NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

HUYỀN THOẠI NỮ TƯỚNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH: TRẦM HƯƠNG


Bà Nguyễn Thị Định

 

HUYỀN THOẠI NỮ TƯỚNG NGUYỄN THỊ ĐỊNH

 

Trầm Hương

 

Đồng chí Nguyễn Thị Định thăm đoàn không quân sao đỏ.

 

 

Trước bà, chưa có người phụ nữ nào tham gia cách mạng, được phong hàm tướng. Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Phó tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta".

 

Năm 1982, bà được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Phó chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ quốc tế: năm 1986, Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước.

 

Nhân  dân Hát Môn, Hà Tây đă rước bát hương bà Nguyễn Thị Định  về thờ trong khu đền Hai Bà Trưng với niềm tự hào, ngưỡng mộ về một nữ tướng thời đại Hồ Chí Minh.

 

Cuba, có một làng mang tên Nguyễn Thị Định. Tên của bà được nhiều phụ nữ trên thế giới hâm mộ đặt tên cho con ḿnh. H́nh ảnh bà khi xuất hiện ở nước ngoài làm nổi bật vị thế Việt Nam.

 

Nhưng đằng sau vinh quang, huyền thoại là nỗi đau và nước mắt mà bà đă lặng lẽ giấu kín trong đêm trước cuộc cách mạng. Những giọt nước mắt ấy đă trở thành châu ngọc tỏa sáng, soi đường cho thế hệ sau tiếp bước...

 

Kỳ 1: Người đàn bà vượt biển (7/4/2007)

 

Ngày 15/2/1920...

 

Đó là ngày định mệnh đối với gia đ́nh nông dân trên bờ sông Lương Ḥa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

 

Trong căn buồng tối dành cho sản phụ ở nông thôn Nam Bộ thời tây y c̣n rất sơ khai, người mẹ oằn oại cơn đau đẻ. Nếu như hôm đó người chồng nghe theo lời bà mụ móc đầu đứa bé lôi ra để cứu sống vợ th́ sau này Cách mạng miền Nam không có ngôi sao Nguyễn Thị Định chói sáng.  Ông đă động viên, thuyết phục bà mụ kiên tŕ chờ đứa bé ra đời.

 

May sao, mẹ tṛn con vuông. V́ lẽ đó, trong gia đ́nh 10 đứa con, cô út Nguyễn Thị Định được cưng nhất nhà.

 

Cô sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom v́ hen suyễn.

 

Trường học xa nhà, ở trọ th́ tốn kém, cô Út không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. “Người thầy” ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, giành độc lập cho đất nước.

 

Cô tận mắt chứng kiến anh Chẩn tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Cô đứng nh́n, căm thù mà không biết làm ǵ để cứu anh ra, đành khóc tức tưởi.

 

Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nảy nở trong đầu cô Út. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được.

 

Năm 16 tuổi, cô Út Định rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đ́nh giàu có đánh tiếng dạm hỏi. Tuổi cô thời ấy con gái đă lo lấy chồng nhưng Út Định không quan tâm đến điều hệ trọng ấy.

 

Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Út Định say sưa lắng nghe anh Chẩn và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo “Dân chúng"...

 

Nhưng đó cũng là lúc cô bị sức ép dữ dội từ phía gia đ́nh, buộc cô phải lấy một người giàu có mà gia đ́nh đă nhắm sẵn. Anh Ba Chẩn rất thương và hiểu em gái nhưng cũng không có cách nào làm dịu bớt được bầu không khí căng thẳng trong nhà. Cô Út gặp các anh, đ̣i đi làm cách mạng, bởi ở nhà cô không c̣n có sự lựa chọn nào khác.

 

Hiểu thấu được hoàn cảnh của Út Định, các anh lặng lẽ sắp xếp một cuộc gặp gỡ...

Hôm đó, cô được các anh nhắn ra vườn quưt. Ḷng cô nôn nao, nghĩ rằng các anh giao nhiệm vụ rải truyền đơn, cũng có thể đă chấp thuận cho cô thoát ly, đi làm cách mạng. Không ngờ trước mặt cô là anh Bích - một trong số đồng chí cùng hoạt động với anh cô.

 

Cô vô cùng bối rối, nhận ra hôm nay anh cao lớn, đẹp trai hơn thường ngày rất nhiều. Cô đỏ mặt thầm nghĩ: “Một thanh niên như anh ấy hèn ǵ mà có nhiều cô gái đẹp, con nhà giàu đeo đuổi”. Không để cô thoát lui, anh hỏi thẳng vấn đề: “Tại sao Út muốn lấy chồng cách mạng?”. Cô bối rối bứt mấy chiếc lá quưt, thật thà nói: “V́ em muốn làm cách mạng”. Anh vặn lại: “Nhưng làm cách mạng cũng phải lấy chồng”. Cô Út nói: “Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới ưng”. Anh hỏi: “Người chồng như thế nào th́ cô mới  ưng?”. “Người ấy phải làm cách mạng, phải tốt với ba má em và yêu thương em suốt đời”.

 

Mắt anh Bích sáng lên. Im lặng một lúc, anh nh́n thẳng vào mắt cô hỏi: “Lấy chồng cách mạng không chỉ chồng cô mà bản thân cô và gia đ́nh có thể bị tù, bị giết chết, cô không sợ sao?”. “Không. Em không sợ”. “Nhưng nếu người ấy bị bắt, bị đi tù 9, 10 năm, Định có chờ được không?”. “Em sẽ chờ”.

 

Lời hứa ấy không ngờ trở thành định mệnh, kết chặt hai người với nhau.

 

Sau khi gặp cô Định ở vườn quưt, anh Bích chính thức cầu hôn. Gia đ́nh cô vốn quư một thanh niên trí thức, có chí hướng nên sẵn ḷng tác hợp cho đôi trẻ. Họ sống bên nhau những ngày trăng mật ngắn ngủi. Rồi anh Bích lại đi hoạt động. Cô ở lại bám cơ sở. Sau này, cô mới biết anh là Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, ở bộ phận hoạt động công khai.

 

Đó cũng là những ngày vô cùng hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ. Khi cô sinh con trai, anh mừng vô kể, cùng vợ thức trông con.

 

Ḷng trào dâng niềm hạnh phúc, cô Út thầm nói với con: “Thử hỏi trên thế gian này có người đàn bà nào hạnh phúc như mẹ. Mẹ đă chọn đúng người cùng chí hướng. Mẹ đă chọn cho con người cha tốt phải không?!”.

 

Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu th́ giông tố ập đến. Mới sinh con 3 ngày, mật thám đến nhà vây bắt anh Bích. Út Định qụy xuống, ôm con khóc nức nở. Dù anh Bích trấn an “anh sẽ không sao” nhưng nhớ lại dự cảm người cách mạng không tránh khỏi tù đày, cái chết, ḷng cô không khỏi lo lắng cho anh...

 

Từ khi anh Bích  bị bắt vào tù, Út Định chỉ được bồng con đến thăm anh có một lần. Dù tự nhủ gặp anh không được khóc, để dành thời gian nói chuyện nhưng trước anh, cô không sao ngăn được nước mắt.

 

Anh Bích giơ tay ra song sắt bồng con. Út Định trao đổi nhanh với anh sẽ gửi con, đi thoát ly. Cô biết chồng rất thương con nhưng cuối cùng tán thành quyết định của cô. Anh nói nhanh là địch đă kết án anh 5 năm tù và 5 năm đày biệt xứ. Anh đă lường trước cảnh tù đày, chỉ thương mẹ con cô. Anh tin cô sẽ vượt qua mọi thử thách như lời cô đă hứa với anh bên vườn quưt năm nào.

 

Anh c̣n định nói thêm nhiều điều th́ tên gác ngục đă báo hết giờ, đuổi mẹ con cô ra ngoài. Lúc ấy, cô mới sực nhớ đến điều hệ trọng nhất, quay lại hỏi anh:

 

- Đặt tên con là ǵ?

 

- Là On. Em nhớ không?!

 

Cô đặt tên con là On, như anh căn dặn, c̣n tên khai sinh của con là Nguyễn Ngọc Minh, ngụ ư On là viên ngọc t́nh yêu măi tỏa sáng của hai người.

 

Ngay hôm sau, ngày 19/7/1940 (chưa đến ngày 21/7- ngày hẹn với tổ chức thoát ly) th́ Út Định bị mật thám vây bắt.  Chúng đưa hai mẹ con cô về khám Lá, Bến Tre.

 

Chúng tuyên bố đưa cô đi Bà Rá, buộc cô phải gửi con về nhà. Ôm chặt con thơ trước lúc ĺa xa, ḷng người mẹ như đứt từng đoạn ruột. Cô biết dấn thân vào con đường cách mạng là chấp nhận thương đau, tù đày, cái chết, nhưng cảnh đứa bé mới 7 tháng tuổi mà sớm bị bứt ĺa khỏi cha mẹ th́ cô chưa bao giờ nghĩ đến.

 

Trao con cho mẹ, nh́n vẻ mặt ngây thơ của con mà ḷng cô đau quặn thắt, nước mắt chảy tràn...

 

Mấy hôm sau, Út Định bị đưa vào một trại giam ở Sài G̣n. Chồng cô cũng bị đưa đến đây. Cô đâu hay rằng “anh Bích” cùng bị giam chung một nhà tù mà không thể tận mặt.

 

Nhà giam này là trạm trung chuyển trước khi  đày anh Bích ra Côn Đảo và Út Định đi Bà Rá. Anh không sợ ḿnh bị đưa vào chốn địa ngục trần gian mà chỉ lo cho vợ không biết có chịu đựng nổi cảnh ma thiêng nước độc ở Bà Rá.

 

Nhưng Út Định đă kiên cường chịu  đựng, đă vượt qua bao thử thách. Đó là nơi hoang sơ không chỉ có vắt, voi, cọp mà c̣n có “cọp người”.

 

Nguyễn Thị Định được xếp vào khu nhà B - nơi dành riêng cho tù chính trị nữ. Ở đây, mọi người gọi chị bằng cái tên thân mật: Ba Bích - tên người chồng đă bị đày ra Côn Đảo của chị.

 

Chị em rất đoàn kết, thương yêu nhau, kịp thời cảnh giác bọp xếp, bọn cai tù. Các nữ tù không chỉ chịu đựng cảnh lao động khổ sai nhọc nhằn mà c̣n phải chống lại những tṛ chọc ghẹo của những tên c̣ Tây. Có những tên ban đêm ṃ vào chỗ các nữ tù, định giở tṛ sàm sỡ. Phát hiện được, chị em hô ầm lên khiến chúng sợ, co ḿnh lại. Lấy cớ vùng này có nhiều cọp, beo, thú dữ nên khi “nó” đến gần th́ họ khua thùng thiếc, hô vang để “bọn thú” bỏ đi. Các chị dặn nhau khi đi gánh nước, làm cỏ chớ nên ham bóng mát gần nhà mấy tên Tây...

 

Chị Ba Bích bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. V́ vậy, chị em nên cài ít kim may vào trong búi tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có th́ giờ để đối phó...

 

Biết chị Ba Bích là trung tâm đoàn kết, đấu tranh của khu nhà B; tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nh́n thấy máu đổ, thích xui chó béc-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai láng, bắt chị Ba Bích bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn. Hắn vừa muốn  khoe tài bắn súng vừa "nắn gân" chị Ba Bích “chuyên xách động nữ tù đấu tranh”.

 

Nếu chị Ba Bích không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu riếu chị là hèn nhát. C̣n nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể chị.

 

Hắn đẩy chị vào một t́nh huống khó xử. Sau phút lưỡng lự, chị Ba b́nh tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. “Đoàng”. Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa măn thú tính, hắn bắt chị Ba Bích tháo chiếc ṿng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà chị rất quư yêu, làm đích cho hắn bắn tiếp.

 

Quá phẫn uất, chị tháo ṿng, ném mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc ṿng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của Ba Bích, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm ǵ nhưng định bụng sẽ trừng trị chị và các “nữ tù ngoan cố” vào một dịp khác.

 

Mấy hôm sau, hắn đưa các chị ra khu nhà sàn của hắn để chứng kiến cảnh hắn trừng phạt tù nhân. Nạn nhân là các tù nam v́ không chịu nổi cảnh hà khắc, nhân lúc tên lính gác bắt các anh đào hố chôn tù nhân chết, toán tù khổ sai giết nó rồi bỏ trốn. Không ngờ, ít lâu sau họ bị bắt trở lại.

 

Hắn tra tấn người tù dă man, cho treo ngược anh lên sàn nhà. Tên quan ba đánh anh một gậy th́ con chó của hắn chồm lên cắn anh một miếng. Lúc đầu, người tù vừa la vừa chống đỡ bộ răng sắc bén của con vật nhưng dần dần kiệt sức, bất động.

 

Khi những tên lính tháo dây, thả anh xuống th́ anh như một xác không hồn, bê bết máu. Chứng kiến cảnh khủng khiếp ấy, chị em càng khắc cốt ghi sâu mối thù quân cướp nước.

 

Những đ̣n roi, tra tấn nhục h́nh không đánh gục được ư chí người phụ nữ kiên trung. Nhưng chúng không hề biết rằng trái tim chị đang bị gặm ṃn, hủy hoại v́ nỗi khổ đau.

 

Tin tức anh Bích ngoài Côn Đảo vẫn biền biệt. Nỗi nhớ thương con đốt cháy ḷng người mẹ. Cứ mỗi sáng, mỗi chiều nh́n ra làn sương mù giăng kín núi đồi, nước mắt chị nḥa đi. Đêm ở Bà Rá buốt lạnh.

 

Chị em tổ chức văn nghệ để quên đi giá rét. Người thích hát vọng cổ, người thích nói thơ. Đến lượt chị Ba, chị cất giọng hát: “Ḱa xa xa nơi Côn Đảo - Sóng nước muôn trùng - Hỡi đàn c̣ trắng - Bay qua ngang trời...”. Giọng chị đang trong trẻo, ấm áp, t́nh cảm bỗng tắc nghẹn rồi vỡ ra thành nước mắt. Đến lúc đó, mọi người vô cùng hối hận v́ đă để chị hát bài hát gợi nhớ nỗi mất mát khôn nguôi.

 

Bệnh tim ngày càng trở nặng, chị liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa chị về điều trị tại Nhà thương Biên Ḥa. Năm 1943, chị Ba Bích (Nguyễn Thị Định) được bọn Pháp đưa về quản thúc tại địa phương...

 

Ngày trở về quê, ḷng người mẹ rộn ră, hồi hộp khi bước vào cánh cửa. Đứa con trai lên 4 ngơ ngác nh́n mẹ. Chị chạy đến ôm chặt con vào ḷng, như chẳng bao giờ muốn rời xa con, trong lúc đứa bé khóc thét lên, sợ hăi. Đứa bé càng giống cha, tim chị càng đau thắt nỗi nhớ chồng.

 

Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đọa đày trong nhà tù đế quốc chưa lành th́ chị nhận được hung tin: Anh Bích đă hy sinh ngoài Côn Đảo. Đó là vết thương đau đớn nhất đời. Chị không c̣n nước mắt để khóc, người nửa điên nửa dại. Nhiều đêm, chị lần bước ra vườn quưt, nơi đă gặp anh năm xưa ngồi khóc một ḿnh.

 

Thương On c̣n thơ dại, chị giấu con nỗi đau mất cha, đau xé ḷng trước câu hỏi “sao ba không về” của con trẻ. Chị muốn đi tu, muốn chết cho xong, nhưng nhớ đến lời anh Bích căn dặn “dấn thân vào con đường cách mạng là phải chịu tù đày, cái chết”, nhớ đến bao đồng chí c̣n đang bị tù tội, đă hy sinh; chị cứng rắn đứng lên.

 

Là góa phụ có nhan sắc, chị bị vây bủa, o ép của bọn tề làng. Chị vừa mềm dẻo, mạnh mẽ chống lại  chúng vừa tự nhủ ḿnh phải tỉnh táo trước phong trào thân Nhật.

 

Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, chị bắt được liên lạc với tổ chức. Chị gửi con cho mẹ, lao vào công tác.

 

Trong Cách mạng tháng Tám, người góa phụ trẻ ấy đă cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ rầm rộ tiến chiếm thị xă Bến Tre.

 

Sau ngày khởi nghĩa thắng lợi, chị được tổ chức giữ lại công tác ở cơ quan Phụ nữ tỉnh. Trong ngày rước tù Côn Đảo trở về đất liền, dẫu biết tin anh Bích đă hy sinh, ḷng chị vẫn nuôi niềm hy vọng anh c̣n sống. Chị bồng con ra bến đón các anh trở về. Nhưng cho đến người tù cuối cùng trên tàu bước lên, bóng chồng vẫn biền biệt. Nh́n gương mặt giàn giụa nước mắt của chị, đồng đội anh Bích nói lời chia sẻ: "Anh Bích c̣n sống, thấy chị tiếp tục công tác, tiến bộ được như vậy chắc hẳn anh ấy rất vui. Từ bây giờ, chị phải vui sống, bởi chị phải làm thay cả phần anh Bích!”.

 

Chị gượng cười cho các anh yên ḷng mà vẫn không thể nào lau khô được ḍng nước mắt.

 

Cuối năm 1964, Nguyễn Thị Định được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Phụ nữ tỉnh Bến Tre. Giữa lúc chị hăng say công tác, đi thăm hỏi, chăm sóc bộ đội th́ được lệnh Tỉnh uỷ gọi về, giao nhiệm vụ: Ra Bắc, gặp Bác Hồ và Chính phủ báo cáo t́nh h́nh sau Hiệp định Sơ bộ 6/3 và xin chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam. Năm ấy, Nguyễn Thị Định mới vừa 26 tuổi.

 

Kỳ 2: Những con người làm nên đồng khởi.(13/4/2007)

 

Đoàn miền Nam ra Bắc năm ấy c̣n có Đoàn  Văn Trường - Tư lệnh Khu 8, Ca Văn Thỉnh, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp...

 

Tháng 3/1946, phái đoàn miền Nam Trung Bộ ra đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội. Đến nơi, đoàn được bố trí ở ngôi nhà của Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

 

Ngay hôm sau, Bác Hồ đến thăm đoàn. Bác ưu tiên cho người phụ nữ trong đoàn nói trước. Chị đứng lên, quá xúc động, không nói được nên lời.

 

Bác đỡ lời: “Thiếu súng đạn lắm phải không? Các cô các chú muốn xin bao nhiêu khẩu mang về?". Chị sung sướng nói: “Dạ thưa Bác, nhiều lắm”. Bác nói: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi vào Nam. Nhưng nước ta c̣n nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng th́ cái vốn đó mới nhiều”.

 

Sau này, chị đă vận dụng lời Bác dạy một cách hiệu quả ở chiến trường miền Nam. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, chị Ba Định đi thẳng vào Quảng Ngăi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ.

 

Chị không chỉ vào được tận kho để nhận phần cho Khu 8 mà c̣n năn nỉ xin thêm: “Tôi mang một cây mà bị lộ th́ cũng chết. Các anh cho tôi một ngàn cây, tôi đi một chuyến cho đáng”. 

 

Thế rồi, bằng ḷng quả cảm, trí thông minh, chị Ba Định lại cùng các đồng chí của ḿnh khéo léo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn.

 

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được kư kết, chị Ba Định quyết định ở lại miền Nam, chỉ ḿnh On ra Bắc. Người mẹ đứng trên bờ tiễn con, ḷng tràn trề niềm tin và hy vọng. Chị đâu ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn...

 

Hiệp định Genève bị địch vi phạm nghiêm trọng. Cán bộ kháng chiến cũ bị đặt ngoài ṿng pháp luật. Nhiều chi bộ bị xóa trắng. Chị phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xă Tân Ḥa, Thạnh Phú Đông, Phước Long.

 

Ở Bến Tre và nhiều địa phương khác, chính quyền Diệm lập hội đồng hương chính, dùng những tên địa chủ vốn căm thù Cộng sản làm đại diện, sẵn sàng bắn chết người nếu t́nh nghi “Việt Cộng”. Bến Tre sống trong cảnh ngột ngạt và khó thở cùng cực.

 

Giữa lúc ấy, đồng chí Lê Duẩn được cử về Bến Tre nắm t́nh h́nh, tổ chức và động viên bà con hăy kiên định trong công việc đấu tranh giành độc lập. Đồng chí Lê Duẩn căn dặn Tỉnh ủy phải xây dựng nội tuyến trong quân ngụy, khẩn trương xây dựng tự vệ ngầm ở vùng yếu.

 

Khi anh Ba Duẩn được Trung ương mời ra họp ở Hà Nội, tận mắt chứng kiến cảnh đồng bào bị giặc khủng bố, càng thôi thúc “anh Ba” hoàn chỉnh "Đề cương cách mạng miền Nam" cho Hội nghị Trung ương lần thứ 15 - một hội nghị quan trọng nhất của Trung ương năm 1959 bàn về sự chuyển hướng đấu tranh của Cách mạng miền Nam.

 

Bản thân bà Nguyễn Thị Định nhiều lần thoát chết trong gang tấc. Bà đă từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm t́nh h́nh phong trào.

 

Cái đầu của bà được địch treo giá: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".

 

Nhờ sự dũng cảm của các đồng chí, của người dân, kể cả của các em bé, bà đă vượt qua tất cả hiểm nguy.

 

Một lần, bà lần về xă Phước Thạnh trong đêm khuya, ở lại gia đ́nh anh chị Tư - một cơ sở ṇng cốt. Anh có hai đứa con: cháu gái tên Thành, cháu trai tên Công. Sáng hôm sau, v́ quá mệt, bà ngủ quên. Bất ngờ bọn lính ập tới. Thành hốt hoảng lay bà dậy. Bà chỉ kịp dỡ nắp hầm, nhảy xuống, mặc dù biết làm vậy rất nguy hiểm nhưng không c̣n con đường nào khác.

 

Thành lanh trí đổ nồi cháo heo đă nấu xuống miệng hầm.  Cháo văng tung tóe, bít cả miệng hầm. Thành tát vào mặt em, quát: “Mày hư quá, làm bể nồi tấm, má về đánh cho coi!”. Công bị đánh đau, không biết ǵ, ức quá, ̣a lên khóc.

 

Vừa lúc đó, hàng chục tên lính bước vào nhà. Thấy ngôi nhà chỉ có hai đứa bé nheo nhóc, với nồi cháo heo vung văi, bọn lính ngán ngẩm bỏ đi. Bà thở phào nhẹ nhơm, khen Thành nhanh trí đă cứu được bà...

Cuối năm 1959, Mỹ - Diệm cho xây khu trù mật ở Bến Tre. Ư đồ thâm độc của chúng là gom tất cả gia đ́nh có người đi tập kết, cán bộ thoát ly và đồng bào yêu nước vào địa ngục trần gian này.

 

Đồng bào nhất quyết không đi. Địch tăng cường hai đại đội do tên Ba Hương khét tiếng ác ôn chỉ huy, phối hợp với hai tiểu đoàn của Sư đoàn 7 trấn áp bà con.

 

Chúng châm lửa đốt nhà, đốn cây, dùng xe ủi phá nát ruộng lúa. Chúng bắt thanh niên đi làm xâu, thẳng tay đàn áp đồng bào đấu tranh.  Giữa ban ngày, chúng ngang nhiên bắn giết, hăm hiếp. Chúng bắn chết những trẻ chăn trâu rồi dùng dao găm chặt đầu, xách về khu trù mật, nói là đă trừ được hai tên trinh sát lợi hại của Việt Cộng. Được cán bộ chỉ dẫn, hàng ngàn quần chúng đă kéo đến khu trù mật đưa yêu sách:

 

 - “Chống bắt dân làm xâu!

 

- Đ̣i bồi thường huê lợi, tài sản hư hao!

- Đ̣i trở về chỗ cũ làm ăn...”.

 

Tên ác ôn thẳng tay cho đàn áp đồng bào. Hắn xông vào đám đông, đạp vào giữa bụng người phụ nữ đưa yêu sách. Chị ngất xỉu, ḿnh bầm đen. Vậy mà khi tỉnh dậy, chị động viên đồng bào: “Các bà, các chị cứ yên tâm. Tôi c̣n sống, bà con cứ khiêng tôi xuống quận đấu tranh...”

 

Lửa căm thù âm ỉ bốc cháy. Nhân dịp Ngô Đ́nh Diệm đi thăm khu trù mật, bà con bất chấp hàng rào cảnh sát, quần áo bẩn thỉu, rách nát; đầu trùm khăn tang, xông ra đường đấu tranh. Một cuộc đàn áp dữ dội diễn ra.

 

Cuối cùng người dân cũng đưa được bản kiến nghị cho Ngô Đ́nh Diệm. Lợi dụng thời cơ, nhiều bà, nhiều chị níu áo Diệm và các tên sĩ quan khóc la thảm thiết, đ̣i trả lại họ chồng, con, cha mẹ...

 

Ngô Đ́nh Diệm hoàn toàn bất ngờ, lúng túng, nói vài câu hứa hẹn rồi lên máy bay về Sài G̣n. Sau cuộc kinh lư thất bại này của Diệm, bà con Bến Tre bị bọn tay sai trả thù  bằng những trận khủng bố, ruồng ráp dữ dội hơn. Luật 10-59 của Mỹ Diệm gieo bao đau thương tang tóc cho người dân.

 

Máy chém lê đi khắp nơi, nhà tù mọc lên khắp miền Nam. Báo chí chính quyền Diệm cổ động “hễ bắt được Cộng sản th́ xử tại trận, chém không run tay”. Những quần chúng ở Mỏ Cày vừa khóc, vừa căm phẫn nói nới bà Định: “Chị Ba ơi, phải vơ trang mới sống, không th́ anh em chết hết. Lúc này có vơ trang, chị gọi một tiếng là bà con đi ngay....”.

 

Điều mong mỏi tha thiết của bà con cũng là nỗi mong đợi tha thiết của Tỉnh ủy. Nhưng bà và các đồng chí trong Tỉnh ủy luôn bị giằng xé, giữa một bên là ư thức chấp hành kỷ luật Đảng, một bên là nỗi bức xúc phải vũ trang để bảo vệ nhân dân.

 

Giữa lúc tiến thoái lưỡng nan, may mắn thay, bà nhận được điện Khu ủy gọi lên họp gấp để nghe phổ biến nghị quyết mới, rất quan trọng của Trung ương Đảng. Tại Khu ủy ở Đồng Tháp Mười, nghe đồng chí Sáu Đường - Bí thư Khu ủy báo cáo t́nh h́nh và chủ trương của Trung ương, chuyển hướng đấu tranh cách mạng, bà như mở cờ trong bụng.

 

Vậy là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng rơ ràng đă chủ trương phát động nhân dân miền Nam đấu tranh chính trị  có kết hợp vũ trang để tự vệ.

 

Do địch liên tiếp lùng sục nên cơ sở và Tỉnh ủy phải liên tục di dời. Việc liên lạc rất khó khăn, để chậm sẽ mất thời cơ. Cuối cùng, các đồng chí trong Tỉnh ủy cũng gặp lại nhau và đồng chí Bảy Hiền - Tỉnh ủy viên mạnh mẽ nói: “Dứt khoát phải làm ngay mới kịp. Ta cứ nổi dậy, tức khắc sẽ bắt được liên lạc”.

 

Trong gian buồng bé nhỏ, được soi bởi ngọn đèn khi mờ khi tỏ, 7 đồng chí kiên trung năm ấy đă thắp lên ngọn lửa Đồng khởi, đi vào lịch sử cách mạng miền Nam. Chưa bao giờ bà và các đồng chí có mặt hôm ấy thấy ḿnh đang gánh trên vai sự nghiệp cách mạng quá lớn.

 

Bà nhắc lại: “Bảy người chúng ta có mặt ở đây, hôm nay sẽ cùng chịu trách nhiệm trước Tỉnh ủy và Khu ủy. Nếu làm sai, ḿnh xin chịu kỷ luật, mà làm đúng th́ lấy thắng lợi bước đầu phát triển lên”.

 

Vấn đề nan giải nhất là lực lượng và vũ khí. Họ cùng tỉnh táo nh́n nhận thực lực của ta chỉ c̣n không đầy 20 chi bộ và 200 đảng viên, với 4 cây súng hư, cũ; mỗi khẩu chưa đầy 10 viên đạn. Nếu lực lượng nổi dậy lẻ tẻ, không đồng loạt, không có khí thế áp đảo, địch sẽ tập trung đàn áp, cơ sở quần chúng sẽ bị khủng bố, quét sạch, khó mà gượng dậy nổi.

 

Tại hội nghị, trong tập thể 7 người, không hẹn mà ai cũng dùng đến từ đồng khởi.

 

Trong ư nghĩ của bà Định, hai chữ đồng khởi được liên tưởng từ cuộc khởi nghĩa đồng loạt trong Cách mạng tháng Tám, phải nhất tề nổi dậy mới thắng được. Hội nghị chọn quận Mỏ Cày làm trọng điểm đồng khởi.

 

Để có ngay lực lượng vơ trang làm ṇng cốt trừ gian, diệt ác; bà đề nghị chọn ở mỗi xă một số thanh niên trung kiên, lập ra những tổ hành động, trước mắt trang bị bằng dao, mác, mă tấu đồng thời t́m người, t́m chỗ sửa mấy khẩu súng hư, giao cho mỗi tổ ít nhất một cây súng “làm vốn”.

 

Ngoài việc nghi binh, Tiểu đoàn 502 Đồng Tháp (Tiểu đoàn này đánh trận G̣ Quản Cung nổi tiếng ở Hồng Ngự năm 1959, chỉ một trung đội, lập kế diệt cả tiểu đoàn địch, bắt sống 105 tên, thu 150 súng), ta c̣n tung tin có bộ đội chủ lực miền Bắc tham gia đồng khởi.

 

Bà c̣n cho một số thanh niên xă này qua xă khác học nói giọng miền Bắc, khi có lệnh lũ lượt hành quân, vác súng giả tự tạo như súng cây, súng bập dừa có bọc ni lông giả làm như bộ đội thật và súng thật để hù dọa địch, mặt khác động viên nhân dân nổi dậy. Tài năng quân sự cùng với sự thấu đáo của Ban tham mưu mà người chỉ huy trực tiếp là Nguyễn Thị Định đă lập nên kịch bản đồng khởi vô cùng tỉ mỉ, chu đáo

.

Đội quân tóc dài của tỉnh Bến Tre

 

Ngày 17/1/1960, trận đánh diệt Tổng đoàn dân vệ ở xă Định Thủy, Mỏ Cày đă báo hiệu giờ đồng loạt nổi dậy cuộc Đồng khởi.

 

Lực lượng vũ trang được sự phối hợp nổi dậy mạnh mẽ của đồng bào, lấy gọn bót Định Thủy. Mỗi người dân tay cầm tầm vông, dáo, phảng, cờ đỏ sao vàng từ chợ Định Thủy kéo ra phối hợp như nước vỡ bờ. Quân địch ở Mỏ Cày bị phao tin “quân đội Việt Cộng về lấy bót Định Thủy, đang kéo tới Mỏ Cày rất đông", bèn co cụm lại giữ bót, không dám tiếp viện cho Định Thủy.

 

Thế là ngay trong ngày đầu tiên của Đồng Khởi, quân và dân Bến Tre đă đánh thắng hai trận ṛn ră. Những trận thắng lịch sử đầu tiên này đă h́nh thành nên thế tấn công ba mũi rất đẹp. Từ đó, bà Nguyễn Thị Định đă sáng tạo nên phương pháp cách mạng tiến hành ba mũi giáp công, góp phần đưa cách mạng miền Nam lên cao trào mới.

 

Sau khi bị đ̣n bất ngờ, choáng váng của ngọn triều Đồng khởi, chỉ 10 ngày sau, bọn địch mới vỡ lẽ quân cách mạng chỉ có tay không, nổi lên bằng sức mạnh của quần chúng với gậy tầm vông, vũ khí thô sơ, chẳng có quân giải phóng miền Bắc nào cả. Chúng bắt đầu phản công dữ dội.

 

Ngày 22/2/1960, Mỹ - Diệm tập trung hơn 10.000 quân, có thủy quân lục chiến từ Sài G̣n xuống phối hợp với bảo an, dân vệ hiện có ở Bến Tre, Trà Vinh mở cuộc cuộc hành quân lớn vào B́nh Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy. Chúng tuyên bố “sẽ làm cỏ ba xă, tiêu diệt hết Việt Cộng ở Mỏ cày và lập lại trật tự cũ”.

 

Trước t́nh thế này, một mặt, bà chỉ đạo lực lượng vũ trang chống càn. Mặt khác, huy động lực lượng quần chúng làm công tác binh vận, đấu tranh chính trị.

 

Thay v́ giữ dân tại chỗ để giữ thế hợp pháp, bà chủ trương huy động một lực lượng lớn quần chúng xông thẳng vào Mỏ Cày đấu tranh chính trị, tố cáo tội ác của giặc ở Phước Hiệp - nơi giặc càn quét lớn.

 

Ngày 27/2/1960, đồng bào B́nh Khánh, Phước Hiệp, Định Thủy ngồi trên mấy trăm chiếc xuồng kín mặt sông, chở quần áo, mùng màn, giẻ rách, bồng con cái nối đuôi nhau ra thị trấn. Các xă khác cũng ùn ùn kéo theo. Lực lượng ấy phần lớn là phụ nữ, họ tổ chức thành đội ngũ hẳn hoi, tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với địch, đ̣i chấm dứt càn quét, bắn giết, đ̣i bồi thường nhân mạng...

 

Tên cảnh sát đóng chặt cổng. Giằng co suốt 12 ngày đêm, địch đành chấp nhận yêu sách, kéo nhau đến xă Phước Hiệp thừa nhận tội ác  bọn thủy quân lục chiến và hứa rút bọn này về.

 

Cuộc đấu tranh chính trị thắng lợi rực rỡ, bọn Mỹ - Diệm phải gờm sức mạnh lợi hại đội quân chúng gọi là “đội quân đầu tóc”. Sau này, Bác Hồ gọi đội quân này là “đội quân tóc dài”. Tên tuổi Nguyễn Thị Định gắn liền với cuộc Đồng khởi như sóng triều vang dậy, lan khắp miền Nam. Tên tuổi của bà cũng gắn liền với đội quân tóc dài Đồng khởi.

 

 

Trầm Hương, ANTG, ngày 7 & 13/4/2007

NDVN, ngày 15/4/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend