ, tinh quái.

 

Chẳng có nhiều điều kiện để cầu kỳ, nhưng lại khá “oái ăm” bất ngờ. Ai mà có thể nghĩ ra cái tác dụng nấu canh bằng cái đít chua của bầy kiến! Chắc chắn vợ ông đi chợ chỉ vài ngàn đồng là có đủ rau, thơm, bạc hà, lá giang cho nồi canh chua. Nhưng ông biết hết “tính năng” của các loài vật. C̣n oái ăm hơn cả các món ăn: “Viết thơ t́nh bằng nước xanh chua chua bóp ra từ kiến. Viết bằng bút học sinh. Ông bồ hơ lửa thấy chữ. Cái này đi học được. Khổ vậy kia, cái ǵ cũng học!” Ông nói như than thở, mà mắt lại ánh vui.

 

“Chú bé Ẩn” chơi các con vật từ lúc 5 tuổi, chứ không phải kiểu chơi chim chơi thú của những ông già về hưu nhàn rỗi đỡ buồn. Ông có con khướu đă sống 15 năm ở khu vườn nhỏ này. “Sáo, họa mi, năm con sóc c̣n hai. Nó ở đâu đó đến! Tôi treo thức ăn lên vỏ trái dừa, ngày ngày nó đến ăn rồi lại đi. Đất lành chim đậu là vậy. Sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không c̣n. Hai con chích cḥe lửa, tôi bắt được ở đây”. “Chị ngồi chờ, để tôi chỉ cách bẫy sẻ này”.

 

Ông lấy ra hai cục gạch, đặt trên cái bàn uống nước: “Lấy ba cái que lớn lớn tí thôi. Bỏ lúa trong rải vài hột thôi”. Ông say sưa: “Cây trúc cương trực. Sẻ là tiểu nhân láu lia láu lịa, không bao giờ được người ta vẽ đậu trên cành trúc. Sẻ xấu, đa nghi. Gạch đè xuống là ra bắt liền, không nó chết”. Ông hướng dẫn cứ như là tôi cũng hiểu hết, đang muốn học chơi theo. H́nh như ông muốn tôi cũng nên biết chơi, v́ theo ông “con nít giờ không  biết, giảng không hiểu, không biết chơi”. Ông dặn tôi: “Rải một ít ở bên ngoài kẻo nó ăn no không vào ăn phía trong ḥn gạch nữa”. Ngày trước th́ ông bẫy chích cḥe. Bẫy đâu có như bây giờ! Cây tre có cành buộc như cần câu, một đầu cắm xuống đất. Có một cái ṿng bằng tre, có cái c̣ để vô cột con  dế. Có tḥng lọng, có chỉ rút. Chim vào mổ cào cào, dế. Cái cần c̣ bật lên siết lấy con chim. Ông lại dặn: “Đừng treo cao quá siết cổ nó chết”. C̣n bắt chim én, nó thường bay thấp, ăn ruồi rác. Nó bay sớt qua sớt lại không đậu. Phải để cái ṿng có con ruồi ở giữa, chim chui đầu vô, bị giật.

 

Th́ đó, có cả một “thế giới nhộn nhịp”, thăm ḍ nhau, ngó nghiêng, chim, kiến, sóc… đủ cả. Nhiều khi chúng sống đâu đó, trên phố xá ta nào thấy được. Chỉ ở nơi đâu, có những người như ông Ẩn, chờ đón, xem xét nó, lặng lẽ để thức ăn ra hàng ngày cho nó đến ăn rồi lại đi. Chỉ có kẻ nào hào phóng, không định sở hữu, bắt nhốt chúng, chúng mới tới “sống cùng” trong chốc lát, rồi lại là “người của tự do”. Chúng là những nhân vật đông đúc ở khu vườn  nhỏ, khách vào nào có ai biết là chính họ đang làm kinh động nhiều vị “đồng chủ nhân” cùng với người đàn ông cao gầy có bộ óc và cuộc đời của một triết gia, suốt đời sống cận kề với hiểm nguy, sống chết. Thấu hiểu cuộc đời trong cả nghĩa đen của sự sống.

 

Những kư giả phương Tây luôn ngạc nhiên không chỉ v́ ông Ẩn là một kư giả xuất sắc, săn tin giỏi, mà c̣n v́ óc hài hước, sự thành thạo nhiều mặt trong đời sống. Trong mảnh sân vườn nhỏ này, có lẽ tôi là nhân vật xa lạ nhất xâm nhập vào đây, mong mỏi được quan sát t́m hiểu về một con người đặc biệt. Đôi khi tôi có cảm giác h́nh như con chó đá nó đang cười tôi phía sau lưng, mỗi khi ông Ẩn tiễn tôi ra cổng. Dường như cả con kiến ở trong vườn này nó cũng biết rằng tôi không hiểu ông Ẩn bằng nó.

 

Cũng công bằng thôi, một khi mà với con chim huưt cô sầu ông nuôi nó 8 năm, đi chơi Vũng Tàu cũng mang nó theo. Có cả lồng tắm riêng cho nó. Ông nh́n cái lồng và bảo: “Lồng không sạch vầy ở Úc nó đuổi đó, không cho nuôi chim đâu. C̣n nếu khi nào thấy cá lội tung tăng quá th́ đừng có tưởng là vui tươi khỏe mạnh. Đó là lúc nước bẩn".

 

Những con chim ấy biết sắp được ăn “bít tết” như Tây khi ông cầm sâu tươi và những con rắn liu điu nhỏ xíu ra. Dường như con huưt cô sầu biết ông Ẩn đă hiểu ra lai lịch v́ sao nó có cái tên buồn rầu đó: Có đứa con gái nhỏ mồ côi được cô nuôi. Khi cô chết, nó ra mả khóc không ăn uống đến chết biến thành con chim huưt cô sầu. Cái sự tích chuyện đời con hoàng anh cũng được ông Ẩn kể: Cô nương kia chờ chồng chinh chiến. Chờ đến kiệt sức th́ chim bay về báo tin cô ráng sống v́ chồng sắp về. Cô ráng sống, được gặp chồng là nhờ chim hoàng anh.

 

Ông c̣n b́nh luận vui: Nhà nào mà có con gái, lại trồng cây liễu rủ buồn, thêm con chim huưt  cô sầu nữa th́ con gái đến là tự tử thôi. Phải cấm con gái trồng liễu và nuôi chim huưt cô. Thêm ông nội này kêu th́ chết con nhà người ta (kỳ 4, ngày 21/10/06)

 

"Có Ba Nền Văn Hoá Trong Tôi"

 

Ông Ẩn thường nói với nhà báo nước ngoài, đồng nghiệp của ḿnh rằng “có ba nền văn hóa trong tôi”. C̣n các kư giả phương Tây lại cứ muốn tin rằng ông là sản phẩm của văn minh Mỹ. V́ sao vậy? Có phải vậy không?...

 

Quả thật ông không bao giờ giấu giếm ư nghĩ rằng đă học được rất nhiều điều ở Mỹ và có thể coi thời gian đi học ở trường báo chí Orange Coast tại quận Cam, California là những năm quyết định quan trọng đối với ông. Người dân Mỹ trung thực, công bằng, cởi mở và tử tế. Họ cho thấy phần nào khái niệm về tự do và ḷng tôn trọng quyền của con người. “Họ chỉ cho tôi cách nh́n mọi sự theo con mắt của người khác, phê phán bản thân ḿnh trước hết. Họ dạy các thế hệ biết lao động, biết trở về thực tế. Tôi mong muốn con cái tôi được giáo dục ở Mỹ”. Kư giả nước ngoài vẫn thường trích dẫn ư kiến này.

 

Nhưng họ không biết rằng việc Ẩn sang Mỹ du học vào cái năm 1957 trên danh nghĩa tự túc bằng tiền hưu trí thôi việc lúc mới 30 tuổi, có 7 năm làm việc, có đủ tiền máy bay lúc đó giá 600 đô - cuộc đi đó do Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định. Nếu không quá khó khăn, Đảng muốn Ẩn học từ 4 đến 6 năm để có bằng tiến sĩ. Mục đích của Đảng giao cho Ẩn phải học thật giỏi, và t́m hiểu nước Mỹ. Chính v́ thế Ẩn đăng kư học lịch sử - địa lư - kinh tế Mỹ, báo chí, quân sự… Không những thế, Ẩn có ư thức tích lũy những kỹ thuật, nghiệp vụ, các bài học rút ra từ các tài liệu của Mỹ, Liên Xô, Nhật. Ông đă kể lại những ngày đi học ở Mỹ, với bạn ông, nhà báo Hồng Liên như sau:

 

“Chính người Mỹ dạy tôi nhiều bài học bổ ích. Tôi c̣n nhớ, trước khi đi, bên nhà dặn tôi phải ráng học cho xuất sắc. Tôi vâng lời. Một hôm, bà giáo dạy môn Anh văn hỏi: Tôi thấy môn này anh đă giỏi rồi, đâu cần học nữa. Tôi nghi anh qua đây không phải để học mà làm chuyện khác. Giật ḿnh, tôi ráng trả lời một cách b́nh thản: nước tôi nghèo, nên tôi phải ráng học, học bất cứ cái ǵ có thể để về phụng sự quê hương tôi. Bà đáp: Ừ, bây giờ th́ tôi tin anh. Tôi nghi ngờ anh là v́ hồi Đệ nhị thế chiến, tôi huấn luyện sĩ quan t́nh báo, nên có bệnh nghề nghiệp (!). Anh bạn học chung lớp cũng thắc mắc tại sao tôi phải cố học cho giỏi. Hắn nói: Mày học xong sẽ về hay ở lại? Nếu ở lại, tao khuyên mày nên đi chơi nhiều hơn. Người Mỹ không thích học quá giỏi, v́ học giỏi khó kiếm được việc làm hơn người học trung b́nh. Người thuê lao động nếu mướn người có học lực khá, họ yêu cầu phải làm việc gấp rưỡi hoặc gấp hai người thường. Và họ cũng không thích mướn những người học giỏi làm chung với người học b́nh thường.

 

Từ dạo ấy, tôi bắt đầu mê chơi. Một bài học khác: Khi học môn nói chuyện trước công chúng, tôi không hiểu sao bài của ḿnh luôn bị điểm C dù đă gắng hết sức. Tức quá, tôi hỏi chị bạn ngồi kế bên. Chị nói: Vị giáo sư là người không ưa Cộng sản. Mà tôi th́ thấy anh ưa dùng từ kiểu Cộng sản. Anh không được điểm cao là phải. Hóa ra là khi tôi ở Việt Nam, tôi hay đọc sách báo cách mạng viết bằng tiếng Anh. Tôi quen vốn từ vựng cách mạng và sử dụng nó trong bài kiểm tra mà không biết. Về sau, mỗi lần làm bài, tôi lại nhờ chị sửa giúp từ vựng. Và bài đạt được điểm B. Mặt khác, khi về nước tôi không dám giao hảo với nhiều người Việt. Tôi làm báo nhưng làng báo Việt Nam tôi hầu như không quen ai, trừ một vài chủ bút. Ngay cả trong t́nh cảm riêng cũng phải đè nén lại. Hồi ở Mỹ tôi có yêu một cô gái và định cưới cô ấy. Nhưng tôi cưới vợ Mỹ th́ công việc của tôi sẽ càng rắc rối thêm. Vậy là chúng tôi chia tay nhau.”

 

Sau khi học ở Mỹ về, ông làm việc ở Việt Tấn xă, cơ quan thông tấn chính thức của chính quyền Sài G̣n. Một năm sau chuyển sang viết cho Reuters. Bốn năm sau, ông chuyển về tờ New York Herald Tribune. Từ năm 1965 - 1976 ông là phóng viên Việt Nam duy nhất viết cho Time.

 

Ngày nay, khi mà loài người tự nhận thấy sự biến đổi của thế giới một cách rơ ràng hơn, giao lưu với bên ngoài nhiều hơn, th́ lối sống cũng thay đổi. Người ta biết rơ có nhiều lối sống khác với bao nhiêu là thách thức: Thông qua Internet, người ta có thể thấy những luồng thông tin như thác đổ. Nhân loại biết tự phê phán và mổ xẻ những nghịch lư của thời đại ḿnh và họ đă viết ra trên Internet: “Chúng ta có nhiều ṭa nhà cao hơn nhưng tính cách lại nhỏ hơn, đường cao tốc rộng hơn nhưng quan điểm hẹp ḥi hơn, chúng ta chi xài nhiều hơn nhưng gia đ́nh lại nhỏ hơn. Nhiều tiện nghi hơn nhưng ít thời gian hơn. Nhiều bằng cấp hơn nhưng lại kém ư thức hơn. Thời của thức ăn nhanh mà tiêu hóa chậm, lợi nhuận quá cao nhưng quan hệ hời hợt. Thời của ḥa b́nh thế giới nhưng nội chiến và thiên tai nhiều hơn”…

 

Nhân loại tự nhận thấy ḿnh uống quá nhiều, chi quá lố, giận quá mau, thức quá muộn, dậy quá mệt, tăng số của cải nhưng lại giảm giá trị của ḿnh… Một thời kỳ mà nhân loại nh́n lại ḿnh tiến những bước dài để sang một thiên niên kỷ mới - Trong đó vệ tinh đầu tiên con người đầu tiên đi lên vũ trụ, bệnh AIDS được phát hiện, có cuộc cách mạng Internet và có công ty Microsof, và nhân bản được cả con người…

 

Trong thế giới ấy, ở khắp nơi có đủ các kiểu sống. Chẳng phải chỉ ở phương Tây xa lạ mà ngay ở phương Đông, ở nước Nhật, người ta cũng đă thấy được một lối sống không phải của ít người, có tới 10 triệu “con kư sinh sống độc thân” . Công thức và h́nh ảnh tiêu biểu thường là: một cô gái ngủ 9 giờ mới dậy, mẹ đă làm thức ăn sáng. Lao vào đi làm tới 9, 10 giờ đêm mới về. Đi chơi, cưỡi ngựa, đánh golf, mỗi năm nghỉ nước ngoài tiêu hết 9.000 đô. Thời đại của những kư sinh sống độc thân, dựa vào cha mẹ, rút vào vỏ ốc, xa rời xă hội. Người ta nói rằng có cả thế hệ người - chứ không phải số ít - đă lẫn lộn giữa hai chữ hạnh phúc và tiện nghi vật chất. Rồi người ta lại hy vọng như một vị giáo sư ở Nhật nhận định: Một xă hội sau thời kỳ nhộn nhịp sẽ đạt đến thời kỳ trầm lắng và chỉ đến lúc tụt xuống quá mức th́ những nhu cầu bức bách sẽ giục nó dậy lên…

 

Nếu như vào thời hiện đại, th́ suy nghĩ của ông Ẩn về con đường rèn luyện cho một niên thiếu thành người theo cách ông thấy được ở Mỹ sẽ chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu ta đứng lùi lại nửa thế kỷ khi đất nước Việt Nam c̣n biệt lập trong nỗi đau bị xâm lược, th́ những mong muốn của ông Ẩn, cách suy nghĩ của ông cho con cái ḿnh yêu lao động và thực tế  “dễ ḷi ra ḿnh là Việt Cộng v́ lúc đó ở Miền Nam giới công chức không ai nghĩ và làm như vậy”. Ông Ẩn nhớ lại cái thời mà ông là phóng viên của tờ Time, muốn con ḿnh gần đời sống b́nh dân, thấy cảnh cơ cực để mà thành người. Ông nói: “Ngày đó tôi c̣n muốn con đi theo các chuyến xuống nông thôn cho nó thấy cảnh cực. Cho nó biết lội bùn, thấy con nít nhà quê ăn cơm bằng chén làm từ muỗng dừa đen bóng”. Ông muốn thằng con trai ḿnh phải tập làm việc, biết giao tiếp, và định xin cho nó tập làm bồi ở nhà hàng Givral.

 

“Tôi muốn cho nó làm trong dịp nghỉ hè, biết làm bồi làm bếp, giao dịch, chạy bàn, lấy menu. Để sát với dân”. Ông sợ con ḿnh giống như con cái của gia đ́nh khá giả xa cách với cuộc sống - lúc đó Ân, con trai ông mới 12 tuổi.

 

“Ḿnh làm vậy là bị nghi Việt Cộng. Nhưng tôi là vậy. Con nhà Mỹ nó làm việc nhiều. Mỹ nó dạy như vậy. Tôi thấy vậy là khôn”. Người ta ngạc nhiên và cũng ngại không dám nhân cho Ân tập làm bồi. “Các ông sợ nó lóng ngóng không biết làm? Hễ nó đập bể cái ǵ, tôi thường”. Nhưng ư định này chưa kịp thực hiện th́ miền Nam giải phóng, cuộc đời đă thay đổi. Ông nói: “Cái cách nghĩ như vậy, giới thượng lưu miền Nam lúc đó cho chỉ có Việt Cộng mới dạy con lao động cực khổ. Tôi th́ nghĩ điểm này nói là của Việt Cộng cũng được, mà nói Mỹ hóa cũng được”. Con của tụi Mỹ như ông đă thấy, “người ta nuôi con, đảm bảo cho con ăn học, có bệnh tật th́ chạy chữa, đảm bảo những nhu cầu cơ bản. Nếu muốn xài hơn, th́ đi làm việc kiếm tiền. Rửa xe, cắt cỏ… Dạy nó biết tiền từ lao động mà ra. Dù gia đ́nh có là tỷ phú cũng vậy. Tôi thấy vậy là khôn”.

 

Phải lao động tay chân - lao động bao giờ cũng phát triển nhanh tư duy. Từ lao động chân tay mới vô trí óc. Phải lao động mới ra sáng kiến. Nhà trường Mỹ dạy kỹ lắm. Nhỏ xíu đă phải học cả những giờ học về cây cối. Ông thầy chỉ cách, tṛ tự trồng đậu, bắp, mía, biết cái cây nó lớn thế nào. Lớn chút ít học thêm nghề mộc, được dạy cách cầm bào, cưa, tập đóng bàn đóng ghế.

 

Ông thường dẫn con trai lên Thủ Đức vào những ngày nghỉ, vạch cả hàm răng trâu cho con xem để biết con trâu chỉ có một hàm răng. Chẳng ǵ làm cho nó nhớ liền bằng cái cách nh́n thấy tận mắt như vậy. Về quan niệm lao động để phát triển con người th́ ông Mác đă dạy - Việt Cộng càng coi là lối sống căn bản. Vậy mà nếu anh sống theo cách đó, có thể là Mỹ hóa.

 

“Có ba nền văn hóa trong tôi” - lời ông Ẩn tự nhận, nó bao trùm lên toàn bộ tính cách và cuộc đời hoạt động của ông. Có lẽ phải hiểu lời ấy trên cách cảm nhận về thời cuộc, sự lựa chọn con đường dấn thân. Như ông đă từng trả lời phỏng vấn Morley khi được hỏi là làm thế nào để không bị lộ tung tích trong suốt bấy nhiêu năm. Ông nói: “Cái đó không khó bằng sự trung kiên”, sự trung kiên mới thực sự là vấn đề. Một số kư giả Mỹ cho rằng ông học được ư niệm về sự trung thành này từ các đại học Mỹ. Cũng có thể ông Ẩn đă được thấy và sống cùng với những người bạn Mỹ trung thực. Do đó theo ông, ở một mức nào đó, sự trung thành hoàn toàn là một ư niệm Mỹ.

 

Những lời như thế, không rơ thực hư là ông Ẩn có nói như vậy và các kư giả Mỹ có phần vội vă chăng khi họ có thể thừa nhận sự thấu hiểu triết lư thâm sâu của văn hóa Việt Nam. Trong ngôi nhà giản dị nhưng không quá nghèo khổ, cả gia đ́nh ông sống theo tinh thần “xă hội chủ nghĩa” -  chữ dùng của ông, khi tâm sự chút ít về chi tiêu trong nhà: “Phải có ngân sách, phải biết rơ kiếm từ đâu ra để chi. Các con nhỏ c̣n đi học, chi tiêu theo mức của ngân sách cho phép. Phải tiết kiệm”. Ăn thứ ǵ đủ dinh dưỡng, không cần xài đồ mắc tiền. Xưa người ta mặc đủ ấm, nay đẹp, tùy con mắt, nhưng phải coi ngân sách mà tính. Đi làm cũng vậy. Phải đọc sách, phải học. Con trai cũng phải biết chăm con…”

 

Đó là khái niệm “Việt Cộng” hay khái niệm Mỹ, ai muốn nói ǵ th́ nói, điều chủ yếu không phải chỉ là lối sống vụn vặt b́nh thường hàng ngày. Nếu muốn nói đến nguồn cội văn hóa nào đă làm nên tính cách một người Việt Nam như ông Ẩn, th́ phải bắt  nguồn từ nhiều điều sâu xa hơn. Nó được chứng minh bằng sự lựa chọn của cá nhân đối với vận mạng gieo neo của đất nước ḿnh. Nó c̣n là sự khôn ngoan của con người trước mọi biến đổi của pháp tướng vô thường. (kỳ 5, ngày 22/10/06)

 

B́nh Phong Không Phải Là Vỏ...

 

Ông là một nhà t́nh báo vĩ đại, lại cũng là một phóng viên xuất sắc. Với ông, làm báo không phải là đội lốt. "B́nh phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá h́nh, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch - Sống măn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống"...

 

Một mối hoài nghi, một câu hỏi ṭ ṃ nhất mà giới báo chí phương Tây vẫn c̣n hỏi ông Ẩn. Đó là câu hỏi của Morley Safer: “Họ có yêu cầu anh bịa đặt tin trên báo Time không? Chữ mà người ta thường dùng là “đưa tin thất thiệt”. Ông Ẩn trả lời: “Không. Họ đủ khôn ngoan để thấy rằng loại tin ấy dễ bị phát giác. Họ dặn đi dặn lại tôi là không làm bất cứ điều ǵ có thể phương hại tới công tác”. Họ đây là phía Cách mạng. “Công việc khởi đầu một cách thực sự vào năm 1960 khi ông Ẩn làm việc cho hăng Reuters. Lúc đó ông đă mang quân hàm trung đoàn trưởng, nhưng thực ra chưa bao giờ ông mặc quân phục, chưa bao giờ mang súng. Có lẽ cây súng của ông là cây viết và một cái đầu cùng con tim của người chiến sĩ. Trong những năm làm việc cho báo Time, ông đă thăng quân hàm đại tá” - Nhà báo nước ngoài viết vậy.

 

Trong căn pḥng có vẻ hỗn độn nhưng sạch sẽ và đầy sách vở, không có “mùi bùn tỏa ra từ chồng sách báo đang từ từ mục trong cái khí hậu ẩm thấp của Á châu” như lời của nhà báo phương Tây miêu tả. Ông Ẩn vẫn  sống trong phong cách của một người nghiên cứu và biết dung ḥa với tuổi tác ngày càng cao của ḿnh. Công việc bận rộn suốt ngày, chỉ ngồi ở căn pḥng khách, ta có thể tưởng tượng ra khối lượng công việc của ông. Bể cá phải thay nước thường xuyên. Những lồng chim treo đầy cửa, đặt trên kệ. “Con này 10 năm rồi đó”  - ông chỉ về phía con chim quư và dẩu môi ra huưt sáo chẳng ngần ngại, như ông và chú chim kia vẫn thường nói chuyện cùng nhau. Dưới mắt tôi, con chim nhỏ xíu chỉ bằng quả chuối ngự kia, thật “đáng sợ”: Để cho nó được sạch sẽ và no nê cất tiếng hót, chủ nhân phải hầu hạ nó nhiều công lắm!

 

V́ sao ông chọn nghề báo, và giữa nghề báo thực sự với công việc của một sĩ quan t́nh báo, hai việc đó liên quan nhau thế nào? Làm thế nào để đúng như ông nói - Chỉ huy của ông luôn dặn đi dặn lại là đừng làm ǵ phương hại tới công tác của một nhà báo.

 

“B́nh phong để hoạt động không phải là cái vỏ, không phải là sự đội lốt trá h́nh, đó không phải sự ngụy trang bên ngoài. Phải thực sự sống bằng nghề đó một cách trong sạch - Sống măn đời nghề đó mới mong tiếp cận được mọi điều. Đó là cả một nghệ thuật sống. Nội cái đó không thôi cũng đă là cả một cái luận án.”

 

Ông lấy thí dụ Graham Greene (tác giả cuốn The Quiet American - Người Mỹ trầm lặng) hết làm t́nh báo trở thành nhà tiểu thuyết. Nếu không là một người trong giới trong nghề, nếu chỉ là sự ngụy trang bên ngoài, sao ông có thể trở thành một tiểu thuyết gia.

 

“Người muốn tạo ra phải ở trong giới đó - Sống măn đời với nghề.”

 

Theo ông, có ba nghề quan hệ rộng nhất, có lợi cho công việc của t́nh báo, đó là luật sư, bác sĩ, giáo sư. “Thật ra, báo chí rất dễ bị nghi. Cách cả cây số có mùi nó rồi. Cứ nghi là chắc. Nó chuyên phủ định, Negative, moi móc cái tiêu cực. Xă hội lúc đó giàu và quyền thế là thiểu số. C̣n đông số nghèo khổ ,uất ức sẵn. Nghề này cần đổ cái tiêu cực của đám quyền thế đó ra. Và người làm việc đó là anh nhà báo”.

 

Ông như người phân tích kinh tế, lấy h́nh ảnh chia cái bánh: “Sản xuất ra ít, nhu  cầu nhiều, th́ bánh chia thế nào. Dân nghèo đa số chỉ được miếng bánh nhỏ. Ức hoài. Kư giả viết thường bám vào những quan tâm của đa số đó. Tờ báo nhiều người đọc mới có quảng cáo. Một trang một kỳ mấy chục ngàn đô. H́nh b́a báo tuần là 50 ngàn đô. Đó là giá ngày xưa. Nay mắc hơn nhiều”. Ông giải thích: Đó là lư do v́ sao an ninh “theo” kư giả trước. Bởi dù nếu không làm t́nh báo, chỉ làm một phóng viên chuyên nghiệp cũng moi móc tin. Nhưng nghề nào cũng phải đạt tới mức chuyên nghiệp và phải có lương tâm nghề nghiệp.

 

Nghề dễ chọn làm nghề để hoạt động là luật sư, bác sĩ, nhà giáo, “kể như tính mạng bệnh nhân giao cho bác sĩ”; giáo sư không bao giờ dạy con ḿnh làm bậy, do đó được phụ huynh tin cậy. C̣n luật sư, nhất là căi án h́nh sự thường bênh vực được người yếu thế, oan ức. Về cái nghề luật sư  này, ông Ẩn có câu chuyện tiêu biểu của người em ông, sau này là một vị đại biểu Quốc hội khóa VIII của tỉnh Cần Thơ. “Thời kỳ ṭa án xử bà Huỳnh Tấn Phát, ṭa chỉ định em tôi, luật sư mới ra trường lúc đó đứng ra bênh vực. Nó theo vụ án tới cùng. C̣n nếu là tiền bao nhiêu đi nữa, nếu biết án giết người là nó từ chối. Lương tâm nghề nghiệp nó dạy vậy.”

 

Nếu coi b́nh phong chỉ là thứ nghề giả tạo mà không giỏi thật sự, không làm nghề thật sự th́ “chết như không”. Ông Ẩn vẫn c̣n nhớ chuyện của một điệp viên đóng vai cố vấn cho Nguyễn Chánh Thi lúc đó là tư lệnh quân đoàn. Một sĩ quan cao cấp bên an ninh đối phương có quan hệ khá thân,  một hôm bảo Ẩn: “Toa làm cho báo Mỹ phải cẩn thận nhá. Ông Sáu Già là Việt Cộng đó (Sáu Già là một điệp viên từ Bắc vào làm cố vấn cho tướng Thi). Phải cẩn thận đó nghe. Toa có tính tốt, moa nói cho toa kiểm tra coi chừng”.

 

V́ sao sĩ quan an ninh này biết ông Sáu đó là Việt Cộng? Viên sĩ quan này vẫn không hề biết Ẩn cũng là một điệp báo Cộng sản. Ông ta vẫn nghĩ Ẩn chỉ là một phóng viên giỏi của báo Mỹ. C̣n Ẩn, cũng không có cách nào để giúp v́ nguyên tắc bí mật hoàn toàn. Ẩn chỉ rút ra bài học nghề nghiệp từ ông Sáu Già đó. “Moa biết là v́ để ư thấy hễ ai quan trọng nói chuyện với ông Thi, ông Sáu thế nào cũng ngồi ở giường phía trong bức b́nh phong”. Viên sĩ quan nhận xét vậy, rồi xui ông Ẩn “Toa cứ thử vào phỏng vấn tướng Thi mà coi. Nó ngồi nghe đó. Có kư giả ngoại quốc là nó cho có chuyện quan trọng, thế nào cũng ngồi nghe”. Ông Ẩn thử làm, y như vậy. Ẩn dẫn kư giả nước ngoài vào phỏng vấn tướng Thi và thấy cảnh đó diễn ra thật. Sau đó, Mỹ giao cho t́nh báo kiểm tra ông Sáu. Ông Ẩn biết được cách kiểm tra của họ là do “đàn em” thân tín của ông, chính là người được phân công kiểm tra.

 

Cách kiểm tra ra sao? “Tôi sẽ dẫn thằng học tṛ lại v́ ổng nói ổng là giáo sư trung học dạy toán ở bên Campuchia về. Mang thằng học tṛ lại, nói ngày mai thi rồi có bài toán bí quá nhờ giảng hộ”. Hắn đă làm như thế thật, và ông Sáu đă không giải được bài toán lớp bảy. “Sau này ông Sáu đă bị giặc bắt và ông Thi bị đưa đi Mỹ lưu vong”.

 

“B́nh phong phải là một cái nghệ thuật, phải sống thật với nghề, phải giỏi, không thể ghép vô đóng giả được. Bác sĩ giỏi cứu được người bệnh, mới có quan hệ thân được”.

 

Trở lại sự nh́n nhận thời cuộc lúc đó, ông Ẩn cho rằng t́nh báo của các nước đều đi theo kiểu “ăn sâu trèo cao” nhưng thực  tế cho thấy lên cao chừng nào th́ lại có sự hạn chế chừng đó. Lên không phải dễ, nước nào cũng vậy. Phải có một nghề phù hợp với mục tiêu đối phương.

 

Đời ông đă từng biết câu chuyện thực tế về việc “đánh vô” không hề dễ dàng. Khi kư Hiệp định Genève, đất nước tạm chia đôi. Âm mưu của Mỹ là không thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định đă ghi. Trong số những người di cư vào Nam, có hai thanh niên trẻ được cách mạng đào tạo. Con đường của họ là phải học hành thành sĩ quan chuyên nghiệp thực sự. Bao giờ thành tài, họ sẽ được giao nhiệm vụ sau. Hai thanh niên ráng học giỏi, được sang Mỹ đào tạo quân sự. Trong khi đó, có một cán bộ ngoài Bắc vào nắm t́nh h́nh và bị bắt khi chưa ổn định. Bị tra tấn dă man, ông đă khai ra kế hoạch đào tạo hai chàng trai nọ. Người t́nh báo bị bắt lẽ ra phải tự tử nếu chịu không nổi, v́ nguyên tắc của địch là đánh cho tới khi khai. Khai ít đánh cho khai nhiều, khai nhiều rồi đánh nữa cho khai hết. Ai c̣n sống được là mừng. Có người bị giặc chích thuốc cho lên cơn thần kinh, bị ám ảnh ma quỷ bóp cổ để khai những ǵ c̣n nằm trong tiềm thức. Có thể nói đó là sự thử thách quá giới hạn của sức người. Sống th́ thân tàn ma dại. Chính quyền ngụy không đủ phương tiện tra khảo th́ chỉ dùng đ̣n đánh dữ. Ông cán bộ này chưa được huấn luyện kỹ. Một thử thách nữa là t́nh báo đảng viên lại có quy định giữ trọn khí tiết, không được tự tử, thế mới khổ thân.

 

Là một người được coi như một chuyên gia, ông Ẩn được phép quan hệ với nhân viên Quân ủy Trung ương ngụy, mặc dù lúc đó ông là chuyên viên ăn lương Phủ Tổng thống. Ông được tin cậy tới mức Điều lệ của Đảng Cần lao cũng đưa ông sửa và góp ư. Ông  Đỗ Mậu (mà người ta gọi chệch là ông Đổ Máu - ông ta là đại tá giám đốc An ninh Quân đội) hỏi ông Ẩn: “Hai thằng này tính sao?”. “Khổ quá. Việt Cộng nó ghê gớm. Bây giờ kêu hai thằng đi học đó về, bắt xác nhận có việc đó. Chứ tụi nó mới đi học, đă hoạt động ǵ đâu. Cho đối chất chúng cũng biết ai đâu mà nhận mặt. Ra ṭa cũng không kết tội được v́ chúng chỉ đi học thôi, chưa hoạt động, đâu có tội ǵ”. “Thế hai thằng đó nó phải làm ǵ?” “Bắt xác nhận”. “Xác nhận xong làm ǵ?” “Đuổi nó ra khỏi quân đội. Bởi khi nhận việc, chúng nó tuổi vị thành niên”.

 

Việc diễn ra y như rằng, hai thanh niên kia bị gọi về nước tạm để kiểm tra thẩm vấn và sau cho ra khỏi quân đội. Câu chuyện cho thấy cài người khó như thế nào. Tạo b́nh phong từ nguồn đến vậy rồi mà c̣n hỏng. Ông Ẩn nhận xét và nhớ lại như đang b́nh luận một câu chuyện cũ. Trong buổi chiều thanh b́nh ở một thành phố mà mối quan tâm của tất cả dân chúng là hối hả làm ăn, th́ câu chuyện xa xưa này nghe khó cảm nhận được hết.

 

Theo câu chuyện của ông, thời cuộc lúc đó hiện ra trong lời vắn tắt mà rất khốc liệt. Sau những năm 1957-1958, các lưới t́nh báo của ta bị bắt hết. Dương Văn Hiếu cảnh sát đặc biệt Miền Trung dưới thời Ngô Đ́nh Cẩn rất có kinh nghiệm nắm rơ hoạt động của ta. Chính ông Mười Hương, chỉ huy của ông Ẩn, cũng bị bắt trong thời gian đó. “Tôi đang học ở Mỹ - ông Mười Hương giữ được khí tiết, không khai ra nên tôi an toàn”. Ông Ẩn nói rất kỹ về nỗi khó khăn của việc tạo vỏ bọc, của b́nh phong. Chính Mỹ dạy về nghề t́nh báo này kỹ lắm. Phải bí mật tuyệt đối. Họ dạy rằng khi nói chỉ một chuyện mật với một người khác th́ phải coi là 11 người biết, c̣n nói với 3 người là 111 người biết.

 

Việc giữ bí mật quan trọng tới mức nếu một điệp viên được quá 3 người chỉ đạo là phải đổi sang b́nh phong khác. Tạo b́nh phong hoạt động cho một điệp viên rất khó và đ̣i hỏi nhiều thời gian, công phu và nghệ thuật.

 

Cách rất tốt là điệp viên đó phải đạt được tới mức trở thành chính khách, các giới đều t́m đến tham khảo ư kiến. “Giới quân sự cũng chạy tới. Bên kinh tế cũng qua hỏi. Nhưng không phải dễ đưa ra lời nhận định. Khi đă được coi như chính khách rồi th́ phải hết sức khách quan khi phân tích t́nh h́nh, đóng góp được những ư kiến có giá trị”. Có người được thăm ḍ để chuẩn bị vào chức bộ trưởng, cũng tới hỏi, nhờ phân tích xem có nên nhận không, sẽ gặp khó khăn thuận lợi nào. Thậm chí có người sắp tiếp giới báo chí cũng tới hỏi ông Ẩn xem “Có nên tiếp thằng này không. Nó sẽ hỏi ǵ. Trả lời thế có được không”.

 

Ông Ẩn c̣n nhớ có một người là tiến sĩ toán học, tốt nghiệp bên Tây về, bạn của bộ trưởng giáo dục nên được chỉ định làm giám đốc Trung học. Vị tiến sĩ này về nhận việc thấy nội bộ nơi ḿnh làm lại đang có chuyện không hay với Phủ Tổng thống. Hai bên mâu thuẫn, và tất nhiên là cơ quan đó bị Phủ Tổng thống “đánh”. Hoảng quá, vị tiến sĩ cũng t́m đến Ẩn, “tay nhà báo chuyện ǵ cũng biết”. “Nó đánh nhau, moa ở giữa sợ bị đạn. Có cách nào giúp không”. Vốn rất quen biết Phủ Tổng thống, ông t́m đến người phụ trách. Câu chuyện thân mật đă giải quyết vấn đề thật nhẹ nhàng: “Nè, tôi có người bạn mới về làm giám đốc đó, ông nội! Nhắn biểu đàn em cho nó yên được không?”. “Không dính dáng chính trị phải không?” “Ừ. Nếu được th́ ra lệnh đàn em đừng động đến bạn tôi, tội nghiệp nó!”

 

Ở đời phải giúp đỡ người khác, giúp rất nhiều. Ông Ẩn c̣n có cả núi kinh nghiệm giúp cả mấy cô gái “ăn sương” thường bị nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục (tiếng Pháp gọi là agents - de - moeurs) hỏi thăm. Từ việc to đến việc nhỏ, chẳng có việc ǵ lường trước được. Đôi khi t́nh thế xoay chuyển đạt kết quả bất ngờ, dựa vào những ứng xử mang đạo lư chứ chẳng phải bùa phép ǵ đặc biệt. Ngày đó, luật sư Nguyễn Hữu Thọ có cô con gái yêu một người Mỹ. Vốn thù luật sư theo kháng chiến nên chính quyền Sài G̣n lúc đó định làm lớn việc này ra bôi nhọ thanh danh ông. Viên trung tá cảnh sát nói dự định sẽ bắt người con gái đó ra xử tội. Lư do là “vi phạm thuần phong mỹ tục” v́ chứa người Mỹ trong nhà khi chưa kết hôn và không khai báo với cảnh sát. Nghe được dự định này, ông Ẩn cản: “Đừng làm vậy. Hạ sách. Con ổng tự do. Bôi nhọ không được đâu. Người ta hy sinh cả gia đ́nh đi vô chiến khu, đâu có mang con theo đâu mà quy trách nhiệm ổng. Ổng là trí thức lớn có uy tín, bôi nhọ kiểu đó không được đâu, lại ḷi ra nhà nước quốc gia hành động bần tiện. Mà làm như vậy th́ cũng là bôi nhọ luôn cả thằng Mỹ nữa”.

 

Những lời hợp lư và tỏ rơ ứng xử khôn ngoan ấy đă ngăn không cho việc xấu xảy ra. Hơn thế nữa, qua cách ứng xử ấy, những kẻ đang tính mưu mô bẩn thỉu c̣n thấy ở ông Ẩn một nhân cách trí thức biết tự trọng. Lời khuyên ấy giúp họ tránh được những cư xử sơ hở, ngu ngốc, nếu không, họ đă trở thành người bị chê trách. Những lợi ích như thế, qua nhiều thử thách lớn nhỏ của cuộc sống, khiến Ẩn được yêu kính và tin cậy. Ở đời phải giúp rất nhiều mới mong có quan hệ tốt, sự tin cậy và giúp đỡ lại. Không phải là trả nợ ngang giá, mà nhiều khi ông được giúp hoàn thành những nhiệm vụ to lón liên quan đến vận nước…

 

Đang nói chuyện về cái b́nh phong, cái vỏ bọc nghề nghiệp, ông Ẩn phải ngừng câu chuyện để nghe điện thoại. Không rơ câu chuyện của ông với ai đó, liên tưởng tới câu chuyện bỏ dở, ông buông máy điện thoại để tiếp tục cái ư nghĩ liên quan tới lối ứng xử mà ông suốt đời tuân theo.

 

“Ông bạn này người Hoa, 70 tuổi, bạn tốt. Cuộc sống ở đời có hai cái: thứ nhất là quan tâm đến người khác. Thứ hai là phải tranh thủ chơi với người bạn tốt, dù cho người xấu có nhiều, càng ngày càng xấu. Phải làm bạn thật t́nh cho hết cuộc đời. Đời thành công cũng nhờ hai cái đó”. (kỳ 6, ngày 23/10/06)

 

Chàng Kư Giả "Nhiều Tít"

 

Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống c̣n, với ḷng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Gay go khủng khiếp, cần sự quật cường...

 

Những năm 60, khi ông Phạm Xuân Ẩn bắt đầu trở thành phóng viên của Việt Nam Press Reuters; 1964-1965 là phóng viên của the New York Herald Tribune, rồi tuần báo Time từ 1965-1976; xă hội miền Nam đầy những biến cố. Hàng chục vạn lính Mỹ và chư hầu đổ vào. Nạn đĩ điếm “bùng phát” đến nỗi thượng nghị sĩ Mỹ J. William Fulbright, trưởng ban đối ngoại Thượng viện Quốc hội Hoa Kỳ đi Nam Việt Nam năm 1966 về nước đă nói rằng: Mỹ đă biến Sài G̣n thành một nhà chứa khổng lồ.

 

Trên tờ Le Monde của Pháp có bài viết về một Sài G̣n ngập ngụa trong ba làn sóng: bán dâm, tham ô và nạn chợ đen. Người ta nói rằng chính phủ thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ thành lập một công ty kinh doanh nghề mại dâm. C̣n tổng trưởng Bộ Xă hội th́ khoe: Nghề gái điếm phát triển tới mức trở thành một trong những nghề có tổ chức tốt nhất.

 

Sài G̣n, nơi lương tâm và ḷng yêu nước không bao giờ lắng, đă có cả một phong trào đấu tranh chống văn hóa đồi trụy và nô dịch của Mỹ, bảo vệ thuần phong mỹ tục Việt Nam.

 

Trong t́nh h́nh ấy, riêng chỉ là một nhà báo, ông Ẩn phải “lặn sâu” vào mọi giới trong xă hội. Ông không chỉ quen với đám x́ ke ma túy tới độ qua xem họ chích trên đường Lê Lai, chơi với cả ông trùm. Ông tận mắt quan sát họ trong t́nh trạng ngà ngà hoặc thiếu thuốc, vật vă. Lâu lâu ông cũng viết những bài điều tra xă hội, mặc dù công việc chính của ông là một chuyên gia về phân tích chính trị, quân sự và chuyên viết chiến tranh.

 

“Tôi có nhiều tên lắm. Họ gọi tôi là chuyên viên đảo chính v́ luôn viết về quân sự, về biến cố chính trị và các cuộc đảo chính. Là “tiến sĩ Cách mạng” cũng v́ chuyên viết về các đổi thay thời cuộc”. Ông cũng có cái tên giảng viên sinh lư cho các cô “tứ thời” thường đến ngồi bàn với ông Ẩn tại “đại học Continental” (nhà hàng) chờ khách. Tên là “bác sĩ chó” v́ Ẩn biết chữa bệnh cho chó của các bà bạn đầm. “Tôi nhiều tít lắm” - Ông Ẩn c̣n kể ra thêm một cái tên lạ người ta đặt cho là “giáo sư  Sexology”: Lúc chiến sự tạm yên, để đổi đề tài, ông hay viết về các cô gái điếm, vũ nữ. Thời đó, nhân viên bảo vệ thuần phong mỹ tục hay bắt các cô vũ nữ lố lăng và họ thường biết ơn vô cùng “ông nhà báo” hào hiệp, có uy đă quen c̣ mà xin tha cho các cô. Không chỉ dân x́ ke ma túy có thể nói dóc với ông ngay bên bàn đèn, khi ông ngồi coi người ta tiêm thuốc, Ẩn c̣n được các cô vũ nữ giúp kể nhiều chuyện về cuộc sống đưa đón khách để làm tài liệu viết bài. Ông có thể kể cho bạn đọc cuộc sống các cô ra sao khi lấy Mỹ, nếu rủi có con không nuôi được th́ cho ở đâu. Cũng có khi ông đi cùng kư giả Mỹ làm các cuộc phỏng vấn tận Quy Nhơn.

 

“Những kư giả kiểu đó, an ninh bám theo ngay”, ông Ẩn nhớ lại chuyến đi cùng một nữ kư giả Mỹ vào đúng thời gian quân Mỹ bị tấn công lẻ ở bất cứ chỗ nào. Phong trào diệt Mỹ của quân dân ta đang lên cao. Những ổ gái điếm cũng có lúc gặp khó khăn, ế hàng v́ lính Mỹ được lệnh cấm vào những chỗ đó nguy hiểm. Việt Cộng thường tận dụng diệt Mỹ trong các sào huyệt ăn chơi, lơ là mất cảnh giác. Trong chuyến công tác đó, kư giả Ẩn ở tại nhà tỉnh trưởng c̣n nữ kư giả Mỹ ở nhà một tướng Mỹ. Khi thâm nhập thực tế, họ đi dọc theo các Snack-bar, tiệm nước dọc bờ biển, hỏi chuyện các cô nàng đang ế khách. Ngồi trong tiệm, lâu lâu thấy bóng lính Mỹ, một cô mời gọi: “Come on, boy, no vi-xi, no vi-đi (V.C - Việt Cộng; V.D - Venereal Diseases). V.D là tên của bệnh giang mai khó chữa. Lúc đó thuờng được gọi là bệnh Okinawa do lính Mỹ bên đó mắc phải và đă nhờn với kháng sinh thường dùng. Kháng sinh chữa không ăn thua. V́ sao kư giả đi kiểu đó bị an ninh “bám?”

 

“An ninh rất sợ kư giả phản ánh thực trạng tồi bại của xă hội. Họ đi theo giải thích cho kư giả hiểu là đừng có viết những mặt trái đó”. Chẳng qua là chuyện xă hội b́nh thường, đừng viết nhá! Đời sống khó khăn. Nông thôn ra. Bị gạt. Nhưng đâu phải vậy. Làm sao lừa được người kư giả đă biết rơ mọi điều. Ăn chơi của đám có tiền đă lên đến đỉnh cao: họ phải hoán đổi cả gái nhảy từ Hồng Kông, đổi món. Ở Sài G̣n, trong các nhà hàng Mỹ Cảnh, Tự Do, Chợ Lớn… dân chơi không c̣n thích nhảy với vũ nữ quen. Chuyện này một ông bạn của Ẩn đă gặp trong một chuyến đi Hồng Kông. Người bạn đó không biết nhảy đầm nhưng được mời vào pḥng khiêu vũ. Đụng một cô vũ nữ không nhớ là ai, vậy mà cô ta reo lên “Hà, anh Hải ở Xây Cung (tức Sài G̣n) mới qua hả?” Hỏi cô ta làm ǵ ở đây, cô nói “Đổi qua. Mai mốt chuyển về Xây Cung lớ”.

 

Ông Ẩn hay kể chuyện trào phúng về cái nghề làm báo của ḿnh. Câu chuyện vui ông nói là của Mỹ hẳn hoi khỏi ai chê trách. Con của kư giả nọ một hôm đi học, cô giáo hỏi ba làm nghề ǵ? Nhà báo. Báo nào con không biết. Con về hỏi ba, cô hỏi ba bạn, bạn nào trả lời cô cũng hiểu. Bác sĩ, biết khám bệnh. Luật sư, giáo sư, lái xe cô đều hiểu cả, chỉ có nhà báo là con cũng không biết giải thích thế nào. Mẹ nói: giải thích dễ lắm. Con mẹ nào đó, thằng cha nào đó không làm được nghề ǵ hết v́ không có bằng cấp. Luật sư, bác sĩ, lái xe phải có bằng. Thằng này không có bằng cấp nào nên nó không làm được ǵ hết đành đi làm báo. Viết sao cho người ta đọc được th́ viết. Nó làm mấy nghề khác không được.

 

Những chuyện kiểu “tiếu lâm” ấy ông Ẩn nói về nghề ḿnh vừa có chất tinh nghịch lại như có một chút ǵ đó giải thích cho những ǵ “kỳ cục” mà ông đă sống qua. Nói như chế giễu vậy nhưng ông yêu nghề báo lắm, hết ḷng với nghề. Rồi như nó “vận” vào ông thật, đứa con gái của ông đi học lớp hai, cũng được hỏi rằng ba làm ǵ. Nó giải thích nghề kư giả của ba như sau: Thấy ba toàn ra tiệm ngồi ăn, tán dóc, tới tháng mấy ông Mỹ trả lương cho ba đem về cho má đi chợ!

 

Ông giải thích thêm: đă là kư giả hồi đó th́ thấy biểu t́nh, có chém chết nó cũng chụp ảnh viết bài. Thượng vàng hạ cám cái ǵ đám báo chí cũng t́m biết. V́ thế an ninh nó theo là phải: kư giả tụi tôi có “mùi hôi tanh” ngửi thấy từ xa. Phải chăng ông đang nhớ lại những tháng năm lăn lộn với nghề, vừa làm một nhà báo giỏi thực sự cho ṭa báo của ḿnh, vừa có thể từ vị trí nhà báo được tin cậy mà có nhiều nguồn trung gian quan trọng lấy được tin tức cho cuộc chiến đấu của dân tộc mau thắng lợi.

 

Ngày nay, chúng ta sống ở một thời đại mà thông tin, báo chí phát triển đến mức con người lại phải đối mặt với sự loạn tin tức, chắc hẳn có người sẽ mỉm cười khi nh́n về thời gian làm báo của quá khứ. Nó có vẻ đơn giản? Hay là mọi sự đă tiến lên nhanh quá? Khi các nhà báo phương Tây đă từng hành nghề ở Sài G̣n nay trở lại chốn xưa, họ cũng đă phải kinh ngạc miêu tả sự biến đổi của đất nước này. Chi tiết cỏn con về người con trai một chủ tiệm café ch́a cuốn bài tập Oxford nhờ chỉ cách dùng điều kiện cách, một thanh niên dọn cây đổ cũng biết đài VOA đêm qua giảng đến bài số mấy - chi tiết cỏn con đó khác xa với h́nh ảnh đất nước này khi xưa họ biết.

 

Tác giả Edith Lederer lái xe từ Sài G̣n ra Đà Nẵng cố t́m các đài kỷ niệm chiến tranh xưa và ông đă nhận ra rằng căn cứ quân sự Đà Nẵng của thủy quân lục chiến năm 1965 đă biến mất trước vẻ nhộn nhịp của một trung tâm thương mại lớn của thành phố đang mọc lên. “Căn cứ Mỹ tại Biên Ḥa nay trở thành một đống xà bần to quá xá và The Brinks, căn cứ Mỹ cuối cùng tại Sài G̣n, nay sắp bị san bằng”.

 

Họ có thể trở lại đất nước này, ngửi lại không khí sặc mùi xăng không phải của chiến trận, mà là cái bệnh ô nhiễm của xứ sở phát triển biến đổi nhanh. Họ có thể thấy sân thượng của Continental, nơi ngày xưa những phóng viên nước ngoài viết chiến tranh lui tới, nay ở đó có bán Pizza. Khách sạn Hoàng Gia chốn tiêu hoang của dân nhà báo xưa, nay là nơi bán kem Ư. Khá nhiều người Mỹ và phương Tây giờ đây lái xe, du khảo, chạy v́ ḥa b́nh trên con đường quốc lộ, mà “adrenalin trong cơ thể không c̣n phải lên từng cơn qua mỗi khúc quẹo như thời chiến tranh không có Việt Cộng phục kích th́ cũng có Mỹ ném bom”. Thậm chí Peter Arnett c̣n nhận xét rằng để kinh doanh du lịch, người Việt Nam không thờ ơ với cảm giác của du khách và đă “thương mại hóa cả các chiến trường” - đó là các tour đi Khe Sanh…

 

Th́ nói làm ǵ, khi thời đại đă thay đổi lớn lao con người cũng gặp cả những thảm họa mới. Từ trước đến nay các chuyên gia nghĩ rằng các bệnh mới, gay cấn, thách đố nhân loại, do virus gây ra, đều bắt nguồn từ đột biến gen. Nhưng bây giờ điều đó không đáng sợ bằng ảnh hưởng của việc xă hội loài người biến đổi. Người ta lấy thí dụ một con HIV đă có từ lâu ở Châu Phi. Nó không lộng hành như những năm 70, 80, mà hàng thế kỷ nó không vượt biên giới để đi đâu cả. Những năm 60 được gọi là những năm “không vượt qua lũy tre làng”. Chỉ đến khi giao thông vận tải và du lịch phát triển, nó đă đưa mọi thứ đến.

 

Trước đó th́ chiến tranh, sau này là mậu dịch và du lịch khiến con người từ lũy tre làng đi đến tận cùng cuối đất, nh́n thấy mọi nền văn hóa. Chỉ không đầy một thế kỷ, nhiều thứ đă thay đổi, và tốc độ của đô thị hóa, của lối sống con  người, của khai thác đất đai, của du hành bằng máy bay đă thu nhanh bước của virus. Bao nhiêu là vấn nạn, bao nhiêu là lăng quên!

 

Th́ chàng kư giả trẻ ngày ấy, nay đă ngoài 70 tuổi rồi c̣n ǵ. Tuổi thanh xuân của ông vật lộn với những cam go, với sống c̣n, với ḷng can đảm hy sinh, sự lựa chọn con đường. Nó cũng gay go khủng khiếp, cần sự quật cường. Có thể nh́n thấy cái bối cảnh mà thế hệ ông đă sống, qua vài con số. Bức tranh c̣n lại là 15 triệu tấn bom đă ném xuống nay vẫn c̣n 300 ngàn tấn chưa nổ. 3 triệu người chết, 4 triệu người bị thương, 2 triệu người nhiễm chất độc hóa học, 170 ngàn người già mất người thân phải sống nhờ xă hội…

 

Nếu đứng lùi để nh́n lại bức tranh ấy, với h́nh ảnh một con người không mang súng đạn phải đương đầu. Ông đă như mọi người khác ở Việt Nam phải nếm trải. Nhưng cũng có thể nh́n từ một vị trí khác, góc độ khác sẽ thấy một h́nh ảnh của cuộc đời lạ lùng. (kỳ 7, ngày 24/10/06)

 

Sống Với Vỏ Bọc

 

Không, ngày đó không đơn giản. Ngay từ những ngày cạnh tranh tin tức của các hăng phương Tây. Người kư giả đứng được trong cái nghề vỏ bọc ấy của ḿnh đâu phải không có gian nan.

 

Trong nghề báo, anh chẳng lường trước được điều ǵ. Có một câu chuyện hoàn toàn là  nghiệp vụ báo chí, từ thời kỳ đầu thập kỷ 60, khi ông Ẩn đang viết cho hăng Reuters. “Lúc đó báo chí đă cạnh tranh kinh hồn rồi. Với AP, UPI, AFP, chưa kể các hăng của Đài Loan, Triều Tiên và các hăng thông tấn nhỏ, các báo hàng ngày”. Một lần ông phải đưa tin việc đại sứ Mỹ lúc đó là Frederick E. Nolting khánh thành đường băng sân bay Tân Sơn Nhất. Ông Nolting sẽ đọc diễn văn tại sân bay. Bản photo bài diễn văn, ông Ẩn đă có trong tay rồi. Đó c̣n là bản do chính Nolting sửa bằng tay đưa đánh máy lại. “Tôi có photo bản sửa rồi, nhưng vẫn phải cho cậu phóng viên trẻ lên canh trên sân bay, khi nào ông Nolting đọc xong, phôn về cho tôi biết, là tôi sẽ chạy bài đó lên máy telex sang Singapore rồi mới chuyển đi khắp thế giới. Có bản diễn văn trong tay, vẫn phải chờ. Nhỡ nó té xe sao? Kinh nghiệm các báo ngày đó đă có rồi: Ông Dag H.A.C. Hammarskjold người Thụy Điển, Tổng thư kư Liên hiệp quốc (1953 - 1961) rớt máy bay chết ở Âu châu. Kư giả không hay, đưa tin ngày giờ ông ta đến sân bay, tiếp đón linh đ́nh. Trật tuốt luốt. Lư do v́ kư giả ngồi ở nhà viết tin dựa trên bản chương tŕnh di chuyển của ông Hammarskjold phát trước”.

 

V́ thế ông Ẩn cẩn thận. Có bản diễn văn trong tay rồi, vẫn phải cử một nhà báo lên ngồi nghe. Hễ khi nào Nolting đọc xong th́ nhiệm vụ của anh ta là điện thoại về báo để đưa bài chạy telex sang Sing. Mọi việc diễn ra suôn sẻ như đă định. Vậy mà tai họa lại đến một cách bất ngờ nhất: ”Vô phúc ngày sau - tối ở Mỹ, ngày bên ta nên tối đó Tiếng nói Hoa Kỳ đưa. Đài VOA tỏ vẻ khách quan không tự bênh Mỹ nên thường hay dùng tin của Reuters (Anh). Nó trích Reuters trên VOA. Nolting sáng sớm vừa cạo râu vừa nghe đài VOA. Người trong Ṭa Đại sứ kể lại: Ổng ném cái dao cạo râu, giận dữ bảo thằng Reuters nó có nội gián trong Ṭa Đại sứ Mỹ”.

 

V́ sao ông Nolting giận? Đài phát bản diễn văn của chính ông đọc hôm khai trương đường băng Tân Sơn Nhất mà? Th́ ra là có bản diễn văn rồi, có cả sự sửa chữa của chính Nolting rồi, nhưng ngay khi đang đọc ông ta tự bỏ lướt qua một số câu chữ mà ông ta cho là không chỉnh, vậy mà khi phát lên lại vẫn c̣n y nguyên. Như thế chứng tỏ bản đó không phải bản ông đọc, mà đă được chuyển đi trước, c̣n nguyên tất cả.

 

Ông Ẩn có bị phiền toái ǵ vụ này không? “Sao lại không! Nó nhờ an ninh chính quyền Sài G̣n hỏi tôi. V́ là chỗ quen biết nên câu chuyện không có vẻ ǵ “hỏi cung”. Ẩn ơi, mày chết rồi dám ăn cắp tài liệu ṭa đại sứ Mỹ. Ǵ đâu mà nói tầm bậy tầm bạ, ai ăn cắp đâu! Tùy viên báo chí Mỹ mời tôi đi uống nước. Mày ăn cắp ǵ nói coi. Bài ông ấy đọc, có lấy trước không. Vốn là chỗ quen biết, có lẽ anh ta hỏi theo ư nghĩa khai thác cách lấy tin của đám kư giả mà thôi. Ông Ẩn: Có người quen đưa đọc vậy thôi, chẳng có ǵ quan trọng”. Câu trả lời tưng tửng đó không đáp ứng được yêu cầu. Nolting chỉ muốn kiểm tra những người trong Ṭa đại sứ, nhưng muốn vậy phải hỏi để ông kư giả cho biết ai đă cung cấp. Tùy viên báo chí George Philip được cử làm việc này v́ anh ta chơi rất thân với kư giả Ẩn. Họ thân nhau tới mức trước khi về nước, Philip c̣n tặng lại ông Ẩn con chó quư. Câu chuyện cũng chỉ trong phạm vi của sự chân t́nh.

 

“Ẩn, tao nói thiệt, chắc có đọc?” “Đúng”. “Ai đưa?” “Mày biết người Mỹ dạy tao làm báo rất kỹ: thà mất việc chứ không nói ra nguồn tin”. George Philip đành nằn nỉ: “Không nói ra cũng được. Trong Ṭa Đại sứ có ba loại nhân viên: Mỹ - Hoa - Việt - Ẩn đừng lo họ bị trả thù. Ṭa Đại sứ sẽ giải quyết nhẹ nhàng thôi: tập hợp họ lại khuyên nhủ chung là không nên làm như vậy. Sẽ không truy ai cả, v́ nếu truy, ai cũng sợ mất việc làm, ai cũng chối. Nếu họp chung hết, sẽ không có lợi v́ người nào cũng thấy nhột nhạt. Tụi da trắng ít mặc cảm. Nếu họp chung cũng sẽ nói: Reuters không có lỗi. Lỗi nó nghề - c̣n nghề của các nhân viên Ṭa Đại sứ là không đưa trước cho báo chí”.

 

Ông Ẩn giải thích rằng cũng muốn giúp bạn nhưng nguyên tắc nghề nghiệp phải giữ nguồn tin, tên cụ thể không cho được. “Ẩn chỉ cần nói Mỹ da trắng, da màu, da vàng, người Việt hay Hoa? Chúng tôi không truy họ mà muốn biết để họp nhóm riêng cho họ đỡ tự ái. Đây chỉ là bài học khuyên nhủ họ tính cẩn thận thôi”. Dù Philip có nói hạ mức xuống như vậy Ẩn vẫn  “Tôi không nói được. Nguyên tắc nghề nghiệp chính Mỹ dạy xin anh  thông cảm”. Anh đúng là nghề nghiệp cứng đầu. Philip nhận xét thế. Hơn nữa họ đều biết Ẩn là một nhà báo có tên tuổi và thân quen lớn, có gây rắc rối th́ Ẩn cũng chỉ cần “nói một tiếng là huề”. Nhờ Ẩn cương quyết vậy nên các”nguồn tin” được bảo vệ, họ càng tin cậy một nhà báo trung thực.

 

Nếu giở lại cuốn sử về cuộc kháng chiến giành độc lập chống Pháp, chống Mỹ của Việt Nam, có cả một kho sử sáng chói của ḷng can đảm và cũng có cả những năm đen tối nặng nề dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng ngày 6-6-1952 đến đầu tháng 1-1954. Khi Hiệp định Genève kư kết, Pháp hết vai tṛ, phải giao Miền Nam cho Mỹ. Sụp đổ theo Pháp là chế độ bù nh́n. Thủ tướng bù nh́n cuối cùng thời Pháp là Bửu Lộc. Hoàng thân Bửu Lộc làm thủ tướng ngày 11-1-1954, Ngô Đ́nh Diệm làm thủ tướng ngày 6-7-1954, Bảo Đại cũng thôi cầm quyền. Chính phủ mới phải nhường chỗ cho thủ tướng bù nh́n của Mỹ lúc đó là Ngô Đ́nh Diệm - Diệm đă lên như thế nào và đă chết như thế nào, có thể viết thành cuốn sử riêng.

 

Ban đầu Diệm chưa có thực lực ở Miền Nam, chỗ dựa chính trị chính y muốn là lực lượng công giáo Miền Bắc di cư vào Miền Nam. Đă xảy ra cuộc chiến với tham mưu trưởng quân đội Nguyễn Văn Hinh thân Pháp. Bảo Đại triệu tập Hinh sang Pháp vừa yên th́ Diệm lại gặp xung đột dữ dội với Tam Liên (Cao Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên) mà sự thật là Tứ Liên (Cao, Thiên, Ḥa, B́nh): Cao Đài, Thiên chúa giáo Miền Nam thân Pháp, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên. Ở đường Miche (Sài G̣n) có một trụ sở của quân J. Lerry là U.M.D.C. (Unités Mobiles de Défeuse des Chrétientés) do quân đội của Col. Jean Leroy (người Pháp lai Việt) đa số là Thiên chúa giáo Bến Tre.

 

Họ đă đánh lẫn nhau ngay trên đường Catinat, Petrus Kư, lửa cháy rực trời giữa Sài G̣n - Chợ Lớn, thiêu rụi hai vạn nóc nhà dân. Cơn hỏa hoạn khủng khiếp c̣n ghi dấu trong kư ức  những người lớn tuổi. Pháp huy động cả xe tăng, máy bay để ủng hộ B́nh Xuyên, đến nỗi Tổng thống Mỹ lúc đó là Eisenhower phải cấp tốc trợ lực cho Diệm - lănh tụ B́nh Xuyên được đưa sang Pháp. Người Sài G̣n ngày đó nhớ những biển lửa từ Tân Thuận đến Xóm Củi, và kể cho nhau nghe cái chết của tướng Cao Đài Trịnh Minh Thế. Thế ở trong Tứ Liên rồi quay ra đi với Diệm. Chính Diệm - Nhu cho người giết Thế ngay chỗ cầu Tân Thuận. Diệt được thủ lĩnh Cao Đài, đuổi được Bảy Viễn B́nh Xuyên và U.M.D.C. lúc đó Diệm mới yên bề độc chiếm Sài G̣n.

 

Thật ra, đối thủ chính của Diệm không phải là Hinh, Bảy Viễn, mà chính là ḷng dân. Những phong trào rộng lớn của dân gắn liền với những tên tuổi như kỹ sư Lưu Văn Lang, luật sư Trịnh Đ́nh Thảo, Nguyễn Hữu Thọ, bà Nguyễn Thị Lựu, Ḥa thượng Thích Huệ Quang… Chính họ đă nổi lên trong phong trảo bảo vệ ḥa b́nh  Sài G̣n - Chợ Lớn… Có thể nói suốt từ năm 1954 cho đến đảo chính 1963 - trong gần 10 năm ấy, chế độ độc tài gia đ́nh trị Ngô Đ́nh Diệm đă gặp biết bao sự chống đối của nhân dân.

 

Chống trưng cầu dân ư và bầu cử Quốc hội của Diệm, đ̣i hiệp thương, tổng tuyển cử, đấu tranh cho dân sinh dân chủ. Diệm ra luật 10-59 từ  việc kéo lê máy chém đi khắp Miền Nam giết hại người yêu nước, cho tới đỉnh điểm là đàn áp Phật giáo năm 1963. Ngày nay người dân đi qua ngă tư Nguyễn Đ́nh Chiểu và Cách mạng Tháng Tám vẫn thấy am thờ Ḥa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào tháng 6-1963. Gần 40 năm đă qua, nhiều người trẻ tuổi không được chứng kiến giây phút của ngàn sư săi tăng ni phật tử lặng lẽ đi sau chiếc xe hơi. T́ kheo Thích Quảng Đức từ xe bước  ra ngồi xuống đường cho các vị sư  tăng tưới xăng vào ḿnh và chính tự tay Ḥa thượng đánh lửa và b́nh tĩnh tay lần tràng hạt trong tiếng tụng kinh. Sau đó là biển người, sinh viên, học sinh, nhân dân kéo về chùa Xá Lợi, nơi di hài Ḥa thượng được đưa về. Dù giới trẻ ngày nay, hoặc nhiều dân cư mới của Sài G̣n, không được nh́n cảnh ấy, nhưng am thờ Ḥa thượng ngày nào cũng vẫn có hoa và hương khói…

 

Diệm tấn công các chùa, tiến công các trường học… Các vùng xung quanh th́ chiến tranh du kích nổ ra mạnh mẽ khắp Nam Bộ. Các chiến thắng Đầm Dơi, Cái Nước, Lộc Ninh, Ấp Bắc vang dội. Trong t́nh cảnh Diệm không làm tốt nhiệm vụ biến Miền Nam thành “Tiền đồn thế giới tự do” của Mỹ như vậy, Mỹ phải thay ngựa giữa ḍng, xui phe quân nhân đối lập với Diệm làm đảo chính. Tướng Dương Văn Minh cầm đầu phe đảo chính, sau đó lên thay Diệm. Người ta đều biết việc Diệm - Nhu đă chạy trốn trong nhà thờ Cha Tam (Chợ Lớn) và bị phe đảo chính bắt, giết trên đường về Sài G̣n như thế nào.

 

Trong bối cảnh đó, làm báo như ông Phạm Xuân Ẩn, theo dơi việc thay đổi chính quyền, thay đổi đường lối, là rất quan trọng. Đó không chỉ là các yêu cầu của nghề báo, mà cũng là yêu cầu của người điệp viên. Sau này, khi nhà báo Morley hỏi câu “Họ đă trông cậy ở anh điều ǵ”, ư muốn hỏi cấp trên đă cần Ẩn hoạt động đem lại điều ǵ. Ông Ẩn: “Cũng là những điều mà ṭa báo Time muốn tôi viết. Cấp trên của tôi muốn được biết về các căn cứ, tiềm năng của các đơn vị, các cấp chỉ huy, để biết ai tham nhũng và những ai có thể tranh thủ được. Họ muốn biết mọi chuyện về chính trị, cũng những thứ mà các anh  làm báo trước đây muốn được biết”.

 

Nhưng ông đă biết những điều đó theo cách nào? “Chức năng đầu tiên là tin tức”. Ông Ẩn với tính hóm hỉnh rất đặc biệt, phát triển câu chuyện của ḿnh: “Mà cái ǵ lại không cần tin tức chứ? Cưới vợ cũng cần biết tin tức, ông nội, bà cố sao… Nhưng phải làm theo h́nh thức research (điều tra) th́ mới cao hơn”. Thời của ông vào nghề, ở Việt Nam chưa có trường dạy báo chí. Nước ngoài mới dạy. Nhưng thời đó của ông, cũng bắt đầu có nhiều kư giả. Họ có hai loại thẻ hành nghề: một do Bộ thông tin cấp, c̣n loại khác do Mỹ cấp. Loại này chỉ cấp cho những người được tin tưởng và được Mỹ điều tra an ninh (Security Clearance) xong.

 

Họp báo, đi theo các cuộc hành quân, đi trong giờ giới nghiêm, viết các cuộc biểu t́nh. Khi các ṭa báo nước ngoài tại Sài G̣n tuyển người, họ chú trọng việc không chỉ thật sự giỏi tiếng Anh, mà c̣n là người quan tâm đến thời cuộc, đến đất nước, chính trị, xă hội. Chuyên môn kỹ năng nó bảo sẽ học được. “Lúc đó tôi viết quân sự, chính trị, viết về các âm mưu, lật đổ, biểu t́nh, cháy lớn. Mỗi ngày phải cho tin chạy liền liền. Hàng ngày xách điện thoại kêu các nơi: Công an, cảnh sát, chiến tranh tâm lư, bộ kinh tế… Mỗi nơi đó có một viên sĩ quan báo chí hướng dẫn. Ḿnh đă làm thân, quan hệ tốt. Cũng có khi người ta cần ḿnh, giúp cho họ cách tiếp giới báo chí. Có cháy lớn, kêu cứu hỏa hỏi. Tôi luôn có bản đồ hành quân, kinh tế, chính trị,  có diễn biến ǵ chấm ngay vào. Tất cả các bản đồ diễn biến chiến tranh đăng trên báo Time đều do tôi vẽ”.

 

Nhưng hăy quay trở lại thời kỳ Miền Nam c̣n đang dưới chế độ Diệm hà khắc. Diệm đă bị đảo chính hụt không thành vào tháng 11 năm 1960. Theo hăng thông tấn UPI chỉ trong 3 ngày sau đảo chính, số người bị Diệm bắt lên tới 30.000. Trong cái xă hội sôi sục như núi lửa phun bất kỳ lúc nào đó, nhiệm vụ của kư giả Ẩn đồng thời của điệp viên Ẩn phải là biết được khi nào th́ Mỹ có ư định thay đổi đường lối, thay “nhân sự”. Điều ông phải để ư là khi nào th́ Mỹ thay đại sứ ở Miền Nam như tin tức đồn đại. Bao giờ th́ Cabot Lodge sang thay Nolting. Ngô Đ́nh Diệm giấu tin này ghê lắm. Bởi đại sứ mới sang, nghĩa là đảo chính có thể diễn ra, là Mỹ đổi đường lối, là ngày tàn của chế độ độc tài cá nhân gia đ́nh trị họ Ngô.

 

“Tôi viết một tin độc đáo: Một tuần nữa Nolting về nước”. Ông Ẩn đă “mạo hiểm” đưa tin này dựa vào những thẩm định chính xác, tinh nhanh của óc quan sát cá nhân, kết hợp nguồn tin dựa vào những chi tiết nhiều người bỏ qua. Thường buổi tối các kư giả hay tụ tập ở tiệm ăn Pháp có sàn nhảy và dàn nhạc có tên là La Cigale (con ve sầu). Nhân thể vừa ăn tối, uống rượu nhảy đầm, họ vừa trao đổi tin tức. Lúc đó tại Sài G̣n đă có các kư giả Nhật, Pháp, Đức, Ư, Na Uy, Thụy Điển. Có 4 hăng lớn của Pháp, Mỹ, Anh. Đă cạnh tranh kinh hồn. Trong t́nh h́nh đó Ṭa Đại sứ Mỹ cũng trở nên khôn ranh: Họ lợi dụng chỗ nghe ngóng trao đổi tin tức nhanh chóng hiệu quả ở cái tiệm ăn có khiêu vũ La Cigale này. Khi cần tung một tin ǵ đó lên báo, nhân viên Ṭa Đại sứ lại tới làm như chỉ là nói chuyện bên ly rượu.

 

Đă thành thói quen hễ thấy bóng sĩ quan tùy viên báo chí Ṭa Đại sứ Mỹ nói chuyện là đám kư giả bám theo kiếm tin, làm thân. Khi nào có tin tức ǵ cần lộ ra cho báo chí mà không muốn phát ngôn chính thức, họ dùng vai tṛ của viên sĩ quan tùy viên báo chí đó đưa ra. Kư giả Ẩn thường quan sát hiện tượng này. Ông không vồ vập mà lạnh lạnh, không vồn vă bám theo đưa tin ào ào. Ông muốn làm sâu, cẩn trọng “Tôi hay kiểm, mà kiểm quá lâu không được, mất tin nóng. Hôm đó tôi lại quán La Cigale từ sớm, thấy viên bí thư ông đại sứ Nolting. Đám kư giả vẫn thường trao đổi hỏi nhau về bài vở “bữa nay mày đánh ǵ” nghe cứ như đám đánh bạc. Thực ra là “đánh” tin đi. Cũng có khi chơi theo tinh thần gentlemen, cho nhau những tin ḿnh không xài, hoặc đă “đánh” đi những điều chủ yếu rồi. Hơn nữa, họ gặp nhau để kư giả tự bảo vệ nhau xem có ai bị mật vụ bắt cóc không.

 

Viên bí thư của Nolting mới ngoài 20 tuổi, rất đẹp trai. Mọi khi mặc đồ đàng hoàng lắm, bữa nay lại diện áo chim c̣, dẫn theo một cô gái Việt Nam xinh đẹp tới nhảy đầm. “Ê, bữa nay sao mặc lôi thôi, lại có cả đào”, một nhân viên an ninh Mỹ làm Ṭa Đại sứ ngồi trên ghế cao của quầy rượu (bar) hỏi. Viên bí thư trả đũa: “Tuần tới tao về nước rồi. Cho tao xả hơi chứ”.

 

Chỉ có chi tiết đó đă “bỏ phiếu” chắc chắn cho dự đoán của Ẩn về một cái tin ông theo hoài mà nắm chưa chặt. Thông thường, sinh hoạt của đám kư giả là: khi nào không moi được tin ǵ mới đi ăn. Khi thấy vắng mặt một kư giả nào đó th́ phải nghi ngay: nó có tin ǵ quan trọng đang lẩn đi viết. C̣n lần này, viên bí thư đại sứ nói rằng “một tuần nữa tao về nước rồi” th́ cái tin nghe trước đây đă có thể “kiểm chứng”. Ông Ẩn chạy về đánh ngay cái tin độc đáo “Một tuần nữa thay đại sứ - Nolting về nước”. Có cả một chút mạo hiểm, tin ở sự suy diễn của ḿnh.

 

Tin này đưa ra trúng phóc làm một lần nữa Ṭa Đại sứ điên đầu. Nhất định bên trong Ṭa Đại sứ có người làm cho đám báo chí. Lần này th́ không thể tha thứ. B́nh thường, đám mật vụ Phủ Tổng thống và an ninh Mỹ theo dơi chặt chẽ hăng Reuters. Họ thường cho người mặc đồ giả, hút thuốc lào ngồi trước cơ quan gần đó lắng nghe ai bàn tán ǵ, ai ra vào Reuters. Nhân viên an ninh thân quen Ẩn hỏi: chắc lần này Ẩn khó thoát. Ṭa Đại sứ nó làm dữ, chúng tôi không có cách nào bênh anh nữa đâu. “Bề nào tin đó rồi cũng công khai”, Ẩn căi. Nhưng lúc đó c̣n là “đồ mật mà”. “Nó sẽ phải t́m nguồn tin, ông chuẩn bị sẵn sàng mà đối phó. Ông suy nghĩ kỹ đi. Tụi tôi chưa hỏi ông đâu”.

 

Bao nhiêu lời nhắn nhủ, gợi ư. Nhưng làm sao nói nguồn tin được, trái nguyên tắc kư giả. Nếu nói thật kể như thua. Dù họ có hứa danh dự không trừng trị cũng không thể. Săn tin, gay cấn, kư giả bị an ninh bám. Đứa này hỏi thăm đứa kia mà ra chứ có ai nói. Cứ cái lập luận đó, ông Ẩn đă không bao giờ nói ra nguồn nào ông có được. Có lẽ họ cho ông là một kư giả giỏi moi tin, một kư giả “khó chịu” cho nên họ t́m cách khác để đối phó. Họ vận động để hăng Reuters phải cho Ẩn thôi việc. Bên Anh đă hứa nhưng chưa làm được. Họ muốn chuyển Ẩn đi Sing. Nhưng chuyển dứt Ẩn ra khỏi mối quan hệ rộng lớn đâu phải chuyện một ngày. Ẩn quen Phủ Tổng thống, Ṭa Đại sứ, Bộ Tổng tham mưu…

 

Cũng may là khi đó Diệm đă đang đi đến phút sụp đổ. Sau ngày đảo chính vào tháng 11-1963 một kư giả Mỹ, bạn ông Ẩn đă lấy được tài liệu trong đó có message “Đă thành công trong việc vận động cho Ẩn thôi việc”. Người bạn Mỹ chọc: “Đảo chính này cứu mày đấy”. “Đảo chính này cứu Mỹ cứu ai chứ cứu tôi đâu. Tôi là kư giả”. Bây giờ, ông Ẩn nhớ lại và b́nh luận: Lấy nghề kư giả làm b́nh phong là khó lắm. Địch dễ nghi ngờ, nó bám riết sẽ lộ. Thời kỳ đó nó nghĩ ḿnh va chạm v́ nghề nghiệp chứ không nghĩ ǵ khác. Nếu v́ nghề, th́ họ chỉ dụ dỗ, gây áp lực chứ không làm quá. Phải cho nó thấy ḿnh moi móc tin là bệnh kư giả chứ không dính dấp ǵ chính trị chế độ.

 

Người t́nh báo hoạt động độc lập, chỉ hai, ba người có liên quan chỉ đạo. Thời kháng chiến chống Pháp, Ẩn chỉ gặp, trực tiếp công tác với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lúc đó là người phụ trách t́nh báo. Thời chống Mỹ chỉ có ông Mười Hương và sau này thêm ông Cao Đăng Chiếm, và ông Mười Nho tức Xuân Mạnh biết. Nguyên tắc bí mật đó được đảm bảo cho ông Ẩn có thêm điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, không bị lộ. (kỳ 8. ngày 25/10/06)

 

Chất Chính Nghĩa Hai Mặt

 

Các nhà báo phương Tây không t́m thấy điều giả dối nào ở Ẩn. Và họ cho rằng nếu như bây giờ mới biết Ẩn là một agent của Quân đội Nhân dân Việt Nam th́ chính Ẩn là một thí dụ chứng minh, một ẩn dụ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

 

Bây giờ khi đă nghỉ hưu, làm nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Ẩn thỉnh thoảng tiếp loại khách “thế hệ sau”; một người bạn cũ nay là giáo sư đại học Mỹ, gửi con sang Việt Nam muốn viết luận án về đề tài kư giả thời Ngô Đ́nh Diệm.

 

Là một nhà nghiên cứu, phân tích thời cuộc, ông Ẩn quá rơ làng báo lúc đó ra sao. Nhưng hầu như ông ít quen giới báo chí Việt Nam. V́ nhiệm vụ, ông phải né họ. Nhưng là người làm nghề, ông vẫn biết nhiều nghiệt ngă của hoàn cảnh các nhà báo: chế độ kiểm duyệt. Tịch thu, đ́nh bản báo chí, đưa nhà báo vào tù, chuồng cọp, đưa về Mzziền Trung đày đọa trong các biệt pḥng của Chín hầm khét tiếng - lịch sử báo chí sẽ c̣n ghi tên những kư giả như Trần Ngọc Sơn bị đày và chết ở Côn Đảo, kư giả Anh Tín bị bắt giam ở Phú Quốc…

 

Có cả một thời bị kiểm duyệt đục bỏ nhiều quá, báo chí phản ứng lại bằng cách chỗ nào kiểm duyệt bỏ, họ cứ để trống hốc đến nỗi Diệm ra lệnh cấm báo để trắng. Th́ họ “cấm báo để trắng chứ đâu cấm để đen” thế là kư giả t́m cách xóa đen làm cho tờ báo nhiều hôm giở ra đầy mảng đen ng̣m thảm hại. Lại với tính trào lộng, ông Ẩn nhận xét về nghề. Ông bảo cô phóng viên Mỹ trẻ tuổi: “Làm việc ít thôi. Làm lâu, đời tan nát. Phải viết sách, nghiên cứu, chứ chạy theo nghề báo 10 năm là phụ nữ mất hết sắc đẹp. Chạy theo tin tức quá mất thưởng thức cái đẹp thiên nhiên xung quanh  ḿnh. Lúc nào cũng tưởng ngày mai trời sập. Làm đến nỗi mặt trời mọc hay lặn không thèm để  ư. Phụ nữ làm một giai đoạn thôi, chứ tất cả thành Pitơ Acnet… th́ chết!”

 

Câu chuyện để từ chối người đến viết về ông bao giờ cũng được thể hiện trong tiếng cười. Chắc ông đang nghĩ đến cái nghề suốt ngày chạy theo tin tức, suốt đời sống chạy theo các deadline, hạn chót của nghề báo. Vậy mà ông đă làm cái nghề “săn tin” theo nhiều đích khác nhau, suốt đời: săn tin để làm một nhà báo thực thụ, săn tin cho đất nước đánh thắng quân xâm lược, giành Độc lập - Tự do. Cái nghề săn tin của ông mới vĩ đại và thiêng liêng cao quư làm sao!

 

Nó đầy nghịch cảnh.

 

Chính ông, với tư cách phóng viên hăng phương Tây viết bài về sự kiện Bác Hồ mất năm 1969 để đăng trên báo Time. Làm báo không phải chỉ chạy quần quật với tin tức thoáng qua, mà phải điều nghiên, viết sâu. Tờ Time có khi sử dụng những bài ngắn tổng hợp của cả chục người viết. Sự kiện Bác Hồ mất, cả thế giới viết: Moscow, Bắc Kinh - dĩ nhiên rồi, lúc đó đang là những nước anh em. Cả Nicaragoa, Mêxico, Italia… Nhưng Time yêu cầu Sài G̣n, xứ sở Việt Nam của Cụ Hồ, phải là nơi viết chủ yếu. Ông Ẩn kể rằng tiểu sử Cụ Hồ th́ hăng nào cũng có đầy đủ. Ông chỉ được viết gọn trong 4 - 5 trang giấy và phân tích khách quan.

 

Người Đảng viên Cộng sản ấy không thể bộc lộ hết xúc động và t́nh cảm của ḿnh, ông phải “khách quan”, dùng phương pháp khai thác của báo chí, dẫn cả thơ chúc Tết của Bác “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, sưu tầm tư liệu từ thời kỳ Hồ Chí Minh hướng dẫn quân đội Việt Nam dưới thời Vơ Nguyên Giáp. Ông cũng tranh thủ phỏng vấn dân chúng Sài G̣n khi nghe tin Cụ Hồ mất. Nếu giở trong tạp chí Time ngày ấy, sẽ thấy đây là đề tài lớn được đưa trong nhiều trang. Sẽ thấy h́nh những người đạp xích lô đỗ chờ khách ở cửa chợ Bến Thành đang chăm chú đọc tin tức về Cụ Hồ. Bài báo của ông Ẩn chỉ là một trong hàng chục bài từ các nơi gửi về được ṭa soạn báo Time đúc kết lại thành một bài để in ra cho độc giả.

 

Ông không thể quên t́nh cảm của đủ mọi tầng lớp người khắp nơi trên thế giới - lứa người trong Thế chiến thứ hai đều biết rất nhiều về Cụ Hồ. Hơn thế nữa, có cả một master Mỹ làm việc ở pḥng thông tin Mỹ tại Sài G̣n trong một đợt rút lui từ ấp chiến lược Bến Súc về B́nh Dương định cư, tại đây anh ta kể ra vanh vách về Cụ Hồ cho chính Ẩn nghe. Anh ta c̣n dám nói: “Tất nhiên tôi biết về Cụ Hồ nhiều hơn anh”.

 

Ông Ẩn c̣n nhớ tại trại B́nh Dương, các kư giả đang ăn cơm. Chàng phó tiến sĩ ấy th́ say sưa nói toàn chuyện về Bác Hồ và tự hào rằng ḿnh như thuộc ḷng các tài liệu về Bác Hồ cũng phải thôi, là v́ anh làm luận án MA về chính trị, chuyên đề về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Anh bảo rằng đó là cua học mắc tiền  nhất về xă hội học, về chủ nghĩa Mác. Không phải ai cũng có thể học được v́ tiền nặng.

 

Làm việc chính thức cho Time từ 1969 - 1975 nhưng trước đó là các cơ quan báo chí khác, ông Ẩn không bao giờ quên nguyên tắc của nghề, cũng chính là nguyên tắc của một điệp viên. Ông bảo, báo nào cũng đ̣i tin tức nhanh, chính xác, khách quan. Ông Ẩn thường kể chuyện vui với các nhà báo trẻ. Làm trật vài tin là nó đuổi liền. Ví dụ nói ông A đi ly dị bà B - khi chưa biết rơ ai phải ai trái và ṭa án chưa xử là sai, nhưng phải nói A và B ly dị nhau. Một số người Hoa ở Hải Nam đi vượt biển xuống phía Nam, qua Rạch Giá bị dạt vào đất liền. Ông Ẩn, kư giả duy nhất được vào phỏng vấn và “bài học” về nghề báo được phong phú thêm hàng ngày. Tin được biên tập lại và in ra sau đó sếp của ṭa soạn từ Singapore bay qua phê b́nh “Bốn nhân viên đánh cá đảo Hải Nam thuộc Trung Cộng đi t́m tự do, bị sóng đánh dạt vào Rạch Giá”… “Viết đi t́m tự do phải đưa vô ngoặc kép. Cẩn thận vậy cho tôi, nếu không Trung Quốc sẽ đuổi cổ phóng viên của chúng tôi ở Bắc Kinh” - sếp nhắc.

 

Nhanh ăn th́ phải chắc. Nếu bài đưa sau người ta th́ phải nhiều tin hơn, “mập” hơn. Viết về sự kiện Bác Hồ mất, sở dĩ được khen v́ tài liệu phong phú. Có bài, ảnh đám tang Cụ Hồ tại Hà Nội, có h́nh các vị đứng đầu các nhà nước Liên Xô, Trung Quốc tại tang lễ. Có cả b́nh luận dự báo ai sẽ thay Cụ Hồ. Có đăng ảnh bốn vị lănh đạo lúc đó là Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh với lời phân tích về sự kế thừa các tinh hoa của Cụ Hồ. Ông Ẩn cũng trích một câu nói của Cụ mà ông thích, đại ư: Tôi là người già rồi. Người già nào cũng thích giữ một cái ǵ bí ẩn về đời ḿnh. Tôi cũng muốn giữ một số bí ẩn riêng của tôi.

 

Sự phong phú của báo Time đủ đi cả tháng bài liền về đề tài Cụ Hồ. Chủ trương của tờ báo: đề tài được cả thế giới chú ư, do đó viết sâu. Người đọc viết thư cho báo, nói về Cụ Hồ, được đăng lên cùng với h́nh ảnh người ở Vacsava khóc Cụ Hồ, c̣n người Hà Nội th́ mỗi người làm việc bằng hai, biến đau thương thành hành động. Ông Ẩn cũng là kư giả viết bài về cái chết anh dũng của người thanh niên ngoài 20 tuổi Nguyễn Văn Trỗi. Ông theo tin tức suốt từ lúc anh Trỗi bị bắt, thời gian bị giam và khi bị giặc bắn trong băi bắn Chí Ḥa. Ngày nay, người Việt Nam chỉ biết một đoạn phim tài liệu ngắn lúc bắn anh Trỗi với đầy cảnh sát và kư giả. Đoạn phim và bức h́nh duy nhất được in thêm ḍng chữ gầy của Bác Hồ. Những tài liệu hiếm hoi ấy dù bao nhiêu năm qua rồi, mỗi khi nh́n lại, mọi thế hệ người Việt Nam vẫn rơi nước mắt.

 

Chính trong năm 2001 đầu thế kỷ này, trong “kho” sách quư của ông Ẩn, ông cho bè bạn xem những h́nh ảnh khác chúng ta chưa từng được thấy về giây phút anh Trỗi bị bắn. Chắc chắn sẽ làm xúc động mọi thời: người thanh niên trẻ măng, mặc bộ đồ trắng, bị bịt mắt, đứng bên cái cọc, lẻ loi giữa đám quân đầy súng ống, to mập, mũ sắt… Xung quanh là khu băi hoang vu vắng vẻ của phía sau nhà tù. H́nh ảnh anh Trỗi non trẻ thế, nhỏ bé và anh hùng thế, cái đơn độc một ḿnh anh làm đau nhói trong tim và làm dấy lên ḷng căm giận sự hèn hạ giấu giếm của chế độ Mỹ - ngụy tráo trở…

 

Trong cuốn War in the Shadows in rất đẹp ấy có bài của Douglas Pike tiêu đề My friend An với tấm h́nh chàng kư giả Ẩn trẻ măng ngồi với ba người phụ nữ Mỹ, Việt tại một quán ăn ở ngoại thành Sài G̣n năm 1963. Có thể những năm đó Ẩn đă phải sống hai mặt rất nhiều: giấu đi mọi đau đớn trong ḷng để viết về nỗi đau ḷng ấy với một phong cách khách quan của kư giả phương Tây vốn được dạy rất kỹ rằng không được lộ cái tôi trong tin tức.

 

Chỉ cần các ấn tượng của Douglas Pike về người đồng nghiệp Ẩn, cũng đủ thấy dưới mắt các nhà báo phương Tây - những nhà báo vốn rất nhạy trong xem xét con người và sự kiện - họ không t́m thấy điều giả dối nào ở Ẩn. Pike viết rằng vẫn nhớ h́nh ảnh của Ẩn lúc đó, luôn có người bạn thân tên là Vượng ở bên cạnh và nếu Pike có mời Ẩn tới nhà chơi th́ phải mời cả Vượng, hoặc là không. Sau nữa Ẩn không bao giờ cố gắng in dấu tuyên truyền điều ǵ về tư tưong chính trị lên Pike. Ẩn sống đạo đức, có nguyên tắc với bạn bè, và Pike cho rằng nếu như bây giờ anh mới biết Ẩn là một agent của Quân đội Nhân dân Việt Nam th́ chính Ẩn là một thí dụ chứng minh, một ẩn dụ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

 

Chất “hai mặt” của công việc chính nghĩa và cộng thêm với tư chất một người Việt Nam khá điển h́nh, đă giúp ông sống thật với tất cả các mặt của cuộc đời đặc biệt mà ông phải đảm trách.

 

Giờ đây ông vẫn giữ những tấm h́nh quư. H́nh đen trắng vẫn c̣n tốt, tuy rằng “có tấm đă bay màu, người th́ chết bớt”. Ông chỉ cho tôi xem kho ảnh quư ấy, chỉ một lần, làm sao tôi nhớ hoàn toàn được. Tôi không sống ở Sài G̣n những năm tháng ấy. Tôi chỉ mới là đứa trẻ lên mười khi Ẩn đă đứng trong vị trí đặc biệt. Vậy mà nghe chuyện của ông, xem những h́nh vàng ố đă gợi cảm mùi của lịch sử.

 

“Tôi này, Có này”, Ẩn chỉ vào ông Nguyễn Hữu Có, chỉ huy trưởng của một trong sáu sư đoàn đầu tiên. Nguyễn Văn Minh tư lệnh vùng 3. Nguyễn Văn Bang, tỉnh trưởng Buôn Mê Thuột. Đề đốc Chung Tấn Cang tư lệnh hải quân. Nguyễn Ngọc Huy lư thuyết gia Đảng Đại Việt, giáo sư chính trị. Tiến sĩ Huy là một trong những lănh tụ Đại Việt và là trưởng trung tâm nghiên cứu Đông Dương của Havard, chết rồi. Dưới ngón tay xương xẩu của ông, những h́nh ảnh khác lần lượt hiện ra: Đám này t́nh báo. Đây tướng 4 sao. Chỗ này ở trong dinh Đốc lư. C̣n đây, đứng trong văn pḥng Reuters. Đây là Neil Sheehan (tác giả Sự lừa dối hào nhoáng) hồi 25 tuổi mới ra khỏi quân đội, làm cho UPI tới đảo chính Diệm mới về làm cho The New York Time, thành nhà văn. Lúc đó Ẩn ở Reuters. Cạnh tranh theo “tinh thần thể thao” thôi, c̣n thân nhau lắm. Ông Ẩn c̣n nhớ tác giả Sự lừa dối hào nhoáng sau này được giải báo chí Pullitzer, ngày ấy c̣n gặp khốn đốn v́ đưa tin đảo chính. Anh ta bị coi là người viết quá trớn, trong lúc t́nh h́nh rất khẩn cấp. Lệ Xuân công khai đ̣i “nướng mấy thằng nhà báo xúi bẩy Phật giáo đấu tranh”. Lúc đảo chính bắt đầu, Ẩn đánh tin đi. Đêm trước đảo chính Ẩn đă đưa cho David Halberstam mẩu tin mật của một đại tá để gửi qua bên kia cho Neil Sheehan. Người trực đêm ở Tokyo không biết đó là tin quan trọng nên không đưa ngay cho Neil Sheehan.

 

Kể đến đây, ông Ẩn lại tự cười bản thân: “Bệnh người già hay nói chuyện cũ. Ông chẳng thèm để ư đến các lư lẽ rằng đó là tư liệu lịch sử và mỗi một người mang trong ḿnh những dẫn chứng của lịch sử. Mà có phải ai cũng có cuộc đời như ông để kể đâu - như lời Peter Ross Range?

 

Ông sắp xếp tập ảnh lại th́ tôi kịp nh́n thấy và hỏi về một tấm h́nh lạ:Ẩn mặc áo len, đạp xích lô ở Mỹ. “À, người ngồi trên xích lô là tiến sĩ Elon Earl Hildreth, giám đốc cơ quan Viện trợ Mỹ về giáo dục, lo giấy tờ cho tôi đi học. Ông mua cả một chiếc xích lô, kỷ niệm Việt Nam đem về Mỹ cho đứa cháu nội chở ông đi chơi”. Ảnh chụp ở Cali năm 1958 khi Ẩn đang học ở đại học bên đó.

 

“Đáng lẽ tôi lấy cô này” - ông chỉ vào h́nh một cô gái Mỹ, nhưng ông không kể chi tiết về mối t́nh ấy. (kỳ 9, ngày 26/10/06)

 

Ẩn Giữa Cuộc Chiến Tranh

 

Không phải chất cao siêu thánh thần mà chính v́ chất người, chính chất người đậm chất khôn ngoan, chân thành của người Việt đă giúp ông thành công...

 

Nhà báo Phạm Xuân Ẩn kết thân với nhiều người có thế lực. Đỗ Cao Trí là một trong số đó. Thân đến nỗi Trí là tư lệnh vùng 3 có lần rủ nhà báo Ẩn viếng tiền đồn đang bị bao vây ở Tây Ninh. Trí hỏi có sợ chết không, nhà báo đi trực tiếp chiến trường? Ḿnh như người lính dù treo tọng teng trên trời, thằng nào nó ngắm bắn cũng chết. Chết là hết. Vô quân đội là đă chấp nhận ḥn tên mũi đạn c̣n ǵ. Đạn tránh anh chứ anh tránh được đạn đâu.

 

Với ư nghĩ đó, ông Ẩn hành nghề báo chí, hay ông là một sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, hai cái ḥa làm một. Ông đă từng mượn xe của Phủ Tổng thống thời Ngô Đ́nh Diệm đi thăm các khu trù mật, trên xe mang biển số ẩn tế, đề pḥng bị phát hiện và V.C phục kích. Tuyến đường xấu lắm. Sau Mỹ qua mới có sửa lại, mở rộng, không c̣n quang cảnh đường đi Buôn Mê Thuột nhỏ xíu. Ẩn cũng đă từng lái xe ra tận Vĩ tuyến 17.

 

Sau này, ông theo cả trực thăng Mỹ đi hành quân. Đă có lúc ông tính phải tập nhảy dù, chỉ huy của ta ngăn lại, sợ nguy hiểm quá. Trong trận mạc, quân đội và du kích ta thường bắn tỉa bọn nhảy dù và đó là cách diệt địch khá hiệu quả. Cũng đă có lần trực thăng chở ông bị lửa đạn nhắm bắn. Sau một ngày ta thắng lớn trận Ấp Bắc, Ẩn đă theo trực thăng Mỹ lên tận nơi. Sự lừa dối hào nhoáng của Neil Sheehan miêu tả chủ yếu về trận Ấp Bắc này. Không một đồng nghiệp nước ngoài nào ngờ cái người đi cùng với họ với tư cách kư giả đi viết tin chiến trường ấy - Phạm Xuân Ẩn - là người góp công lớn cho chiến thắng Ấp Bắc với tư cách một chiến sĩ điệp báo Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chính ông Ẩn và người tiểu đoàn trưởng quân ta chỉ huy trận đánh này được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nh́.

 

Những cuộc hành quân nơi xa như Cà Mau, Tây Ninh, ông đều đi theo với tư cách kư giả chiến trường bằng trực thăng Mỹ.

 

Trong chuyến đi Đỗ Cao Trí tổ chức, ông suưt gặp nguy hiểm mất mạng. Nếu không nhường chỗ cho kư giả Franscoi’s Sully của tạp chí Newsweek th́ ông đă chết trong chuyến ấy rồi. Chiếc máy bay đó bị bắn rớt và nhà báo Franscoi’s Sully đă chết trong chuyến đi đó.

 

Trong các chuyến đi viết tin chiến trường như thế, với nhiệm vụ kư giả, chưa bao giờ ông đưa tin thất thiệt hoặc tin “đầu độc” theo kiểu t́nh báo. Ông chỉ đứng ở vị trí phóng viên để mở quan hệ rộng, thu thập tin tức chứ không dùng tờ báo làm công cụ. Không có một bài viết nào của Ẩn làm hại cho tờ báo hoặc viết điều ǵ không đúng. Chắc chắn là tờ Time đă kiểm tra toàn bộ những bài viết của ông sau khi Việt Nam thống nhất, ông Ẩn được biết tới là một anh hùng, một vị tướng t́nh báo Cộng sản.

 

Các nhà báo phương Tây trở lại Sài G̣n sau giải phóng, vào những dịp kỷ niệm 30-4 của các năm chẵn, họ vẫn nhớ đến thăm người đồng nghiệp cũ. Ngoài t́nh cảm kính trọng mang tính chất cá nhân, họ vẫn luôn khổ v́ phải t́m cho ra câu trả lời v́ sao nước Mỹ thua cuộc tại xứ sở nhỏ bé lạc hậu này. Họ càng mong mỏi hơn nữa t́m được lời giải, thuyết phục từ con người, từ chiều sâu truyền thống văn hóa. Mà hơn ai hết, người mẫu của họ cần nghiên cứu chính là anh bạn đồng nghiệp Ẩn.

 

Ẩn có thể trả lời cho họ hiểu nhiều điều, ông có tư duy phân tích khách quan của nghề báo, có tính chất sâu sắc và nghiêm cẩn của người sĩ quan t́nh báo, bản thân ông lại mang nhiều đặc trưng của cuộc sống Việt Nam. C̣n ǵ hơn thế! Không chỉ là chuyện nhận định những ǵ đă xảy ra, mà chính ông có thể nói về hôm nay, về đường hướng phát triển của đất nước này, có thể giải thích các nghịch lư từ dưới tầng sâu của sự kiện.

 

Đến ngôi nhà của ông hôm nay, bạn bè thấy người chiến binh kỳ cựu ấy không nghỉ. Không phải v́ ông c̣n giúp ích rất nhiều cho nghiên cứu, giảng dạy, soạn tài liệu, mà v́ đó là một lối sống: ung dung tự tại, không tham dự nhiều nhưng lại luôn hiểu biết. Ông vào nghề t́nh báo từ lúc 25 tuổi - như tất cả những người yêu nước phải làm một công việc của Cách mạng, không thể có lựa chọn nào khác, khi dân tộc mất Độc lập - Tự do, dân nước nô lệ.

 

Nh́n vào nét lớn của những bước phát triển kháng chiến ta sẽ thấy đời ông Phạm Xuân Ẩn trải qua tất cả các giai đoạn. Từ thời chống Pháp 1945-1954; từ 1954-1960 miền Nam dưới chế độ Ngô Đ́nh Diệm; từ 1961-1965 giai đoạn Chiến tranh đặc biệt, dùng quân ngụy với viện trợ Mỹ càn quét, dồn ấp chiến lược 10 triệu đồng bào. Những chương tŕnh và kế hoạch lớn do Staley - Taylor (giáo sư kinh tế Eugene Staley và Đại tướng Maxwell D. Taylor) xây dựng nhằm b́nh định Miền Nam trong một tháng và kế hoạch bổ sung của Johnson - Mac Namara b́nh định Miền Nam trong 2 năm 1963-1964 hoàn thành 16 ngàn trong tổng số 17 ngàn ấp xă Miền Nam.

 

Chính thời gian đó, Mỹ thay Diệm và quân ta chiến thắng Ấp Bắc và B́nh Giă vang dội - kết quả của ba mũi giáp công của quân dân Miền Nam. Giai đoạn Chiến tranh cục bộ 1965-1968 Mỹ đưa quân ồ ạt vào với ư đồ giải quyết nhanh trong 4 năm, hơn một triệu quân, trong đó 50 vạn lính Mỹ đổ vào. Đây cũng là giai đoạn các chiến thắng Vạn Tường, Playme, Bầu Bàng, Núi Thành, Chu Lai, Đường 9. Mỹ điên cuồng ném bom hủy diệt Miền Bắc hậu phương lớn. Những chiến dịch khét tiếng quy mô tàn khốc và do đó cũng thành lẫy lừng chiến công của quân dân ta như: Chiến dịch Xêđa phôn (Cedar Fall), Birmingham, Giônxôn City (Johnson City) với những cuộc hành quân lớn kinh khủng, tới 45 ngàn quân đổ xuống một huyện.

 

Đây chính là giai đoạn mà Tổng chỉ huy quân sự Đại tướng William Westmoreland bị cách chức và Bộ trưởng Quốc pḥng Robert S. Mac Namara từ chức sau Tết Mậu Thân. Từ 1969-1973 Mỹ rút quân, thực hiện học thuyết Nixon, mở rộng chiến tranh Đông Dương. Ta lại có chiến công Đường 9 Nam Lào. Mỹ điên cuồng phong tỏa Hải Pḥng và đem B.52 rải thảm bom vào Hà Nội. Sau 1973-1975 là giai đoạn cuối cùng Việt Nam hóa chiến tranh và dẫn tới chiến thắng đỉnh cao 30-4-1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.

 

Những sự phân chia giai đoạn chiến lược của kháng chiến ấy, như một cuốn sử tóm tắt, người Việt Nam đă thuộc. C̣n những con số khủng khiếp cũng được tổng kết: Mỹ chi 720 tỷ đô la cho chiến tranh ở Việt Nam và đă huy động 70% lực lượng lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 60% không quân và 40% hải quân, cùng với 22 ngàn xí nghiệp phục vụ chiến tranh.

 

Các hăng truyền h́nh nước ngoài cho những con số khác nữa. 1 kilômét vuông ở Việt Nam đă phải chịu 6 tấn bom Mỹ ném xuống. 1/3 rừng Việt Nam bị tàn phá do bom đạn và chất độc rải xuống. Bom Napalm là một trong những thứ vũ khí tai tiếng nhất với sức nóng 2.000 độ và những chiếc máy bay chiến đấu C.47 có súng máy, đại liên và 600 quả bom, mỗi quả bung ra 300 viên bi giết người. Kư giả Mỹ đă thốt lên “năm 1968 làm bầm dập một thế hệ chúng ta”. Năm 1969 có hơn 54 vạn lính Mỹ tới Việt Nam và có 50 ngàn trẻ lai Mỹ sau chiến tranh. Có tới 2 triệu cuộc hành quân t́m diệt trong suốt cuộc chiến và 36 triệu phi vụ chiến thuật bằng trực thăng. Cuối năm 1969 kư giả nước ngoài gọi Việt Nam là một nấm mồ tập thể của đội quân nước ngoài đă mất hết lư trí. 58 ngàn lính Mỹ đă chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

 

Trong giáo tŕnh dạy về nghiệp vụ báo chí của các Đại học Mỹ, người ta dạy các sinh viên,  các nhà báo tương lai rằng không nên làm báo theo kiểu “nhồi banh” (mush ball) la liệt con số, sự kiện. Nhưng có thể nào người ta lại quên đi được những con số - đă rất tóm lược, trên đây?

 

Tất cả cuộc chiến tranh dài đau thương và anh dũng ấy, Ẩn thực sự ẩn ḿnh trong  một vị trí chiến đấu lạ lùng và cam go không biết có thể so sánh với hàng triệu triệu số phận và câu chuyện đặc biệt của dân Việt Nam không? Chỉ biết rằng hôm nay, con người ấy vẫn tiếp tục một cuộc sống mới cùng dân tộc. Nguyên tắc sống và tính chất con người của ông vẫn là của “mùa thu cũ” như thơ Xuân Quỳnh đă nói về t́nh yêu. Mùa thu đă vàng hoa cúc, đă ra biển cả với ḍng nước trôi, đă đi theo lá về rừng. Tất cả đă trôi qua, chỉ c̣n em và anh, là của mùa thu cũ thủy chung. Chỉ có t́nh yêu là không thay đổi. Vậy là nó mới hay cũ? So sánh với t́nh yêu như thế không hề sai về sự thủy chung của con người đă được miêu tả là “người yếu ớt cong xuống nhưng không dễ bị đánh gục giống cái cây trong giông băo”. Không dễ bị đánh gục, hay là con người trung kiên không dễ đổi thay?

 

Vài lần, khi đến nhà, tôi thấy ông đang nhặt nhạnh đống đồ chơi mà đứa cháu nội để vương văi. Chú bé đă đi nhà trẻ mẫu giáo. C̣n người ông, không giống những người ông chỉ vui với cháu chốc lát chứ không chịu được nhịp sống động của trẻ nhỏ. Ông Ẩn tự nhận ḿnh là “vú em” v́ tham gia rất nhiều vào việc nuôi nấng đứa cháu thiệt tḥi v́ xa mẹ. Ông như chính chú bé rất thạo “Đồ chơi Đức mắc nhất nhưng bền và chính xác”. Ông cầm lên chiếc ô tô nhỏ. Giờ đây ông thuộc đồ chơi hơn bất cứ ông già và người lớn tuổi nào. Tàu họ làm cả quỷ sống… khôn lắm, một năm thu lợi một tỷ đô. Tàu bắt chước nhanh, bán rẻ thôi, do tiếp cận thị trường. Thằng Macao bắt chước. Đây, cây sáp đốt h́nh con khỉ tuổi Thân. Ông cầm chiếc xe lửa: bị đập lên đập xuống hoài vẫn chạy. “Đồ chơi th́ Nhật vẫn là số một. Bán cùng thế giới hết. Rẻ nhất, mề đay giả, dây chuyền. Rẻ, mau hư. Đức, Anh, Mỹ làm đồ bền chặt. Tàu bắt chước, bán chiếc xe lửa, 7,80 ngàn. Nó kiếm tiền từ những người như tôi. Nhật thua đồ Tàu v́ đắt hơn”. Ông cười như nhận lỗi: “Tôi hay để ư lắm. Làm báo phải biết những ǵ con người quan tâm. Độc giả thường thích cái lạ, cái chưa quen thuộc. Có ba loại đề tài luôn được người ta đón đọc, đó là viết về các vấn đề xă hội, việc gia đ́nh, và viết về bản thân ḿnh, câu chuyện cuộc đời cá nhân…”

 

Ông đang nghiên cứu những vấn đề mới của kinh tế thị trường, cho nên “cái nh́n đồ chơi” của ông cũng có màu sắc t́m hiểu thương trường theo cái liên tưởng mọi vật một cách tự nhiên. Phải xây dựng một tầng lớp người mới qua kinh tế thị trường. Có những người dị ứng khi dùng chữ Tư bản. Nhưng thật ra thị trường là sản xuất theo nhu cầu con người, không đặt cao giá trị sản xuất mà chú trọng vào giá trị sử dụng và thị hiếu. C̣n tư bản th́ một xu nó cũng tính, lợi nhuận là trên hết.

 

Ông nói chơi chơi như tâm sự với bạn bè về những điều quan tâm chung. Phải xây dựng những lớp người mới có tŕnh độ khoa học - kỹ thuật. C̣n tác giả Thăng trầm quyền lực nói tiếng Tàu giỏi, nó bảo tài nguyên cũng lớn nhưng tài nguyên lớn nhất vẫn là con người. Việt Nam nh́n lại cũng sẽ rơ: Hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua đă thắng lợi trong các điều kiện không ai làm nổi. Không có một nước thuộc địa nào giành được độc lập theo cách như vậy. Toàn là chịu thuộc địa kiểu mới. Đánh thiện chiến như chúng ta là phải có con người. Hậu cần theo kiểu đường ṃn Hồ Chí Minh, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, chỉ có Việt Nam làm. Do con người sáng tạo.

 

Bây giờ cứ thử ḍm trên ti vi là sợ liền: mâu thuẫn ly khai, sắc tộc các nơi triền miên. Việt Nam vẫn làm theo cách của ḿnh. Theo ông, phải vận động tinh thần đường ṃn Hồ Chí Minh vào kinh tế xây dựng đất nước th́ không thế lực nào “ăn” nổi. Kinh tế thị trường là khách quan, có từ trước Chủ nghĩa tư bản. Bây giờ thị trường là chiến trường, chúng ta xây dựng Chủ nghĩa xă hội trên nó. C̣n Tư bản xây dựng Chủ nghĩa tư bản bảo vệ quyền lợi đại tư bản. Đấu tranh này cực, cực vô giới hạn. Những suy nghĩ có tính “vĩ mô” này, ông nói ra rất tâm t́nh, như là đang tự nghĩ.

 

Ông vẫn thường bị kư giả phương Tây phỏng vấn về dân chủ, tự do, với tư cách là một người đă nếm trải cả những cay đắng ngay trong chế độ mà ông đă hết ḷng.

 

Thật ra bọn họ không hiểu - Morley đă viết: “Ẩn chẳng phải là người biện hộ cho những nguyên do mà anh phục vụ… không giống Athur - Koestler và những người say mê chủ nghĩa Mác, tôi nghĩ Ẩn chưa bao giờ sùng tín… Điều mà tôi nghi ngờ là anh đă không phân biệt rơ ràng đâu là chính bản thân, đâu là chính trị và xứ sở anh. Tôi nghĩ rằng anh đă hành xử một cách tự nhiên, chứ không chỉ v́ can đảm. Không phải tính chất thánh thần mà chính v́ chất con người đă khiến anh thất bại”. Cái nh́n riêng biệt ấy đă cho rằng Ẩn đă không được tin cậy do việc ông Ẩn đă đi “học tập cải tạo” dành cho những người của Đảng cần được uốn nắn về tư tưởng.

 

Ông cũng không suy xét về việc đó lâu. Ông lư giải về dân chủ một cách sáng sủa như một sự hợp lư hiển nhiên. Ông nói với kư giả Mỹ rằng dân chủ kiểu Mỹ chỉ là dân chủ cấp thấp: cơ chế để kiểm soát đa nguyên chỉ là cơ chế giúp không nổi loạn. La hét kệ, cả triệu người cũng không sao. Cho nó la mà biết để sửa. Công đoàn Mỹ cũng biểu t́nh la hét mạnh mẽ nhưng họ không bao giờ được tham gia vào đường lối chính sách. Dân chủ chỉ là đường lối để cai trị dân. C̣n dân chủ xă hội chủ nghĩa mới là dân chủ cấp cao. “Cứ lấy cái thí dụ kinh tế chia phần cái bánh - Dân chủ xă hội chủ nghĩa v́ đa số dân chia phần bánh lớn. Chứ tư bản: chia đều th́ tao đi ăn mày à. Chuyện đó không có”. Vẫn giọng hài hước và diễn giải lư luận cao siêu ra thành h́nh ảnh đơn giản. Ông Ẩn thường chinh phục người khác bằng sự uyên bác nhưng rất giản dị và hóm hỉnh.

 

Chắc phải sửa lại câu nói của Morley: không phải chất cao siêu thánh thần mà chính v́ chất người, chính chất người đậm chất khôn ngoan, chân thành của người Việt đă giúp ông thành công. (kỳ 10, ngày 27/10/06)

 

 

Nguyễn Thị Ngọc Hải

Trích Tuổi Trẻ Cuối Tuần

NDVN, ngày 21/11/06

 

Click đọc thêm:

 

* Phạm Xuân Ẩn, từ góc nh́n của báo chí Mỹ

* Phạm Xuân Ẩn - Những huyền thoại để lại
* Tiễn đưa nhà t́nh báo lỗi lạc Phạm Xuân Ẩn
* Người Việt thầm lặng

* Thiếu tướng t́nh báo Phạm Xuân Ẩn qua đời

* Làm phim về Phạm Xuân Ẩn

* Một người Việt Nam trầm lặng
*



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend