NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN


TUYÊN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN

 

 

Tổng Bí Thư Lê Duẩn

Tấm Gương Cống Hiến Trọn Đời Cho Cách Mạng Việt Nam

 

 

(ĐCSVN) - Tại lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn (07.04.1907/07.04.2007), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đă có bài phát biểu quan trọng ôn lại thân thế, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của đồng chí Lê Duẩn đối với cách mạng Việt Nam. Báo điện tử ĐCSVN trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu quan trọng này.

 

Thưa các đồng chí lănh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lăo thành cách mạng và Mẹ Việt Nam Anh hùng,

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước,

Thưa các vị khách quư,

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Hôm nay, chúng ta họp mặt tại đây để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn (/07/4/1907 - 07/4/2007), nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trưng ương Đảng Cộng sản Việt Nam, người cộng sản trung kiên, người học tṛ lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam.

 

Với 79 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Duẩn đă nêu tấm gương sáng của một người chiến sĩ cách mạng tiên phong, cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xă hội.

 

Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Lê Duẩn gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của cách mạng nước ta trong thế kỷ XX.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Đồng chí Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 07-4-1907 trong một gia đ́nh lao động có truyền thống yêu nước tại làng Bích La, xă Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sớm giác ngộ cách mạng và tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928; năm 1930, đồng chí Lê Duẩn là một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do lănh tụ Nguyễn Aí Quốc sáng lập.

 

Năm 1931 đồng chí là Uỷ viên Ban Tuyên huấn Xứ uỷ Bắc Kỳ. Cũng trong năm đó, đồng chí bị thực dân Pháp bắt ở Hải Pḥng, kết án 20 năm tù cấm cố và lần lượt bị đầy ải ở các nhà tù Hoả Ḷ, Sơn La và Côn Đảo.

 

Năm 1936, do cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thắng lợi của Mặt trận nhân dân ở Pháp, chính quyền thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam, trong đó có đồng chí Lê Duẩn. Ra tù, vượt qua sự đe doạ, quản thúc của chính quyền thực dân, đồng chí lập tức trở lại hoạt động cách mạng, củng cố tổ chức đảng ở các tỉnh miền Trung và góp phần vào thành công của cuộc vận động dân chủ do Đảng ta lănh đạo trong những năm 1936 - 1939.

 

Năm 1937, đồng chí giữ chức Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ.

 

Năm 1939, đồng chí được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

Năm 1940, đồng chí lại bị địch bắt ở Sài G̣n, bị kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền, tham gia cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

 

Năm 1946, ra Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuối năm đó, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng cử vào lănh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

 

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 195l, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ uỷ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí được phân công trực tiếp cùng với tập thể lănh đạo Trung ương Cục tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

 

Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kư kết, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương phân công trở lại miền Nam để lănh đạo cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng khó khăn, với sự khủng bố ác liệt của kẻ thù, sống trong ḷng nhân dân, đồng chí đă kiên tŕ bám trụ, từ vùng nông thôn hẻo lánh đến các thành phố để củng cố các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cuộc chiến đấu lâu dài chống đế quốc Mỹ xâm lược.

 

Năm 1957, đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng điều động ra miền Bắc, cử vào Ban Bí thư, chủ tŕ công việc của Ban Bí thư và là Phó ban chuẩn bị văn kiện Đại hội III của Đảng.

 

Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu lại và Ban Chấp hành Trung ương vào Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

Tại Đại hội lần thứ IV Đảng (năm 1976) và lần thứ V của Đảng (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

Hoạt động cách mạng trên cả ba miền của Tổ quốc, trải qua thử thách khắc nghiệt của lao tù đế quốc cũng như chiến tranh ác liệt, luôn luôn gắn bó với đồng bào, đồng chí Lê Duẩn đă có những đóng góp to lớn vào sự lănh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 

Suốt đời phấn đấu theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cống hiến trọn đời ḿnh cho lư tưởng cộng sản chủ nghĩa, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, v́ tự do, hạnh phúc của nhân dân ta, đồng chí Lê Duẩn là hiện thân sinh động của một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Trên các cương vị quan trọng của Đảng từ sau khi Đảng ra đời và với 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư của Đảng (1960 - 1986), đồng chí Lê Duẩn không chỉ là một nhà hoạt động chính trị kiên định, mà c̣n là một kiến trúc sư chiến lược của Đảng ta, đồng chí đă cùng với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, xác định đường lối, chính sách của các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng khoa học quân sự cách mạng Việt Nam, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động khác, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân giành độc lập, tự do.

 

Năm 1939, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương, dưới sự chủ tŕ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, đồng chí đă góp phần cùng Ban Chấp hành Trung ương xây dựng nghị quyết đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Phản đế Đông Dương, làm cho đường lối cách mạng nước ta trở lại đúng với tinh thần cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đă thể hiện trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Người khởi thảo đầu năm 1930.

 

Năm 195l, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II họp ở Việt Bắc, tuy không ra dự được nhưng đồng chí đă gửi thư đóng góp những ư kiến quan trọng với Đại hội. Căn cứ vào t́nh h́nh thực tiễn ở miền Nam, đồng chí đă cùng Xứ uỷ Nam Bộ đề ra chủ trương tiến hành cách mạng ruộng đất với phương pháp thích hợp, đoàn kết rộng răi các lực lượng yêu nước, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm cho kháng chiến ở Nam Bộ có bước phát triển rơ rệt và góp phần cùng cả nước giành thắng lợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954.

 

Những năm trở lại hoạt động ở miền Nam sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kư kết, vượt qua sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, bám sát thực tế đấu tranh bất khuất của đồng bào và nh́n rơ kẻ thù đă phá bỏ Hiệp định đ́nh chiến, đồng chí Lê Duẩn đă sớm suy nghĩ và t́m ṭi đường lối cho cách mạng miền Nam. Tháng 8-1956, bản Đề cương cách mạng miền Nam do đồng chí khởi thảo đă hoàn thành, góp phần quan trọng và sự ra đời Nghị quyết l5 của Ban Chấp hành Trung ương (năm 1959). Nghị quyết 15 thể hiện sự thống nhất về tư duy chiến lược giữa Trung ương và các cấp lănh đạo ở miền Nam, phản ánh đúng yêu cầu của lịch sử, ư chí, nguyện vọng của nhân dân, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, dẫn đến cao trào ''Đồng khởi'' oanh liệt trong những năm 1959 - 1960, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ ǵn lực lượng sang thế tiến công, mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam, góp phần bảo vệ và củng cố miền Bắc xă hội chủ nghĩa.

 

Dưới sự lănh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Phó trưởng ban chuẩn bị Báo cáo chính trị cho Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đă góp phần quan trọng vào việc h́nh thành đường lối cách mạng cả nước. Đó là đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc; kết hợp chặt chẽ hai chiến lược đó với nhau nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Đường lối đó thể hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xă hội, kết hợp những yêu cầu cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu cách mạng của nhân dân thế giới v́ hoà b́nh, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xă hội, do đó đă động viên và tổ chức đến tŕnh độ cao sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quư báu của nhân dân các nước xă hội chủ nghĩa và nhân dân các nước đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho hoà b́nh và tiến bộ xă hội trên toàn thế giới. Đường lối đó cũng là cơ sở để hoạch định chiến lược tiến công và sáng tạo ra nghệ thuật biết đánh, biết thắng từng bước kẻ thù xâm lược, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

 

Thực tiễn phức tạp của t́nh h́nh quốc tế trong những năm 60 và trước những thử thách quyết liệt của t́nh h́nh trong nước, trên cương vị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (1960 - 1976), chịu trách nhiệm lănh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đă tỏ rơ là một nhà tổ chức tài năng, góp phần to lớn vào việc lănh đạo xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, đồng thời chỉ đạo tổ chức cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, từng bước bẻ găy ư chí xâm lược của chúng.

 

Ngày 02-9- 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Trước đau thương vô hạn và tổn thất lớn lao đó, đồng chí Lê Duẩn đă cùng Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng kiên định đường lối độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, sáng suốt lănh đạo quân và dân ta giữ vững quyết tâm chiến đấu, thực hiện lời thề với Người, đưa ngọn cờ độc lập - tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến đích: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xă hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một trong những chiến công chói lọi nhất của dân tộc ta và của loài người trong thế kỷ XX.

 

Đất nước thống nhất, 10 năm trên cương vị Tổng Bí thư của Đảng (1976 - 1986), đồng chí Lê Duẩn đă cùng Ban Chấp hành Trung ương vạch ra và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xă hội chủ nghĩa; đồng thời định ra chiến lược kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội.

 

Lư tưởng và hoài băo suốt đời của đồng chi Lê Duẩn là Tổ quốc độc lập và thống nhất, nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làng chủ xă hội và làm chủ cuộc sống của ḿnh.

 

Về mặt quốc tế, đồng chí Lê Duẩn đă có những đóng góp lớn vào việc xây dựng, củng cố t́nh hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân ta với nhân dân Lào, Cam-pu-chia và nhân dân các nước xă hội chủ nghĩa anh em; góp phần vào việc bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, chống chủ nghĩa cơ hội và xét lại, tăng cường t́nh đoàn kết chiến đấu trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

 

Đánh giá công lao của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta khẳng định: "Là một nhà mác xít - lêninnít chân chính, đồng chí luôn luôn suy nghĩ t́m ṭi, xuất phát từ t́nh h́nh thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những t́nh huống phức tạp'', ''lịch sử nước ta măi măi khẳng định công lao to lớn của đồng chí Lê Duẩn. Tấm gương của đồng chí măi măi tươi sáng''.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Hai mươi sáu năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta, dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn vừa là nhà lănh đạo chính trị kiên định, nhà chiến lược xuất sắc, nhà tổ chức tài năng, vừa là một nhà tư tưởng, một trí tuệ lớn của cách mạng Việt Nam đă có những cống hiến xuất sắc về 1ư luận.

 

Đồng chí luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo những nguyên lư cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh Việt Nam để cùng với Đảng ta đề ra đường lối chiến lược đúng đắn, phương pháp cách mạng và khoa học.

 

Điều ấy được thể hiện ở hàng loạt tác phẩm giàu tính lư luận, khái quát từ thực tiễn cách mạng hết sức phong phú, có tính đến những biến đổi phức tạp' của thế giới, của thời đại. Những tư tưởng đớn của đồng chí đóng góp vào việc xác định chính sách mới của Đảng ở Hội nghị Trung ương bần thứ sáu (năm 1939), vào đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân qua bản kiến nghị quan trọng với Đại hội bần thứ II của Đảng (năm 195l), vào việc hoạch định con đường đi lên của cách mạng miền Nam qua bản Đề cương cách mạng miền Nam và việc chuẩn bị Nghị quyết 15 của Trung ương (năng 1959), sau này đă được bổ sung và phát triển một cách toàn diện trong những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ XX và đă là những đóng góp có ư nghĩa quyết định và sự lănh đạo của Đảng để đưa cách mạng Việt Nam đến toàn thắng vào mùa Xuân năm 1975.

 

Về chủ nghĩa xă hội và con đường đi lên chủ nghĩa xă hội, đồng chí Lê Duẩn đă ''góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lư luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng xă hội chủ nghĩa ở nước ta, trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xă hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội, đồng chí đă kiên tŕ nguyên tắc kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc''.

 

Là nhà lănh đạo chiến lược của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đặc biệt quan tâm đến vấn đề đường lối, phương pháp vào nghệ thuật cách mạng, chiến lược vả sách lược cách mạng, mà điều bao trùm nhất là t́m hiểu và nắm vững những quy luật và những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, vận dụng một cách đúng đắn vào thực tiễn, để thực tiễn kiểm nghiệm.

 

Một nét rất nổi bật ở đồng chí Lê Duẩn là phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn trăn trở với những vấn đề mà cuộc sống đặt ra, luôn suy nghĩ t́m ṭi cái mới.

 

Những đóng góp của đồng chí Lê Duẩn về lư luận trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xă hội chủ nghĩa đă làm phong phú thêm kho tàng lư luận cách mạng Việt Nam.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Trước những thử thách nghiệt ngă của cuộc đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ, đồng chí Lê Duẩn luôn nêu tấm gương về ḷng trung thành vô hạn với Đảng và cách mạng, với lợi ích tối cao của Tổ quốc và nhân dân, với lư tưởng cộng sản chủ nghĩa cao cả, luôn kiên định ư chí cách mạng tiến công, một ḷng một dạ phục vụ sự nghiệp độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

 

Đồng chí sống một cuộc đời trung thực và giản dị, luôn gần gũi đồng bào, đồng chí, với t́nh thương yêu tha thiết và chân thành đối với mọi người, quan tâm đến ư kiến và nguyện vọng của nhân dân; luôn coi trọng t́nh thương và lẽ phải.

 

Đồng chí c̣n là tấm gương của một chiến sĩ quốc tế trong sáng, suốt đời noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm lo góp phần củng cố và tăng cường đoàn kết quốc tế giữa các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới trong cuộc đấu tranh chung v́ hoà b́nh, độc lập dân tộc, đần chủ và chủ nghĩa xă hội.

 

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn, chúng ta tưởng nhớ đến một người học tṛ lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, người đă đă để lại những dấu ấn sâu đậm trên các chặng đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xă hội.

 

Noi gương đồng chí, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tăng cường đoàn kết nhất trí, tranh thủ thời cơ, sáng tạo và tiến lên, vượt qua mọi khó khăn, thức thách hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đă đề ra, thực hiện có kết quả cuộc vận động ''Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh'', quyết phấn đấu đưa sự nghiệp đổi mới v́ dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh đến thắng lợi.

 

Đảng Cộng sản Viêt Nam quang vinh muôn năm !

Nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống măi trong sự nghiệp của chúng ta !

 

Xin trân trọng cảm ơn.

 

Tổng Bí Thư: Nông Đức Mạnh

 

Báo Điện Tử ĐCSVN, ngày 6/4/07

NDVN, ngày 17/4/07

 

 

 

******

 

Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thời lửa đạn

Đồng chí Lê Duẩn - nhà lănh đạo kiệt xuất

Đồng chí Lê Duẩn báo cáo t́nh h́nh cách mạng miền Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1957

TT - Anh Ba là tên gọi thân thương mà đồng bào và đồng chí cả nước dành cho Tổng bí thư Lê Duẩn - một trong những học tṛ tiêu biểu, xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng VN trong thế kỷ 20.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Tổng bí thư Lê Duẩn, Tuổi Trẻ trích đăng những ḍng hồi ức của các nhà lănh đạo, đồng chí, người thân... từng kề vai sát cánh với cố tổng bí thư trong những năm tháng khó khăn nhất của đất nước khi trải qua chiến tranh và những năm đầu tiên sau ḥa b́nh.

Kỳ 1: Nhà lănh đạo xuất sắc

Cuối năm 1949, tôi được cử đi dự hội nghị Xứ ủy Nam bộ mở rộng, tổ chức tại Đồng Tháp Mười. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với anh Ba. Tôi có ấn tượng mạnh về anh - một con người hoạt động đầy sức sống và tính nguyên tắc. Anh như một nguồn năng lượng lớn luôn bừng tỏa.

Dồn hết tâm lực cho đất nước

Năm 1952, anh Ba được Trung ương gọi ra Bắc. Năm 1954, sau khi Hiệp định Geneva được kư kết, anh Ba từ Quảng Ngăi trở lại chiến trường Nam bộ. Lần đó, một hội nghị cán bộ chủ chốt mở rộng đủ quân, dân, chính, đảng ở Nam bộ được tổ chức để nghe anh thông báo t́nh h́nh. Hội nghị đón anh với tất cả sự hồ hởi và cả những băn khoăn về hiệp định chờ được anh giải đáp. Suốt mấy ngày, hàng trăm vấn đề được đặt ra: cơ sở nào để lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời? Tại sao theo hiệp định chỉ hai năm sau là tổng tuyển cử mà phải tập kết triệt để cả quân đội và vũ khí? Liệu có chắc địch sẽ thi hành hiệp định không? Nếu địch phá hiệp định th́ ta xử lư thế nào?... Chưa bao giờ tôi thấy anh Ba phải vất vả đến như vậy mới giải thích hết được những thắc mắc của mọi người.

Mấy năm gắn bó sống chết với chiến trường Nam bộ sau Hiệp nghị Geneva đă giúp anh Ba tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn xương máu, làm tiền đề h́nh thành đường lối đấu tranh của cách mạng miền Nam mà anh thể hiện trong dự thảo “Đường lối cách mạng VN ở miền Nam”. Trước khi ra Bắc, anh Ba đă đưa những nội dung của tài liệu đó ra bàn bạc, thảo luận cả tháng trời trong lănh đạo Xứ ủy mở rộng. Sau này, tài liệu đó được quen gọi là Đề cương cách mạng miền Nam và tư tưởng của nó được thể hiện đầy đủ trong nghị quyết 15 của Trung ương Đảng khóa II.

Đồng chí Lê Duẩn thời kỳ làm thư kư cho Công ty hỏa xa Bắc Kỳ - Hà Nội năm 1927 - Ảnh tư liệu
Mấy năm sau hiệp định cũng là thời kỳ đầy thách thức, nguy hiểm đối với anh Ba. T́nh h́nh hết sức căng thẳng, phức tạp. Lúc đầu anh Ba ở Cà Mau. Tới cuối năm 1955, anh chuyển qua Bến Tre để tiện làm việc với các anh ở thường vụ Xứ ủy. Giữa năm 1956, anh quyết định lên Sài G̣n để có thể trực tiếp nắm t́nh h́nh ở đó. Bố trí nơi ăn ở, làm việc và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho anh Ba là việc lớn. Chúng tôi rất lo bởi sự sống, cái chết lúc bấy giờ chỉ cách nhau gang tấc. Khi anh an toàn ra Hà Nội (vào giữa năm 1957) tất cả chúng tôi mới thật sự thấy nhẹ nhơm, mặc dù biết vắng anh công việc sẽ nặng nề hơn. Điều lư thú, mỗi khi nhớ lại, là cả bộ máy CIA của Mỹ và mạng lưới mật vụ dày đặc của chính quyền Sài G̣n đều không thể ngờ người sau này trở thành lănh đạo cao nhất của Đảng ta vẫn ở lại miền Nam, có lúc lại ở ngay trung tâm đầu năo của họ, và tại đó bản Đề cương cách mạng miền Nam nổi tiếng được soạn thảo.

Giữa năm 1957, anh Ba trở ra Bắc, được Trung ương Đảng giao trách nhiệm quyền tổng bí thư, và tại Đại hội III được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành trung ương. Sau khi Bác Hồ qua đời, anh trở thành người lănh đạo cao nhất của Đảng ta. Tuy ở xa trung ương, nhưng chúng tôi vẫn như thấy anh Ba rất gần và anh luôn dồn hết tâm lực vào lănh đạo Đảng, chỉ đạo Quân ủy trung ương với một quyết tâm sắt đá. Từ những cán bộ cao cấp của Đảng cho đến anh em các cấp mà tôi có dịp tiếp xúc, ai ai cũng tin tưởng, khâm phục anh Ba và đều khẳng định công lao đặc biệt to lớn của anh đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi cho rằng những đánh giá đó là hoàn toàn công bằng, chính xác.

“Vui sao nước mắt lại trào”

Cách một vài hôm sau ngày Sài G̣n giải phóng, anh Ba đi chuyến bay đầu tiên cùng đoàn lănh đạo Đảng, Nhà nước từ thủ đô vào thành phố mang tên Bác. Lần đón anh Ba - người thật sự kế tục Bác Hồ trở thành vị chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh của dân tộc - trở lại miền Nam, trở lại Sài G̣n thật xúc động. Bao kỷ niệm sâu sắc trỗi dậy. Mọi người ôm chầm lấy nhau, “vui sao nước mắt lại trào”.

Tôi c̣n nhớ măi câu nói đầu tiên của anh Ba khi vừa bước xuống cầu thang máy bay: “Thắng lợi này là thắng lợi của cả dân tộc VN chứ không của riêng ai”. Tôi nhận thức được ư tứ sâu sắc của anh Ba trong câu nói ấy. Anh không chỉ muốn khẳng định truyền thống, niềm tự hào của cả dân tộc ta mà c̣n có ư ngăn ngừa những suy nghĩ so b́ về công lao sau chiến thắng. Lời căn dặn hoàn toàn chính xác trong giờ phút huy hoàng đó càng cho thấy tầm nh́n xa trông rộng của anh Ba.

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi đă được nghe anh Ba phát biểu về một số vấn đề kinh tế rất gần so với những chính sách trong đổi mới. Anh nói tới sự cần thiết phải duy tŕ nhiều thành phần kinh tế ở miền Nam, không thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp như miền Bắc, coi trọng vai tṛ của trung nông... Thời kỳ thực hiện cải tạo công thương nghiệp miền Nam, tôi cũng không thấy anh thúc giục mà rất quan tâm đến đời sống của những người làm ăn, buôn bán nhỏ. Một lần, vừa vào tới thành phố, anh Ba gọi tôi lại bảo: Nghe nói thành phố cải tạo công thương nghiệp, dẹp cả buôn gánh bán bưng có đúng không?

Đồng chí Lê Duẩn đứng trên mảnh đất Vĩnh Linh nh́n sang bên kia bờ sông Bến Hải ngày 2-2-1973 (30 Tết Quí Sửu) - Ảnh tư liệu
Thực tế khi đó, một số anh em bên dưới có làm quá mức nhưng Thành ủy đă chấn chỉnh. Vừa may hôm trước, tôi tới khu chợ ở Thị Nghè, nghe kể về một chị bốn con nhỏ đang tính phải về quê Bến Tre dù biết rằng về đó không làm ǵ cho đủ ăn. Tôi đề nghị anh em phường, quận nói với chị cứ ở lại tiếp tục buôn bán nuôi con, lo đời sống gia đ́nh. Tôi cũng nhắc nhở anh em nên tạo điều kiện cho những người bỏ sức lao động của ḿnh ra buôn bán kiếm sống. Tôi đem chuyện đó kể lại với anh Ba.

Dường như c̣n chưa tin hẳn, vài hôm sau, trên đường ra sân bay về Hà Nội, anh Ba gọi anh Trần Tấn, phó chủ tịch UBND thành phố phụ trách thương nghiệp, lên xe đi cùng. Anh Ba cho xe chạy mấy ṿng quanh khu chợ Sài G̣n, An Đông. Khi ra tới máy bay, anh mới bảo anh Tấn: “Anh về nói lại với Sáu Dân là tôi tin sự chỉ đạo của Thành ủy”.

Anh Ba rất khuyến khích TP.HCM t́m ṭi, thí điểm tháo gỡ khó khăn. Sau giải phóng mấy năm, TP.HCM kề ngay vựa lúa, vựa cá lớn nhất mà phải chạy ăn từng bữa. Đó là điều lạ lùng chưa từng có. Một số đồng chí ủy viên trung ương ở TP.HCM và mấy tỉnh miền Đông, miền Tây đề nghị tôi báo cáo anh Ba xin trung ương khoán cho mấy tỉnh chúng tôi các chỉ tiêu kế hoạch hằng năm, cho thí điểm một số cơ chế cụ thể trong lưu thông, xuất khẩu và cho thực hiện khoán và làm “kế hoạch 2, 3” trong công nghiệp. Anh Ba tỏ thái độ đồng t́nh cho thí điểm và bảo chúng tôi báo cáo một số đồng chí lănh đạo chủ chốt khác. Rất tiếc là đề xuất của chúng tôi không được chấp thuận. Nay nghĩ lại, tôi hiểu rằng với những nhận thức chung lúc bấy giờ th́ những đề xuất đó không được chấp thuận cũng là b́nh thường, không có ǵ khó hiểu.

VƠ VĂN KIỆT

(Trích từ Lê Duẩn - một nhà lănh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN, NXB Chính Trị Quốc Gia 2002)

Mỗi lần vào thăm TP.HCM, anh Ba đều dành nhiều thời gian đi t́m hiểu thực tế. Anh rất quan tâm tới các cơ sở quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh làm ăn tốt. Có lần tới thăm một cơ sở ở Tân B́nh chuyên làm hàng cơ khí tiêu dùng (như dao, kéo...), anh Ba rất khen cách tổ chức sản xuất của bà con. Năm sau, một số anh em khác lại dẫn anh Ba tới đó. Thấy không có ǵ mới so với lần thăm trước, anh không hài ḷng và phê b́nh: đi thực tế là để phát hiện cái mới chứ không phải để tuyên truyền.

 

 

******

 

Kỳ 2: Căn nhà đặc biệt giữa Sài G̣n 1956

Đồng chí Lê Duẩn thăm, vui tết với đồng bào Quảng B́nh, Vĩnh Linh và thăm bộ đội Trường Sơn (xuân 1973) - Ảnh tư liệu

TT - Mấy anh em chúng tôi cùng sống chung với nhau một thời gắn bó như anh em ruột thịt, mà c̣n hơn thế nữa. Nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời, bởi lẽ chúng tôi là đội cận vệ bên cạnh đồng chí Lê Duẩn.

>> Kỳ 1: Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thời lửa đạn

Gia đ́nh “b́nh phong”

Chúng tôi mỗi người mỗi nơi được Đảng gọi gom về để gây dựng cơ sở văn pḥng Xứ ủy Nam bộ trong nội thành Sài G̣n do đồng chí Lê Toàn Thư (hồi đó là ủy viên thường vụ xứ ủy) phụ trách. Đồng chí Nguyễn Thị Một từ Ban phụ vận, đồng chí Phan Phát Phước (anh Tám) từ văn pḥng xứ ủy trước đó, đồng chí Trịnh Long Nhi từ Ban tuyên huấn, tôi - Nguyễn Thị Loan, một đầu mối liên lạc từ tuyên huấn xứ ủy về thường vụ xứ ủy.

Riêng tôi được gọi đi với yêu cầu cần đem cả hai con theo: cháu Chí Công lên 7 tuổi, cháu B́nh c̣n đi lẫm chẫm. Bên cạnh chúng tôi c̣n có chị Nguyễn Thị Danh - một công chức thuế quan của chính quyền Sài G̣n ở sân bay Tân Sơn Nhất, anh Trịnh Long Việt - một sĩ quan không quân chính quyền Sài G̣n vừa giải ngũ về đi làm tư cho Hăng Olympic, một hăng buôn lớn. Chị Danh, anh Việt là người nhà của đồng chí Trịnh Long Nhi được giác ngộ, t́nh nguyện làm b́nh phong che giấu cơ sở cho ta. Họ biết chúng tôi là người kháng chiến cũ.

Thế là một gia đ́nh “b́nh phong” được h́nh thành. Mỗi người một vai diễn: đồng chí Trịnh Long Nhi (c̣n có tên Cao Minh Lư) làm anh Hai của tôi, đóng vai một nhà giáo ngày ngày đi dạy học. Tôi là em gái với vai là vợ của một sĩ quan quân đội Sài G̣n, chồng thường vắng nhà bởi thời chinh chiến, tôi cùng hai con phải ở dựa vào anh Hai. Chị Danh, vợ anh Nhi, ngày ngày đi làm ở sân bay với tư thế sang trọng của một công chức Sài G̣n, một b́nh phong tốt cho cơ sở. Cậu Việt là em trai út trong nhà, chưa vợ, cứ 7 giờ sáng là đă nổ xe đến hăng làm việc, chiều rảnh rỗi đi chơi có khi đến đỏ đèn mới về nhà. Người lớn nhất trong gia đ́nh là bà d́ của chúng tôi, đồng chí Nguyễn Thị Một, người đóng vai quan trọng cả trong lẫn ngoài đối với hàng xóm láng giềng...; nhà thầy Hai c̣n có anh bếp, do đồng chí Phan Phát Phước đóng vai này, ngày ngày xách giỏ đi chợ lo cái ăn cho cả nhà.

Như vậy gia đ́nh chúng tôi có đàn ông, đàn bà, có người lớn, có trẻ con như mọi gia đ́nh b́nh thường thuộc hàng gia đ́nh trung lưu ở số nhà 29 Huỳnh Khương Ninh, phường Đa Kao, quận 1. Đây là một căn hộ khang trang vừa phải, thuận lợi nhất là có cửa trước, có sân nhỏ phía sau, có cửa thông ra hẻm ṿng vèo về phía chợ Đa Kao. Nhân ḥa, địa lợi đều tốt.

Một đêm khoảng giữa năm 1956, anh Ba Lê Duẩn về nhà 29 Huỳnh Khương Ninh. Được biết anh Ba từ nông thôn lên Sài G̣n, đă tạm trú ở một vài địa điểm khác... nhưng lúc bấy giờ, thường vụ xứ ủy nhận thấy những nơi nói trên chưa kín đáo, chưa chắc chắn lắm nên quyết định đưa anh Ba về ẩn nơi đây với chúng tôi, bên ngoài là một gia đ́nh công tư chức hạng trung, bên trong là một chi bộ của Đảng đáng tin cậy.

Việc làm đầu tiên của chúng tôi là sửa soạn sao cho anh Ba thích hợp với dân Sài thành. Chị Một và tôi lo ngay cho anh Ba mấy bộ quần áo lụa, vừa mát vừa lịch sự cho ông già. C̣n việc cạo râu hớt tóc cho anh Ba th́ anh Hai Nhi lo. Không thể đưa anh Ba ra ngồi ngoài tiệm được, anh Hai Nhi rước thợ cắt tóc dạo về nhà cắt tóc trước cho anh Hai Nhi, hôm sau cắt cho cháu Công để ḍ chọn thợ đàng hoàng, thấy được mới để thợ cắt tóc cho anh Ba.

Ánh sáng của những ḍng chữ trong đêm

Đồng chí Lê Duẩn gặp lại Chi bộ văn pḥng Xứ ủy Nam bộ thời kỳ hoạt động bí mật (1956) trong nội thành Sài G̣n tại số nhà 29 Huỳnh Khương Ninh, phường Đa Kao, quận 1 năm 1976 - Ảnh tư liệu

Hằng ngày, anh Ba ở trong pḥng trong. Sáng ra mươi phút thể dục ở khoảng trống có giếng trời, vệ sinh tắm rửa, ăn lót dạ xong, anh đi đi lại lại rồi ngồi vào bàn viết (cái bàn viết này hiện nay c̣n được lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng TP). Chốc chốc, anh lại đứng dậy đi đi lại lại trong căn pḥng, đăm chiêu suy nghĩ... rồi lại ngồi xuống viết. Những lúc như vậy tôi hết sức chăm nom con ḿnh không cho nó quấy rầy làm mất sự yên tĩnh, để anh Ba tập trung suy nghĩ.

Lúc ban đầu, chúng tôi có ư muốn để anh Ba dùng cơm riêng trước cho tươm tất, c̣n chúng tôi quấy quá sao cũng được. Nhưng anh Ba không muốn như vậy. Cùng nhau ăn một lúc cho vui..., vậy th́ đại táo hay tiểu táo đều cùng trên bàn tṛn ở pḥng giữa. Vừa ăn vừa chuyện tṛ vui vẻ, ấm cúng. Ở Nam bộ không hề biết chế độ đại táo hay tiểu táo, nghe đâu chuyện đó có từ bên Trung Quốc. Tôi mượn cách gọi đó để nói “lănh tụ cùng anh chị em cần vụ của ḿnh cùng ăn chung một mâm”.

Anh Ba viết, viết được phần nào th́ đưa cho anh Tám Thảo chép lại rồi đưa xuống hầm cất giấu; đêm lại lấy lên chép tiếp. Anh Tám chép là chính. Phải chép đi chép lại nhiều lần, v́ có nhiều đoạn anh Ba sửa đi sửa lại. Về cuối, tôi và anh Hai Nhi cùng tham gia chép. Liên tiếp nhiều đêm, chúng tôi chép vào những cuốn tiểu thuyết công khai để ngụy trang.

Tôi nhớ anh Tám ngâm những trái “ngũ bội”, lấy nước đó để viết vào ban đêm dưới ánh đèn chụp những hàng chữ li ti, xen giữa những ḍng chữ in của trang tiểu thuyết. Viết chữ nào th́ chữ đó lặn mất trong rừng chữ của trang tiểu thuyết. Có bản viết trên giấy mỏng, có bản viết trên giấy dầu. Viết xong, đưa sách đi theo đường dây bí mật, sách đi đến các liên tỉnh ủy, các xứ ủy viên, chuyên chở nghi trang Dự thảo đề cương cách mạng miền Nam. Kiểu này có trời mới biết! Chép trong đêm bí mật, ḍng chữ lặn mất trong rừng chữ, nhưng tôi lại thấy ánh sáng xuyên qua những điều được nghe anh Ba giải đáp trong quá tŕnh tôi tham gia chép lại Dự thảo đề cương.

Có lần anh Ba đi ra phố. Từ khi mới về ngôi nhà 29 Huỳnh Khương Ninh, anh đă quan sát đủ thứ, từ chỗ ăn, chỗ nghỉ của mỗi người, nơi cất giấu tài liệu, lối vào ra như thế nào. Có hôm, anh hỏi t́nh h́nh ngoài đường phố ra sao, rồi một đêm tối anh yêu cầu cho anh ra phố. Đồng chí Trịnh Long Nhi đi trước, đồng chí Phan Phát Phước theo sau, từ 29 Huỳnh Khương Ninh đi măi đến đường Mayer (nay là đường Vơ Thị Sáu) ṿng qua đất thánh Tây về nhà. Có đêm, khó ngủ, anh nghe tiếng quét rác ngoài đường, tiếng lịch kịch của xe thùng (xe vệ sinh đi lấy phân ban đêm). Sáng ra, anh nói với anh chị em về đời sống của đồng bào cơ cực, trong đêm tối như vậy đó... Có đêm, có tiếng kêu la kinh hoàng “cháy nhà”, tiếng c̣i tàu xe lửa chở người đi trong đêm tối... Hôm sau, được điện mật báo về rằng đó là âm mưu đốt nhà của chính quyền Sài G̣n nhằm phá cơ sở cách mạng ở các khu lao động nghèo: Vườn Chuối, Bàn Cờ, ngă ba Vườn Lài... Những chi tiết như vậy đều được anh khái quát trong phân tích t́nh h́nh.

Sau ngày giải phóng, chúng tôi có về thăm ngôi nhà cũ 29 Huỳnh Khương Ninh, chúng tôi nhắc lại bao kỷ niệm sâu sắc đă trôi qua. Ai trong chúng tôi cũng cảm thấy thật xúc động v́ đă gắn bó với nhau từ ngôi nhà chung này. Chúng tôi như c̣n thấy ḿnh trong đó, như c̣n thấy gia đ́nh anh em năm ấy - “đội cận vệ bên cạnh đồng chí Lê Duẩn” một thời không thể nào quên.

Anh Ba cho đón chúng tôi đến cơ quan T.78. Bây giờ quây quần bên anh Ba được nghe anh nói về những thắng lợi, những triển vọng tương lai của đất nước. Thật là vui và phấn khởi. Cùng chụp ảnh chung với anh Ba có cả các cháu bé ngày trước: Công, B́nh, Thu, Ḥa B́nh. Con chị Một và con tôi nay đều đă trưởng thành. Chỉ thiếu đồng chí Lê Toàn Thư c̣n ở Hà Nội chưa vào. Chúng tôi thật vui mừng, phấn khởi với niềm tự hào lắng đọng bên cạnh người lănh tụ thật gần gũi của ḿnh.

NGUYỄN THỊ LOAN
(Trích từ Lê Duẩn - một nhà lănh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN, NXB Chính Trị Quốc Gia 2002) 

 

******

Anh Ba của một thời lửa đạn - Kỳ 3: Ngọn đèn 200 nến

Đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí trong Trung ương Cục miền Nam tại chiến khu Tân Biên (Tây Ninh) thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Từ trái sang: Lê Duẩn, Ung Văn Khiêm, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp - Ảnh tư liệu

TT - Vào khoảng những năm 1948-1950, ở Nam bộ người ta truyền nhau một từ mới lạ: 200 bougies. Đó là một từ tiếng Pháp, có nghĩa là ngọn đèn sáng 200 nến. Ngọn đèn ấy người ta muốn nói đến anh Ba Lê Duẩn.

Không cần nói tên anh Ba, chỉ cần nói “200 bougies” là những người biết tiếng Pháp đủ hiểu đó là ai rồi. Cụm từ “ngọn đèn 200 nến” về anh trở thành danh bất hư truyền ở Nam bộ ngày ấy.

>> Kỳ 1: Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thời lửa đạn
>> Kỳ 2: Căn nhà đặc biệt giữa Sài G̣n 1956

Nam bộ cưu mang

Bản chất không thích phô trương, anh Ba ưa sự chân thật. Anh nói trong đời, anh thích nhất là cách xưng hô của các má, các ba ở Nam bộ. Gặp anh là họ xởi lởi gọi to: “Ồ, thằng Ba, mày mạnh giỏi không?”. Và anh kể: chính những người dân bộc trực ấy đă cưu mang, che chở anh. Nhiều lần anh thấy mấy ông già chủ nhà ra ngoài sân gác máy bay cho anh ngủ.

Vốn kín đáo, anh rất nhạy cảm và cảnh giác. Bất cứ một dấu hiệu nào khả nghi có thể làm tổn hại cho cách mạng, anh đều kiên quyết tránh. Một lần, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ tổ chức cuộc hội nghị cán bộ quan trọng cho 200 người dự, ở huyện Cái Nước, tỉnh Bạc Liêu. Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, chỉ c̣n chờ buổi chiều anh Ba tới để khai mạc hội nghị.

Và anh Ba đă đến, nhưng không phải đến để khai mạc mà để thuyết phục mọi người nên dời ngay địa điểm hội nghị qua một nơi khác an toàn hơn. Anh nói: “Chúng ta có thể ngồi ngoài vườn hội nghị cũng được. Chứ Nam bộ chỉ có bấy nhiêu cán bộ cốt cán mà lỡ bị một trận bom th́ tổn thất biết chừng nào!”. Cuối cùng, hội nghị họp “dă chiến” trong một vườn dừa ở xă Tân Duyệt. Các đại biểu ngồi trên bờ dừa, lấy đầu gối kê làm bàn viết. Ai nấy ngồi “đồng hạng”, đều vui vẻ và yên tâm.

Nhớ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, t́nh cảnh quân dân ta ở Nam bộ khốn khó trăm bề. Trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, anh Ba luôn luôn là biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự lănh đạo tài t́nh của Đảng. Anh đă truyền sức mạnh cho những người lănh đạo ở mọi cấp, mọi ngành. Anh đă truyền hơi ấm đến những người cầm súng và mọi tấm ḷng yêu nước thiết tha.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Đại hội Đoàn toàn quốc lấn III (1961) - Ảnh tư liệu

Anh Ba là người ưa nhường nhịn. Ở Nam bộ hồi đó có trung tướng Nguyễn B́nh rất oai vệ, là tư lệnh toàn Nam bộ. Trung tướng đến đâu thường có quân sĩ đi theo, tốp trước tốp sau. Anh Ba th́ không như vậy. Tác phong của anh rất ôn tồn, lặng lẽ. Nhiều người biết rơ anh là người lănh đạo cao nhất ở Nam bộ, vậy mà về mặt chính quyền, anh chỉ nhận chức trưởng pḥng dân quân Nam bộ thôi. Anh không hơn thua với ai, chỉ thích tận tụy làm việc, sống giản dị và kín đáo. Có lần, một số “anh lớn” nói vui với anh Ba: “Giá như bây giờ anh Ba làm chủ tịch Nam bộ th́ hay quá!”. “Nói tầm bậy!”, anh Ba phản xạ ngay tức khắc. Anh bảo đây là đất Nam bộ, có nhiều nhà trí thức nổi tiếng, tự nhiên đưa một người “nói tiếng trọ trẹ” làm chủ tịch, sao nên! Cho nên các nhà trí thức Nam bộ vào kháng chiến rất thương anh, coi anh như một người anh mẫu mực, có ǵ cũng nhường cho em út.

Ngày 25-10-1945, Hội nghị Xứ ủy Nam bộ đă sớm xác định phải tiến hành chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích rộng khắp, đường lối chiến tranh nhân dân được giữ vững và không ngừng phát triển suốt những năm kháng chiến oanh liệt đầy gian khổ.

Thỉnh thoảng cũng có những biểu hiện nôn nóng, chủ quan, lạc quan tếu trong cán bộ, bộ đội. Xứ ủy đă nhanh chóng khắc phục những lệch lạc này. Anh Ba luôn là người tiêu biểu cho sự kiên định về tư tưởng và đường lối kháng chiến. Anh đă uốn nắn, chấn chỉnh những sai sót của các cấp quân dân chính đảng.

Những “ngày Bắc, đêm Nam”

Một trong những chỗ yếu quan trọng của cách mạng trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp là lực lượng quân đội kỷ luật lỏng lẻo. Chính Xứ ủy và anh Ba đă kiên quyết và công phu củng cố các lực lượng vũ trang cách mạng, xác lập sự lănh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội, dân quân, du kích.

Nhờ vậy, chỉ trong vài năm, các lực lượng vũ trang của ta từ chỗ yếu ớt, đánh giặc lẻ tẻ đă tiến lên tác chiến có qui mô, mở được nhiều chiến dịch lớn, đánh thắng nhiều trận vang dội như Tháp Mười, Mộc Hóa, La Bang, Cầu Kè, Tầm Vu, La Ngà... với sự có mặt của các tiểu đoàn, trung đoàn, liên trung đoàn chủ lực hùng mạnh.

Và khi các lực lượng vũ trang đă phát triển có qui mô th́ anh Ba xuất hiện với danh nghĩa là chính ủy Bộ tư lệnh Nam bộ. Sự xuất hiện công khai của anh với cương vị cao nhất của các lực lượng vũ trang ở Nam bộ đă làm nức ḷng quân và dân ta.

Năm 1952, anh được trung ương mời ra Bắc làm việc. Lúc này cuộc kháng chiến toàn quốc của ta đă phát triển rất mạnh. Những người biết chuyện anh ra trung ương th́ phỏng đoán thế nào cũng sẽ có bước ngoặt lớn lao. Nhưng số đông th́ không biết anh đi, họ vẫn đinh ninh có anh bên cạnh để chỉ huy họ, d́u dắt họ. Và anh Ba đă trở về như mong đợi của đồng bào, đồng chí. Giữa đường anh trở về Nam th́ hiệp định đ́nh chiến Geneva được kư kết.

Anh Ba nhận trách nhiệm mới là trưởng phái đoàn đ́nh chiến của Chính phủ ta. Rồi trong chuyến tàu áp chót chở quân đi tập kết tại biển Cà Mau, anh Ba đă nghẹn ngào chia tay các đồng chí lănh đạo. Anh nhờ các đồng chí chuyển tới Bác Hồ lời thăm hỏi ân cần và nói: “Có thể 20 năm nữa chúng ta mới gặp lại nhau!”. Mấy ai ngờ câu nói ấy trở thành lời tiên tri khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng ngày 30-4-1975.

Ở lại miền Nam tiếp tục lănh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong khung cảnh có hiệp định Geneva ràng buộc, đó là nguyện vọng tha thiết của anh Ba, bởi v́ anh thương yêu đồng bào vô hạn. Bao nhiêu lần nh́n hai ngón tay của đồng bào khi tiễn quân đi tập kết với mong đợi hai năm sẽ thống nhất nước nhà, anh đă trào nước mắt. Anh nói: “Nhân dân ta chân thực quá, yêu ḥa b́nh quá”.

Những ngày ở lại miền Nam, anh Ba làm việc tất bật như người hái lá dâu cho tằm ăn rỗi. Anh Ba phải thường xuyên giả dạng, thường xuyên di dời chỗ ở. Khi th́ đóng vai một thầy thuốc nam. Khi là một “ông Chín” hiền lành. Nhưng rồi cuối cùng địch cũng phát hiện anh đang ở trong Nam. Nguy hiểm càng tăng lên gấp bội.

Đùng một cái, khoảng quí 2 năm 1957, được lệnh trên, anh Ba phải chuẩn bị ra Hà Nội. Anh tâm sự với người cần vụ rất tin cậy của ḿnh: “Tôi không muốn ra Hà Nội bây giờ v́ t́nh h́nh trong này c̣n khó khăn lắm, nhưng v́ Bác Hồ gọi ra. Tôi đi trước. Chú ở lại đi sau”.

Thế rồi năm 1959, nghị quyết trung ương 15 ra đời, cho phép miền Nam tiến hành cách mạng vũ trang. Sau đó là Đồng khởi, là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ra đời, là chiến công nối tiếp chiến công của quân giải phóng và nhân dân miền Nam.

Tại Đại hội Đảng lần III (1960), anh Ba được bầu làm bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng. Đó là vinh dự xứng đáng đối với anh, thể hiện ḷng tin tuyệt đối của Đảng, của Bác Hồ và nhân dân đối với anh.

Do tâm trạng nhớ nhà da diết, trong những người đi tập kết hồi đó có một thành ngữ rất phổ biến là “ngày Bắc, đêm Nam”. Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm, anh Ba cũng có t́nh cảm đó. Bằng chứng là trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh liên tục gửi thư vào Nam để hướng dẫn, chỉ đạo t́nh h́nh một cách kịp thời với một tinh thần trách nhiệm cao cả. Bằng chứng nữa là ở đâu có điều kiện thích hợp là anh nhắc tới những người dân tốt bụng, giàu ḷng yêu nước ở miền Nam. Khi gặp đoàn anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Nam ra thăm miền Bắc, anh đă xúc động nói: “Các em về nhớ nói lại rằng anh Ba lúc nào cũng nhớ các má, các ba và đồng bào trong ấy”.

NGUYỄN VĂN PHI
(Nguyên thứ trưởng Bộ Nội thương, trích từ Lê Duẩn -
một nhà lănh đạo lỗi lạc,
một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN,
NXB Chính Trị Quốc Gia 2002)
 

 

******

Anh Ba của một thời lửa đạn - Kỳ 4: Những câu chuyện đời thường

 

Ba mẹ tôi sau ngày cưới (1950) - Ảnh tư liệu

TT - Từ những ngày c̣n lănh đạo cách mạng ở Nam bộ cho đến khi ra Bắc với những “ngày Bắc, đêm Nam”, rồi những năm tháng khó khăn sau khi ḥa b́nh lập lại, đồng chí Lê Duẩn vẫn đau đáu sự nghiệp chung, tạm gác chuyện riêng tư của ḿnh để lo việc chung, lo cho mọi người.

>> Kỳ 1: Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thời lửa đạn
>> Kỳ 2: Căn nhà đặc biệt giữa Sài G̣n 1956
>> Kỳ 3: Ngọn đèn 200 nến

Có những câu chuyện về đời thường, về gia đ́nh của cố Tổng bí thư Lê Duẩn giờ đây được kể lại qua người con trai - ông Lê Kiên Thành.

Mẹ tôi

Những năm 1948-1950, ba tôi là bí thư Xứ ủy Nam kỳ, ngoài 40 tuổi, hoạt động ở Nam bộ. Tại đây ông đă gặp mẹ tôi, lúc đó là trưởng đoàn phụ nữ cứu quốc tỉnh Cần Thơ. Khi biết chuyện ba tôi có ư thương bà, mẹ tôi hết sức bàng hoàng. Bà chỉ thấy anh Ba là nhà lănh đạo uyên bác rất đáng tôn kính. Bà chỉ biết ghi chép những chỉ thị, nghị quyết, đường lối… của ông để học tập, thi hành. Nhưng cũng từ đó bà bắt đầu để ư ông. Bà thấy ông luôn tự chọn cuộc sống đạm bạc đến khắc khổ. Ông chỉ có một chiếc xuồng tam bản. Đến cơ quan, cơ sở nào làm việc th́ anh em lên nhà ngủ, ông vẫn ngủ dưới ghe.

Tổ chức xin ư kiến và được Bác Hồ đồng ư. Thế là một đám cưới rất kháng chiến được tổ chức. Những ngày tháng đầu tiên được làm vợ, mẹ tôi không chỉ được gần gũi một nhà cách mạng cao cả mà ông c̣n dành cho bà một t́nh yêu chân thành. Khi mang thai chị tôi, có đêm mẹ tôi nằm mơ được ăn quả xoài xanh khiến tỉnh dậy thèm chảy nước miếng. Bà kể với ông. Vậy mà trưa đi họp về ông đă cố t́m đâu được trái xoài tượng đem về cho vợ.

Năm 1952, mẹ tôi sinh chị Lê Thị Vũ Anh. Năm 1954 mẹ tôi có mang tôi. Hiệp định Geneva kư kết. Tất cả cán bộ lănh đạo cách mạng miền Nam phải quay ra Bắc theo nghị quyết hiệp định gọi là tập kết. Gia đ́nh tôi đứng đầu danh sách này. Ba tôi nghĩ nếu tất cả lănh đạo Xứ ủy đều ra Bắc th́ sự nghiệp cách mạng miền Nam sẽ khó khăn, mục tiêu giải phóng, thống nhất sẽ xa vời. Ba tôi liên tục gửi ba bức điện tới Bác Hồ xin ở lại. Bác và trung ương đồng ư nhưng phải giữ bí mật.

Mẹ tôi kể đó là một đêm mùa đông. Bà đang có mang tôi, khệ nệ những túi, b́, tay nải tư trang và bế trên tay đứa con ba tuổi theo chồng lên con tàu chở 2.000 con người về Bắc. Đúng 12 giờ đêm, khi chỉ c̣n vài tiếng nữa tàu nhổ neo th́ ba tôi phải quay lại bờ. Ông nói với bà: "Anh thương mẹ con em bao nhiêu th́ anh cũng thương đồng bào đồng chí miền Nam bấy nhiêu. Anh mong rằng sau này em sẽ hiểu quyết định hôm nay của anh". Bà không dám tiễn ông giây phút cuối nhưng bà vẫn nghe thấy tiếng canô áp sát mạn tàu đón chồng tiến vào màn đêm. Ba tôi nói với các đồng chí: 20 năm nữa chúng ta mới có thể gặp nhau… Đó cũng là tiên đoán của ông về ngày thống nhất.

Về Hà Nội ít lâu th́ tôi ra đời. Nhật kư mẹ tôi viết: "11 giờ trưa ngày 17-4-1955, sinh Kiên Thành. Kiên Thành tức là kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam. Đó là ư chí của toàn dân và cũng là của ba con nữa. Kiên Thành sinh thiếu 23 ngày, nặng 2,2kg. Không nuôi con được tṛn những ngày trong bụng, mẹ sẽ ráng nuôi con ở ngoài đời vậy". Đúng 20 năm sau cũng vào những ngày tháng tư chan ḥa nắng mới, đất nước hoàn toàn thống nhất, ư nguyện "Kiên Thành" của dân tộc và ba mẹ tôi đă thành sự thật.

Năm 1957, ba tôi ra Hà Nội. Thế nhưng vợ chồng cũng chỉ được ở bên nhau ít tháng, mẹ tôi phải nhận nhiệm vụ công tác tận Bắc Kinh, Trung Quốc. Khi đó bà cũng có mang. Và giữa vùng tuyết lạnh xứ người, mẹ tôi lại một lần đơn độc sinh con.

"Lấy lư tưởng sự nghiệp làm chính"

Ba chị em tôi (Lê Kiên Thành ở giữa) chụp ảnh gửi vào cho mẹ Vân đang hoạt động tại miền Nam (1968)  - Ảnh tư liệu

Cuối năm 1962, mẹ tôi từ Trung Quốc về Hà Nội. Mẹ tôi chưa thể được ở Hà Nội cùng chồng mà phải xuống Hải Pḥng làm ủy viên ban biên tập báo Hải Pḥng. Bốn mẹ con sống trong một gian nhà cấp 4 do Thành ủy cấp. Thỉnh thoảng ba tôi tranh thủ xuống thăm. Rồi mẹ tôi quyết định về Nam công tác. 

Mẹ tôi kể sau bữa tiệc tiễn đưa, ba tôi động viên: "Thôi cuộc đời chúng ḿnh đă như vậy, hăy lấy lư tưởng sự nghiệp làm chính. Như vậy chúng ta vẫn gần nhau". Lá thư đầu tiên tôi nhận được từ mẹ tôi vào năm 1965. Mẹ tôi kể bà đang ở rừng U Minh, cuộc sống nhiều gian nan nguy hiểm, thương nhớ các con nên bà đă bạc tóc rồi. Bà sợ nhất là muỗi. Trong thư bà kẹp một con muỗi khô to tướng và một sợi tóc bạc. Tôi nh́n mà không cầm được nước mắt.

Mẹ tôi kể rằng trong đó đối phương vẽ h́nh bà cao 1,6m, rộng 1,2m ở các chợ Rạch Giá, Cần Sỏi, Cần Thơ với hàng chữ "Tên thật là Nguyễn Thụy Nga, tên mới là Nguyễn Thị Vân, vợ của lănh tụ số 1 cộng sản Bắc Việt về nằm vùng" kèm theo tiền thưởng cho ai bắt được.

Đúng 10 năm xa cách, năm 1974 khi đang học ở Liên Xô th́ tôi được đón mẹ tôi giữa sân bay Matxcơva mênh mông tuyết trắng. Mẹ tôi tiều tụy và mang nặng dấu ấn sốt rét rừng trên gương mặt tím tái đến quặn ḷng. Mẹ tôi kể bà đă đi dọc đường Trường Sơn ra Bắc lúc nào cũng có ư t́m con chỉ để dặn rằng: cuộc chiến đấu này gian khổ, tàn khốc muôn phần, con không được chủ quan… Ra tới Hà Nội, ba mẹ tôi gặp nhau mừng mừng tủi tủi, nhưng hạnh phúc chưa tṛn th́ mẹ tôi lại phải sang Liên Xô chữa bệnh. Về lại Hà Nội, nhưng những mầm bệnh quái ác chưa hết, mẹ tôi lại đi Cộng ḥa Dân chủ Đức.

Đúng năm ấy, Sài G̣n giải phóng, đất nước thống nhất. Thế là suốt 10 năm gian khổ nhất cuộc chiến, mẹ tôi đă ở miền Nam, nhưng ngày giải phóng th́ bà ở tận bên kia quả địa cầu. Dân tộc, gia đ́nh, t́nh bạn, t́nh yêu được ngày sum họp. Nhưng miền Nam lại gọi mẹ tôi, mục đích cuối cùng vẫn là để ba tôi toàn tâm toàn ư hơn khi phục vụ cách mạng. Cuối đời, ba tôi nói sẽ về Nam nghỉ những năm c̣n lại. Mẹ tôi đă chờ nhưng cũng như bao nhiêu lần chờ đợi khác, ba tôi không thể về bên mẹ tôi do nhiệm vụ ở Hà Nội, cho đến khi ba tôi ra đi vĩnh viễn.

LÊ KIÊN THÀNH
(Quang Thiện ghi)



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend