NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN II


 TUYÊN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN II

 

Nguyên Tổng Bí Thư và Cố Vấn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng

 

NHỚ VỀ ANH BA DUẨN

 

Đỗ Mười

(Nguyên Tổng Bí Thư và Cố Vấn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng) 

 

    Le Duan (right) with Ho Chi Minh                                                                                                                                     

     Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX.

 

    Được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng phong phú khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và trong nhà tù đế quốc. Anh là một chiến sĩ kiên cường và giàu kinh nghiệm, là một nhà mác-xít-lê-nin-nít chân chính có tư duy độc lập và sáng tạo.

 

    Xuất phát từ thực tế đất nước và thế giới, Anh luôn luôn suy nghĩ, t́m ṭi phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lư luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam v́ độc lập và chủ nghĩa xă hội.

 

    Cuộc đời hoạt động ngót 60 năm của Anh gắn liền với quá tŕnh cách mạng nước ta từ giữa những năm 20 đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX.

 

    Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939) là Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Anh Ba đă là một nhà tổ chức mưu lược và khôn khéo.

 

    Cuối năm 1939, là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Anh đă sát cánh cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chuẩn bị và chủ tŕ Hội nghị Trung ương 6 (khóaI), một hội nghị có ư nghĩa quan trọng đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược sáng suốt và kịp thời của Trung ương Đảng. Tiếp đó, Hội nghị Trung ương 8 do Bác Hồ chủ tŕ đă hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược phù hợp với t́nh h́nh mới, mở ra cao trào cách mạng đă dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân trong cả nước

 

    Thời kháng chiến chống Pháp, Anh Lê Duẩn đă cùng với các anh Phạm Hùng, Lê Đức Thọ và tập thể Xứ ủy Nam Bộ, sau đó với Trung ương Cục miền Nam giải quyết một loạt vấn đề cơ bản và cấp bách lúc bấy giờ: thiết lập sự lănh đạo toàn diện của Đảng bộ, thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích và đưa cuộc kháng chiến đi vào đường hướng đúng, cũng cố liên minh công nông, tăng cường mặt trận dân tộc, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân cả nông thôn và thành thị đứng lên cứu nước, phát huy vai tṛ tích cực của nhân sĩ, trí thức, thu phục và lôi kéo các tôn giáo...Đặc biệt trong kháng chiến quyết liệt, Anh Ba kiên cường lănh đạo thực hiện từng phần chính sách ruộng đất, đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân nghèo trong vùng ta kiểm soát. Nhờ đó lực lượng kháng chiến ngày càng tăng cường, chiến tranh du kích ngày càng phát triển, góp phần cùng cả nước đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp.

 

    Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Anh Ba ở lại miền Nam, Anh đă soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam để lănh đạo phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam trong t́nh thế nước sôi lửa bỏng. Đến giữa năm 1957, Anh được Bác Hồ và Bộ Chính trị gọi ra Hà Nội làm việc. Anh được giao chuẩn bị nghị quyết về đường lối giải phóng miền Nam. Nghị quyết đó đă được Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng thông qua sau hai lần họp tháng 1 và tháng 5-1959(1). Tiếp đó, Anh đọc phân công chuẩn bị Đại hội lần thứ III của Đảng, Đại hội quyết định đường lối cách mạng ở hai miền và chung cả nước.

 

    Trong gần 20 năm, cương vị Quyền Tổng Bí thư, rồi bí thư thứ nhất, Anh Ba đă có những đóng góp hết sức to lớn cùng với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, lănh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng miền Bắc xă hội chủ nghĩa, hậu phương lớn cả nước, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại, giành thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xă hội, làm nên một chiến công oanh liệt nhất trong lịch sử dân tộc ta, “một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử cận đại sau Cách Mạng Tháng Mười, sau chiến thắng chủ nghĩa phát xít(2). Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp ư chí cách mạng kiên cường với tư duy cách mạng và khoa học, Anh Ba đă kiên tŕ đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội, động viên sức mạnh lớn nhất của toàn dân, toàn quốc dốc vào sự nghiệp cứu nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với thời đại, tạo ra lực lượng tổng hợp đủ sức đánh thắng chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ. 

 

    Suốt 20 năm chống Mỹ, có thể nói trong mỗi quyết sách chiến lược đối nội cũng như đối ngoại, trong mỗi thắng lợi ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán, trong giai đoạn mở đầu cũng như trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, ở đâu cũng có dấu ấn tư duy độc lập, trí tuệ sáng tạo và nghị lực phi thường của Anh Ba.

 

    Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trước những dấu hiệu chuyển biến có thể bất lợi của t́nh h́nh thế giới, Anh Ba chủ trương nhân đà thắng lợi, cố gắng thắt lưng buộc bụng tranh thủ thời gian vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa xúc tiến công nghiệp hóa nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất bước đầu cho một nền kinh tế độc lập tự chủ để có đủ sức đối phó với những bế trắc có thể xẩy ra. Công cuộc xây dựng vừa bắt đầu th́ đất nước lại phải tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Cam-pu-chia. Chương tŕnh phát triển kinh tế xă hội do vậy bị đẩy lùi một bước nghiêm trọng. Từ Đại hội V của Đảng, công cuộc xây dựng  kinh tế bước đầu có sự điều chỉnh. Tuy có khuyết điểm sai lầm như Đại hội VI đă vạch ra, kế hoạch 1981-1985 vẫn đạt những thành tựu quan trọng trong thế bị bao vây chống phá từ bên ngoài. Một số lớn công tŕnh về công nghiệp, giao thông như điện, dầu khí, xi măng, cầu đường, thủy lợi được xây dựng trong những năm đó, chẵng những là những cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu tối cần thiết của đất nước mà c̣n là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề rất quan trọng cho thời kỳ đổi mới.

 

    Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, Anh Ba suốt đời làm công tác Đảng, Anh hết sức chăm lo công tác xây dựng Đảng, dành nhiều công sức tổng kết thực tiễn, phát triển công tác lư luận, xây dựng đường lối chính trị đứng đắn, kết hợp công tác tư tưởng và công tác tổ chức, nâng cao tính tiên phong, sức chiến đấu và năng lực lănh đạo của Đảng đủ sức đáp ứng t́nh huống sóng gió, phức tạp.

 

    Anh Lê Duẩn vừa là một nhà yêu nước lớn, vừa là một người quốc tế chủ nghĩa trong sáng. Đi theo con đường Lê-nin và noi gương Bác Hồ Vĩ đại, Anh luôn luôn  vun đắp t́nh đoàn kết chiến đấu và quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với các nước trong cộng dồng xă hội chủ nghĩa, chăm lo góp phần cũng cố và tăng cường t́nh đoàn kết quốc tế giữa các lực lượng  cách mạng và tiến bộ thế giới. Về mối quan hệ giữa nhân dân ta với nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em. Anh Ba không ngừng xây dựng và vung đắp khối liên minh đặc biệt suốt mấy chục năm ṛng và đến năm 1975, cả ba nước đều được giải phóng, hoàn toàn khỏi ách đế quốc trong cùng một thời điểm lịch sử. Đó là thành quả rực rỡ hiếm thấy của khối liên minh đặc biệt giữa các nước láng giềng đồng cảnh ngộ.

 

    Anh Lê Duẩn là tấm gương mẫu mực về ḷng tận tụy, trung thành, hy sinh, xă thân v́ sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước, lư tưởng xă hội chủ nghĩa và công sản chủ nghĩa. Anh là một nhân cách lớn, luôn luôn trung thực và giản dị, không ham danh lợi, địa vị, ghét thói phô trương, h́nh thức.

 

    Anh Ba đi xa đă hơn 15 năm. Nhưng h́nh ảnh của Anh sống măi trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Lịch sử măi măi khẳng định công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của Anh. Tấm gương của Anh măi măi tỏa sáng, đúng như lời cố Tổng Bí thư Trường Chinh phát biểu trong lễ truy điệu đồng chí Lê Duẩn

 

_________

 

    (1) Về thời gian thông qua Nghị quyết 15 (khóa II), có tài liệu in là tháng 7-1959

 

    (2) Việt Nam lương tâm của thời đai. Nxb, Sự thật, Hà Nội, 1985, tr 69

 

 

Nhandan điện tử, ngày 4/7/02

NDVN, ngày 22/4/07

 

 

******

 

MỘT TẤM GƯƠNG CÁCH MẠNG TOẢ SÁNG

 

TBT Lê Duẩn thăm nhân dân Hà Tiên,

Kiên Giang (10.1980).

(LĐ) - Chiều 5.4, tại Hà Nội, Bảo tàng Cách mạng VN đă khai mạc triển lăm nói trên. Đây là một trong nhiều hoạt động văn hoá diễn ra trên toàn quốc nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Dự khai mạc, có đồng chí Nguyễn Phú Trọng - Uỷ viên BCT, Chủ tịch QH.

 

Trong điếu văn do đồng chí Trường Chinh đọc tại lễ truy điệu Tổng Bí thư Lê Duẩn ngày 15.7.1986 có đoạn: "Đồng chí Lê Duẩn đă cống hiến trọn đời ḿnh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân và cho lư tưởng cộng sản chủ nghĩa... H́nh ảnh của đồng chí sống măi trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Lịch sử nước ta măi măi khẳng định công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí. Tấm gương của đồng chí măi măi toả sáng".

Với ư nghĩa đó, triển lăm "Đồng chí Lê Duẩn - cuộc đời và sự nghiệp (1907 - 1986)" do sự phối hợp thực hiện của Bảo tàng Cách mạng VN, Bảo tàng Hồ Chí Minh và Cục Lưu trữ Văn pḥng Trung ương Đảng là dịp giới thiệu với công chúng về cuộc đời của đồng chí Lê Duẩn - đảng viên thuộc lớp đầu tiên của Đảng, một trong những học tṛ xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một nhà lănh đạo xuất sắc, nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ với tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN.

Trong diện tích trưng bày 160m2, nội dung triển lăm được kết cấu thành 3 phần mang tính khoa học với gần 500 h́nh ảnh, tài liệu, hiện vật. Qua những h́nh ảnh và hiện vật trong triển lăm, người xem có thể tiếp cận với nhiều góc độ về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Duẩn - người con của làng Hậu Kiên, xă Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, từ năm 1928 (khi ở tuổi 21) đă tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và năm 1930 trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng.

Tổng Bí thư Lê Duẩn nói chuyện thân mật với

các đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IV của Đảng (1976).

Cũng qua một số bức ảnh, chúng ta có thể thấy những địa danh - nơi chàng thanh niên có tên thuở nhỏ là Lê Văn Nhuận, sau là nhà hoạt động cách mạng Lê Duẩn - đă làm việc, như  ở Sở Hoả xa (1926), ở Cty đường sắt Hà Nội - Vân Nam (1927 -1930), hiệu sách Việt Quảng (TP.Huế) - trụ sở làm việc của Xứ uỷ Trung Kỳ những năm 1936 - 1939 (khi đồng chí Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ), vườn trầu nhà bà Tư Giả ở xă Tân Thới Nhất, Hóc Môn, TPHCM - nơi đồng chí Lê Duẩn  cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ tŕ Hội nghị lần thứ VI BCHTƯ Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng sau khi Thế chiến II bùng nổ, quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đông Dương (tháng 11.1939)...

Triển lăm cũng cho thấy những năm tháng đầy gian khổ khi đồng chí Lê Duẩn phải trải qua nhiều nhà tù của thực dân Pháp và những dấu ấn hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Duẩn cùng các chiến sĩ cách mạng VN trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

Triển lăm mở cửa đến tháng 7.2007, thực sự là một hoạt động nhằm tôn vinh danh nhân, khơi dậy ḷng tự hào dân tộc, bồi dưỡng truyền thống yêu nước và cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt với thế hệ trẻ; đồng thời tỏ ḷng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với đồng chí Lê Duẩn.

Một số hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Lê Duẩn


- Triển lăm về thân thế, sự nghiệp đồng chí Lê Duẩn (tại thị xă Đông Hà, Quảng Trị, từ ngày 2 - 8.4)


- Hội thảo "100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn" (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội ngày 3.4)


- Toạ đàm khoa học chủ đề "Lê Duẩn - nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt
Nam" (Thành uỷ TP.Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5.4)


- Chương tŕnh nghệ thuật "Trái tim dâng Đảng" (Cục NTBD tổ chức tại HN ngày 6.4, trong lễ míttinh kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn )


- Míttinh kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn (Bộ VHTT, Ban TTVH Trung ương và UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức tại Quảng Trị ngày 7.4). Nhân dịp này, tượng đài Tổng Bí thư Lê Duẩn được khánh thành tại công viên thị xă Đông Hà (Quảng Trị). Cũng tại đây, từ ngày 4 - 7.4, diễn ra "Liên hoan nghệ thuật toàn quốc "Hát về những người con ưu tú của Đảng".

 

Lê Quốc Vinh , Lao Động số 78, ngày 6/4/07

NDVN. Ngày21/4/07

 

 

******

  

 

ANH BA ĐĂ DỰ LIỆU CUỘC CHIẾN PHẢI LÂU DÀI

 

Vơ Văn Kiệt

 

 

Đồng chí Lê Duẩn thăm cán bộ, chiến sĩ

Đoàn 2 - hải quân, ngày 9.10.1973.

(LĐ) - Bằng óc quan sát, phân tích thực tiễn, với tư duy và tầm nh́n của một nhà chiến lược lớn, anh Ba - tên gọi thân thương mà đồng bào và các đồng chí trong  cả nước dành gọi  Tổng Bí thư Lê Duẩn -  đă có những đánh giá, dự báo t́nh h́nh và đề xuất những chủ trương mang tính quyết sách đối với cách mạng miền Nam
.

 

Sử dụng cán bộ ngoài Đảng


Thông qua anh Ba, phương thức lănh đạo tài t́nh của Bác Hồ, của Đảng được thể hiện rất sinh động: "Đảng lănh đạo thông qua chủ trương, đường lối và giữ vững vai tṛ hạt nhân, quy tụ mọi lực lượng trong xă hội chứ không bao biện làm thay".


Điều đó không chỉ thể hiện trí tuệ mà c̣n thể hiện bản lĩnh, sự tự tin tuyệt vời của Đảng ta. Điều này được thể hiện không phải chỉ ở lời nói. Trong điều kiện Nam Bộ thời kỳ chống Pháp, anh Ba và xứ uỷ giao hẳn nhiều trọng trách cho những người  yêu nước ngoài Đảng.


Các vị chủ chốt trong Uỷ ban Kháng chiến hành chính như chủ tịch, phó chủ tịch, tổng thư kư uỷ ban đều do những vị trí thức có uy tín ngoài Đảng đảm nhận. Các đồng chí lănh đạo xứ uỷ chỉ làm uỷ viên.


Sở Công an do ông Diệp Ba - một luật sư ngoài Đảng làm Giám đốc, c̣n đồng chí Phạm Hùng - Phó Bí thư Xứ uỷ làm Phó Giám đốc. Trung tướng Nguyễn B́nh - nguyên tù chính trị Quốc dân Đảng (tại côn đảo)- làm Tổng chỉ huy Lực lượng vũ trang Nam Bộ.


C̣n bản thân anh Ba - người lănh đạo cao nhất của Đảng ở Nam Bộ - chỉ giữ chức Trưởng pḥng Dân quân. Chính quá tŕnh công tác đă giúp những cán bộ ngoài Đảng này giác ngộ  lư tưởng và gia nhập Đảng.

Ngay sau đ́nh chiến, xác định rơ âm mưu của đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đ́nh Diệm, anh Ba đă trực tiếp bố trí những người có thân thế thâm nhập tổ chức B́nh Xuyên và các giáo phái.


Trường hợp anh Phạm Ngọc Thảo là một điển h́nh. Vốn là "dân Tây", công giáo ḍng, anh Thảo được anh Ba bố trí dưới danh nghĩa "người Quốc gia đi kháng chiến chống Pháp trở về", dựa thế Ngô Đ́nh Thục, tiếp cận Ngô Đ́nh Diệm, đi sâu vào giới chính trị của ngụy quyền để sẵn sàng đối phó với mọi t́nh huống kể cả tham gia vào chính phủ liên hiệp ở miền Nam nếu có.


Anh Ba chỉ thị cho Xứ uỷ, cho chúng tôi - liên tỉnh Hậu Giang,  lănh đạo quần chúng ủng hộ lực lượng ly khai của các giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài, B́nh Xuyên... chống lại chế độ gia đ́nh trị của Ngô Đ́nh Diệm.

Anh Ba cũng chỉ đạo anh em binh vận phải nắm chắc một số đơn vị ngụy quân để khi có điều kiện th́ ly khai với danh nghĩa quân đội cộng hoà chống lại chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.


Nhạy cảm tuyệt vời 


Mấy năm gắn bó sống chết với chiến trường Nam Bộ sau Hiệp định Geneva đă giúp anh Ba tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn xương máu, h́nh thành đường lối chiến tranh của cách mạng miền Nam. Điều đó được anh thể hiện trong dự thảo "Đường lối cách mạng Việt
Nam ở miền Nam".


Trước khi anh Ba ra Bắc ( giữa năm 1957), dự thảo này đă được đưa ra thảo luận, bàn bạc cả tháng trời trong lănh đạo Xứ uỷ mở rộng.  Sau đó, tư tưởng của dự thảo được thể hiện đầy đủ trong Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng khóa II.


Trong thời điểm này, với âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ và những thủ đoạn dă man, tàn bạo của bọn tay sai Ngô Đ́nh Diệm, cách mạng miền Nam có lúc như đứng bên bờ vực thẳm.


Nhờ nghị quyết này, ḍng thác cách mạng miền Nam đă được khai thông, xua tan những ảo tưởng "thống nhất đất nước bằng thi đua hoà b́nh giữa hai miền", tâm lư sợ chiến tranh lan rộng, dao động trước sức mạnh của Mỹ...


Cả nước đă xác định rơ ràng, dứt khoát: Miền
Nam là tuyền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn (trước đó chỉ mới ở mức miền Bắc là chỗ dựa, chi viện cho cách mạng Việt Nam).


Khi Hiệp định
Paris được kư kết, Bộ Chính trị đă có nghị quyết phổ biến tới Trung ương cục và các khu uỷ. Tuy nhiên, anh Ba vẫn băn khoăn, cảm thấy có ǵ chưa ổn nên đă đề nghị Bộ Chính trị triệu tập đại diện các quân khu, Trung ương cục, Bộ chỉ huy miền ra Hà Nội trực tiếp báo cáo t́nh h́nh.


Tôi nhớ khi đó Bộ Chính trị phân công từng đồng chí nghe riêng từng báo cáo, sau đó lại nghe chung. Riêng anh Ba nghe rất kỹ, không chỉ một lần. Cuối cùng, Bộ Chính trị chính thức họp và thống nhất cao với kết luận của anh Ba và sau đó đă điều chỉnh chủ trương sát hơn với thực tế chiến trường: Kiên quyết đánh trả sự lấn chiếm của địch. Nhờ đó, cục diện chiến trường thay đổi, ta giữ được thế chủ động, tiến công.

Có thể nói, sự chỉ đạo của anh Ba sau Hiệp định
Paris thêm một minh chứng nữa cho sự nhạy cảm tuyệt vời của anh và chỉ có thể là người từng lăn lộn ở chiến trường mới có được sự nhạy cảm đó.

(Lược trích từ "Tổng Bí thư Lê Duẩn- nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt
Nam, người học tṛ xuất sắc của Bác Hồ")

 

  

******

 

 

Cống Hiến Lớn Lao Của Đồng Chí Lê Duẩn Trong Chống Mỹ, Cứu Nước

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn thăm Tập đoàn Sản xuất

số 5, tỉnh Cửu Long (tháng 1.1981).

(LĐ) - Trong hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Duẩn đă có nhiều sáng tạo trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá..., song sự sáng tạo về chiến tranh nhân dân, nhất là trong công cuộc chống Mỹ, cứu nước là một cống hiến rất xuất sắc, nổi bật nhất.

 

Mỹ là siêu cường số một trên thế giới. Chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, Việt Nam vừa phải có ư chí kiên cường, vừa phải có tầm cao mới về trí tuệ. Đánh Mỹ là một thử thách lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa thể hiện ư chí kiên cường của dân tộc, vừa thể hiện tầm cao của trí tuệ Việt Nam, Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến vĩ đại. Thấm nhuần tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư duy chiến lược sáng tạo, đồng chí Lê Duẩn trên cương vị là quyền Tổng Bí thư, Bí thư thứ nhất của Đảng và từ khi Bác Hồ từ trần là người lănh đạo cao nhất của Đảng, đă có những cống hiến lớn lao trong phát triển lư luận chiến tranh nhân dân, chỉ đạo chiến lược, từ mở đầu chiến tranh, xử lư các t́nh huống khi Mỹ thay đổi chiến lược, tạo và nắm thời cơ giành thắng lợi quyết định, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Trong tất cả các sự kiện quan trọng trong chiến tranh, đều có những ư kiến đề xuất, phát hiện của đồng chí Lê Duẩn, được Bác Hồ và Bộ Chính trị đồng ư, hoàn chỉnh thêm.

 

Đồng chí Lê Duẩn phát triển lư luận về chiến tranh nhân dân:

 

Đồng chí Lê Duẩn xác định lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân ở nước ta gồm cả hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, phát triển trên cả ba vùng chiến lược: Nông thôn, rừng núi và thành thị, không phải nông thôn bao vây thành thị; phương pháp tiến hành chiến tranh là kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, thực hiện 3 mũi giáp công: Quân sự, chính trị và binh vận; thực hiện tư tưởng chiến lược tiến công. Chiến tranh nhân dân ở nước ta tạo ra sức mạnh tổng hợp cả chính trị và quân sự, cả thế trận và lực lượng đă phát triển đến đỉnh cao với những cách đánh rất sáng tạo.

 

Đồng chí Lê Duẩn phân tích sâu sắc những điểm yếu của Mỹ:

 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đă khẳng định Mỹ giàu nhưng không mạnh trong chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Từ căn cứ đó, đồng chí Lê Duẩn phân tích sâu sắc những điểm yếu  của Mỹ và quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Đồng chí Lê Duẩn khẳng định: Sức mạnh của Mỹ đưa vào Việt Nam là có giới hạn. Chúng ta không đánh giá thấp âm mưu và lực lượng của Mỹ, nhưng không choáng ngợp trước vũ khí kỹ thuật Mỹ. Chúng ta chẳng những không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ mà c̣n biết thắng Mỹ; phải thắng Mỹ từng bước mới tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Với sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, khi có thời cơ chiến lược, ta có thể tạo ra sức mạnh lớn hơn đối phương, giành thắng lợi quyết định. Phải đánh cho Mỹ cút, rồi đánh cho ngụy nhào, như Bác Hồ đă chỉ đạo.

 

Trong chỉ đạo chiến lược, đồng chí Lê Duẩn đặc biệt chú trọng: Tạo và nắm thời cơ đánh vào ư chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ:

 

Trong chiến tranh, chúng ta rất coi trọng đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu như: Bầu Bàng, Vạn Tường, Yađrăng... và trên miền Bắc trận 5.8.1969. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: T́m cách phân tán

quân Mỹ ra nhiều vùng để "vô hiệu hoá" quân Mỹ, tuy đông mà vẫn thiếu; ta đổi mới cách đánh, mở cuộc tiến công đồng loạt Tết Mậu Thân (1968) năm có bầu cử tổng thống Mỹ, t́nh h́nh nước Mỹ rất nhạy cảm, làm đảo lộn chiến lược của Mỹ, phơi bày thất bại về quân sự của Mỹ sau 3 năm tiến hành chiến tranh cục bộ, làm rung chuyển nước Mỹ, buộc Mỹ phải bắt đầu đàm phán và rút quân (từ 1969: Rút 6 vạn; 1970: 13 vạn; 1971: 8 vạn...).

 

Đồng chí Lê Duẩn xem xét cục diện chung trên thế giới đặc biệt là chiến lược các nước lớn, cảnh giác với âm mưu của Mỹ "móc ngoặc" với các nước lớn, cản trở Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng. Sau thắng lợi quyết định năm 1968, là mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và đánh thắng B52 ở Hà Nội và Hải Pḥng, buộc Mỹ phải kư Hiệp định Paris, đơn phương rút hết quân Mỹ.

 

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của ta năm 1975 từ chiến dịch Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng đến chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc táo bạo toàn thắng, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, đồng thời c̣n làm chưng hửng các thế lực vào hùa với Mỹ, làm nức ḷng nhân dân ta, nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Sự chỉ đạo chiến lược trong t́nh h́nh quốc tế phức tạp và đối phó sắc bén bộ máy chiến tranh lớn, bộ máy ngoại giao nhiều mưu kế của Mỹ là một biểu hiện nổi bật tầm cao trí tuệ của Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẩn là một nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt
Nam
.

 

Trung tướng, PGS Nguyễn Đ́nh Ước

Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Lao Động, số 74, ngày 2/4/07

NDVN. Ngày 22/4/07 

 

 

 

****** 

 

 

Kỷ niệm 50 năm "Đề cương Cách mạng miền Nam", nhớ đồng chí Lê Duẩn

 

Đồng chí Lê Duẩn báo cáo t́nh

h́nh cách mạng miền Nam với

Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1957

Mới đấy mà đă 20 năm anh Ba về với Bác Hồ, và chỉ sang năm, chúng ta sẽ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của anh, nhà yêu nước và người chiến sĩ cộng sản với trọn vẹn ư nghĩa cao đẹp của danh hiệu cao quư ấy.

Nhớ anh, nhân dân cả nước, và trước hết là bà con, cô bác ở miền Nam, nhớ người con vĩ đại của nhân dân, người đă hoàn thành xuất sắc sứ mệnh được Bác Hồ trao cho: giải phóng miền Nam, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nhớ anh Ba Duẩn, tôi nhớ tác giả của bản "Đề cương Cách mạng miền Nam" ra đời cách đây đúng 50 năm. Bản "Đề cương cách mạng" ấy được viết trong những năm cuộc đấu tranh quyết liệt của nhân dân miền Nam cho ḥa b́nh, thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève đă chịu tổn thất nghiêm trọng, được hoàn thành tại cơ quan của Xứ ủy Nam Bộ, giữa thành phố Sài G̣n lúc ấy là nơi đặt bộ chỉ huy tại chỗ của bộ máy chiến tranh xâm lược.

 

Năm mươi năm đă trôi qua, thời gian giúp làm sáng tỏ tầm vóc của sự kiện lịch sử ấy. Anh Ba Duẩn, sau khi cùng Trung ương Cục hoàn thành nhiệm vụ do Bác Hồ và Bộ Chính trị BCH T.Ư Đảng ủy nhiệm, giải thích cho Đảng bộ và nhân dân miền Nam hiểu rơ chủ trương của T.Ư, tổ chức chuyển quân tập kết, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài sau Hiệp nghị Genève, đă thiết tha xin Bác và Trung ương ở lại cùng với Đảng bộ và nhân dân miền Nam.

 

Đó là tâm nguyện của trái tim người yêu nước sâu sắc và người lănh đạo đập cùng nhịp với nhân dân ḿnh, chia sẻ nỗi đau và niềm uất hận với đồng chí, đồng bào ở chính nơi nước sôi lửa bỏng quyết liệt nhất. Đó là ư định của bộ óc sáng suốt và nhạy bén với thời cuộc, hiểáu thấu được tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh và cục diện chính trị nước nhà nằm trong cục diện chính trị quốc tế. Câu nhắn gửi nhờ thưa với Bác xin hẹn gặp lại Bác và các anh trong Bộ Chính trị chừng phải quăng hai mươi năm sau, đă nói lên tầm nh́n và ư chí cách mạng của một người đứng đầu Xứ ủy hiểu rơ trách nhiệm của ḿnh với dân, với Đảng. "Đề cương Cách mạng miền Nam" được viết nên bởi trái tim ấy, khối óc ấy, trong bối cảnh ấy. Chính v́ thế, mỗi ư tứ trong "Đề cương" cháy bỏng ngọn lửa cách mạng và ấm nóng hơi thở của nhân dân quần chúng trong cuộc chiến đấu một mất một c̣n trước âm mưu nham hiểm và sự đàn áp tàn khốc của kẻ thù.

 

1. Tôi luyện trong cuộc chiến đấu bẻ găy xiềng xích nô lệ

 

Tôi t́m hiểu và được biết đồng chí Lê Duẩn thuộc lớp cộng sản đầu tiên, hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, năm 1928 tham gia Hội Thanh niên cách mạng và năm 1930 trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Khi đang hoạt động với trách nhiệm một ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc kỳ, đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Hải Pḥng, bị kết án 20 năm tù cấm cố, qua các nhà tù Hà Nội, Sơn La rồi Côn Đảo. Người cộng sản kiên trung ấy đă biến nhà tù thành trường học theo đúng ư nghĩa của nó. Đồng chí vừa học những tác phẩm lư luận của C.Mác, của Lê-nin mà cơ sở của ta t́m cách chuyển vào, vừa là người truyền đạt tinh thần cơ bản của lư luận ấy cho các đồng chí của ḿnh. Sau này, tôi có dịp được nghe những đồng chí tù Côn Đảo trở về nói lại với sự khâm phục trí tuệ và bản lĩnh của Lê Duẩn qua những bài thuyết tŕnh về lư luận mà các đồng chí ấy được nghe. Năm 1936, trong bối cảnh mới, kẻ thù buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sĩ cách mạng, trong đó có Lê Duẩn.

 

Vừa ra khỏi nhà tù của thực dân, Lê Duẩn sáp vô ngay những hoạt động sôi nổi và quyết liệt của phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương. Với trách nhiệm là Bí thư Xứ ủy Trung kỳ, đồng chí góp phần quan trọng đưa tới cao trào đấu tranh trên cả nước. Năm 1939, đồng chí sát cánh cùng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chuẩn bị và tiến hành Hội nghị lần thứ VI của Trung ương, quyết định thành lập Mặt trận Phản đế, chuyển hướng cuộc đấu tranh sang một giai đoạn mới. Phong trào đang có những chuyển biến mạnh, th́ năm 1940 đồng chí lại bị địch bắt tại Sài G̣n, kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo. Lại 5 năm nữa đồng chí biến nơi tù đày thành nơi học tập, rèn luyện cho ḿnh và cho các đồng chí nhằm chuẩn bị cho những nhiệm vụ sau này. Đă có rất nhiều chuyện cảm động về những tấm gương kiên trung, bất khuất và tinh thần hy sinh cao cả của những người cộng sản, những người yêu nước, với những kỷ niệm thiêng liêng giữa họ và đồng chí Lê Duẩn. Trí tuệ và khí phách ấy sẽ có dịp phát huy trong những thử thách mới, trên những cương vị mới, khi thế lực thực dân phản động tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nhằm đặt lại ách thống trị, xóa bỏ những thành quả mà nhân dân ta vừa giành được bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

 

2. Sức tỏa sáng của ngọn đèn "hai trăm nến" trong cuộc Kháng chiến 9 năm

 

Lớp cán bộ thế hệ chúng tôi, những người được ghé vai cùng gánh vác sự nghiệp kháng chiến 9 năm ở Nam Bộ thường hay nói với nhau: Cụ Hồ quả có tầm mắt lănh tụ cực kỳ sáng suốt khi trao trọng trách cho anh Ba Duẩn thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo cuộc chiến đấu không cân sức giữa trùng vây của kẻ thù trên một chiến trường ở xa Trung ương. Đành rằng có Xứ ủy và rồi Trung ương Cục, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng, song người đứng mũi chịu sào, bộ óc của cuộc chiến đấu ấy, có ư nghĩa quyết định.

 

Anh Ba Duẩn quả đúng là người đă thấu hiểu được tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ, thực hiện một cách xuất sắc sứ mệnh được Bác Hồ và Trung ương ủy thác. Ở tầm nh́n của một người lănh đạo vượt cao hẳn lên, Anh Ba phân tích t́nh h́nh, tổ chức và chỉ đạo lực lượng cách mạng. Thời Kháng chiến 9 năm ở Nam Bộ, mọi người thường gọi anh là "ngọn đèn hai trăm nến". Nhưng anh Ba không chỉ tự ḿnh chiếu sáng, mà có nguồn phát quang vô tận là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, lắng nghe, học hỏi, phát huy trí tuệ và sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân.

 

Người có con mắt nh́n xa trông rộng với sức tỏa sáng kỳ diệu ấy là người có tấm ḷng nhân ái thiết tha với nhân dân. Anh Ba gần gũi thân thiết và chân thành với bà con, cô bác từng cưu mang đùm bọc, chở che cho cách mạng. Biết anh là người gánh vác trọng trách của Đảng, song các má ở các cơ sở mà anh thường qua lại vẫn thân thiết xưng hô như với con em trong nhà. Đây chính là động lực thôi thúc anh Ba sau này, khi xin với Bác với Trung ương được ở lại miền Nam, chung lưng, đấu cật với nhân dân trong cuộc chiến đấu mà anh biết rơ rằng sẽ vô cùng gian lao, quyết liệt và lâu dài.

 

Anh Ba Duẩn là người đă lănh đạo xóa bỏ tô tức, tạm cấp lại ruộng đất cho nông dân Nam Bộ một cách nhẹ nhàng, đầy sáng tạo, không gây xáo động mà tạo thêm phấn khởi cho mọi tầng lớp ở nông thôn, phát huy ḷng yêu nước của những người điền chủ sẵn sàng hiến điền và ủng hộ hoặc tham gia kháng chiến. Người điền chủ lớn ở Rạch Giá hiến toàn bộ gia sản rồi đi cùng kháng chiến là ông bà Huỳnh Thiện Lộc. Từ thời đó đến nhiều năm về sau, anh Ba vạch rơ rằng lực lượng chủ yếu, có ḷng yêu nước, có nguồn lực, có hiểu biết và kinh nghiệm để phát triển nông nghiệp và nông thôn chính là trung nông, mà anh cho là nhân vật trung tâm ở nông thôn.

 

Anh Ba Duẩn rất quan tâm và dành nhiều tâm trí chỉ đạo xây dựng lực lượng ở đô thị, có lúc dâng thành cao trào ở Sài G̣n và các thành thị Nam Bộ, đặt niềm tin rất cao, rất vững vào ḷng yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân thành thị, công nhân, thanh niên, sinh viên, học sinh, tiểu chủ, tiểu thương, chủ doanh nghiệp, cả một bộ phận công chức, quân nhân trong hàng ngũ đối phương.

 

Anh Ba Duẩn có sức hấp dẫn và chinh phục tuyệt vời đối với các nhà trí thức, các vị nhân sĩ, các vị đứng đầu các tôn giáo, các giáo phái. Anh Phạm Ngọc Thuần từng kể: "Tôi theo cách mạng hồi đó chỉ v́ t́nh cảm chứ không phải lư trí. Không phải là được giác ngộ mà là từ cái nhục mất nước, từ sức hút về, nhân cách và t́nh cảm chân thành của anh Ba Duẩn".

 

Không chỉ một trí thức Phạm Ngọc Thuần. Nhiều nhân sĩ trí thức khác cũng đến với cách mạng theo nhiều cách tương tự. Họ được thuyết phục bởi anh Ba Duẩn, bằng lẽ phải, bằng ḷng tin chân thành, thật sự kính trọng trí thức và thật ḷng trọng dụng đội ngũ những người tiêu biểu này. Anh Ba hiểu rơ vai tṛ và sức mạnh của họ trong khối đại đoàn kết dân tộc, nhân tố quyết định của kháng chiến.

 

Người lănh đạo phong trào đă cảm hóa và quy tụ được vào đội ngũ kháng chiến những tên tuổi tiêu biểu trong đội ngũ trí thức Sài G̣n và Nam Bộ, những người đứng đầu các giáo phái, đặt họ vào những trọng trách để họ thật sự được phát huy uy tín và khả năng, góp phần vào cuộc kháng chiến Nam Bộ. Chúng tôi thường bàn với nhau về cách anh Ba Duẩn bố trí cán bộ, sử dụng trí thức, nhân sĩ và tạo được mối quan hệ chân t́nh giữa họ với anh Ba và với tổ chức. Mối quan hệ thân thiết giữa anh Ba với cụ Cao Triều Phát, một đại điền chủ, một nhân sĩ tiết tháo được mời giữ chức Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Nam Bộ, cách ứng xử của anh Ba với tướng Nguyễn B́nh, người được Bác Hồ cử vào Nam đảm đương trọng trách về quân sự là những ví dụ tiêu biểu. Đấy là những bài học thấm thía đối với mỗi chúng tôi. (C̣n tiếp)

 

Nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt

Ngày 14/8/06

 

******

Kỷ niệm 50 năm "Đề cương Cách mạng miền Nam", nhớ đồng chí Lê Duẩn

 

4. Tiếp tục t́m ṭi và suy nghĩ về con đường xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn theo Di chúc của Bác Hồ

 

Đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí trong Trung ương Cục miền Nam tại chiến khuTân Biên (Tây Ninh) thời kỳ kháng chiếnchống Pháp. Từ trái sang: Lê Duẩn, Ung Văn Khiêm, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp - Ảnh tư liệu

Tôi nhớ măi h́nh ảnh đầy xúc động của anh Ba khi xuống thang máy bay tại Tân Sơn Nhất, anh Ba Duẩn dừng lại nói to với mọi người ra đón anh và Bác Tôn: "Chiến công này là chiến công chung của cả dân tộc, của các anh hùng, chiến sĩ và đồng bào cả nước đă hy sinh. Không của riêng ai".

Lời nói ấy chứa đựng tinh thần của toàn dân phấn đấu hy sinh v́ độc lập thống nhất, có âm vang của thiên anh hùng ca bằng ḷng nhân ái bao la. Đó là lời nói thấm trong hành động, từng ngày đêm trên rừng núi chiến khu, ngoài bưng biền kinh rạch, nơi làng xóm thôn ấp, trong phố phường thành thị, ở chính giữa ḷng dân.

 

Chặng đường tiếp theo, anh Ba tiếp tục những t́m ṭi, suy nghĩ, thử nghiệm từ hàng chục năm trước ngay trong thời chiến về con đường và cách làm của dân tộc Việt Nam ta để xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trăn trở để cải thiện đời sống của đồng bào vốn đă phải chịu đựng thiếu thốn, hy sinh quá lớn trong chiến tranh, bù đắp những hy sinh mất mát của mọi tầng lớp nhân dân ở cả hai miền Nam, Bắc. Đáp ứng và cải thiện đời sống của dân đối với anh Ba là yêu cầu cháy bỏng, làm sao sớm ra khỏi cái nghèo, anh luôn nhắc nhở phải lo từ miếng cơm manh áo cho mọi người, hộp sữa cho trẻ em, thuốc thang cho người già... Đất nước bao nhiêu năm mới ra khỏi cái nghèo, 15 năm hay 20 năm, và bằng cách nào theo kịp thiên hạ. Nhưng anh Ba lại không khuyến khích dập khuôn theo mô h́nh sẵn có nào. Ngay như hợp tác hóa ở miền Bắc, anh cũng nhắc không nên áp dụng ở miền Nam.

 

Chúng tôi là người trong cuộc, phải lo toan gánh vác công việc của những người giữ trọng trách ở một thành phố lớn với mấy triệu dân những năm đầu sau giải phóng, tôi hiểu rơ những cam go khó vượt qua một cách suôn sẻ, thậm chí có lúc tưởng như không thể vượt qua nổi. Trong bối cảnh đó, tôi hiểu được những t́m ṭi của anh Ba nhằm đưa đất nước thoát khỏi t́nh h́nh kinh tế và đời sống quá khó khăn sau ngót nửa thế kỷ chiến tranh. Trong nhiều lần nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại TP.HCM, anh Ba nêu rất nhiều gợi ư hết sức mạnh dạn. Những ư kiến chỉ đạo của anh thể hiện rơ anh đang trăn trở về con đường phát triển của đất nước. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, anh thường tự nhủ và nhắc chúng tôi: lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.

 

Anh không tán thành mô h́nh Xô viết. Qua t́m hiểu thực tế ở các nước anh em và suy ngẫm về lư luận, anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước "chuyên chính vô sản" khi mà nhân dân đă giành được quyền làm chủ đất nước bằng những hy sinh không sao kể xiết. Không thể "vô sản" lại chuyên chính với chính ḿnh, với nhân dân. Tư tưởng về "làm chủ tập thể" mà anh nung nấu chính là sự cố gắng t́m đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ư chí và nguyện vọng của nhân dân.

 

Đọc lại những bài viết của anh Ba Duẩn từ sau năm 1975, nhớ lại những quan điểm và ư tưởng mà rất nhiều lần anh nói đi, nói lại trong khi làm việc với cấp ủy Đảng, với các cán bộ những nơi anh tới thăm, tôi nhận thấy trong tư duy của anh đă và đang có phần h́nh thành một hệ thống suy nghĩ về đường lối xây dựng đất nước. Đó là đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, vận dụng các giá trị tốt đẹp của dân tộc và các thành quả tinh hoa của loài người. Có thể tóm tắt một số ư để minh chứng những suy nghĩ đó của anh:

 

- Dân chủ đến mức thực sự nhân dân làm chủ, con người làm chủ tập thể.

 

- Phát huy dân tộc và phát huy cá nhân từng người.

 

- Vận dụng thị trường để xây dựng chủ nghĩa xă hội. Cả giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa đều là mục đích của hoạt động kinh tế. Rất coi trọng giá cả, tài chính, tiền tệ, thương nghiệp.

 

- Quá tŕnh tạo dựng xă hội mới là quá tŕnh nảy sinh chứ không phải chỉ là quá độ. Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế. Bừng nở toàn thân nền kinh tế và xă hội ở mọi cấp độ. Có những ngành (như nông nghiệp, nhiều ngành, nghề tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp) đi lên CNXH theo một con đường mới, không qua quốc doanh, không tập thể hóa kiểu nông trang tập thể Liên Xô hoặc công xă nhân dân Trung Quốc, cũng không phải kiểu hợp tác xă nước ta như ở miền Bắc trước khi giải phóng miền Nam.

 

- Cách mạng khoa học kỹ thuật (nay ta nói là cách mạng khoa học và công nghệ) là then chốt, nhiều thành quả lớn là ở phương Tây, cần tranh thủ nắm và vận dụng những thành quả ấy.

 

- Kinh tế và thị trường toàn thế giới là một thực tế đang phát triển, phải sống với thực tế ấy, biết thích nghi, tranh thủ mọi thời cơ và nguồn lực. Chủ nghĩa tư bản hiện đại có những thành quả rất quan trọng. Phải t́m cách học nhanh những thành quả ấy.

 

- Văn hóa và tri thức của loài người giàu có, phong phú lên rất nhiều, rất nhanh, tạo ra những chuyển biến lớn, thấm sâu vào chính trị và kinh tế, vào đời sống xă hội. Phải vươn lên văn hóa và tri thức tiên tiến.

 

- Bảo vệ Tổ quốc, giữ vững quốc pḥng và an ninh bằng ḷng dân, sức dân, bằng dân làm chủ, bằng chiến tranh nhân dân, bằng chính sách đối ngoại vững vàng, mềm dẻo.

 

- Đảng lănh đạo, Đảng không cai trị, Đảng phát huy Nhà nước là công cụ chủ yếu, sắc bén nhất để dân làm chủ. Người Tổng bí thư suốt đời chỉ làm công tác Đảng lại luôn luôn tôn trọng và đ̣i hỏi phát huy Nhà nước.

 

- Đảng viên nhất thiết không được quan liêu, sách nhiễu và ăn cắp của dân. Đưa ngay những kẻ như vậy ra khỏi Đảng.

 

- Con người Việt Nam là con người của lẽ phải và t́nh thương, t́nh thương và lẽ phải.

 

Qua quá tŕnh dài làm việc dưới sự lănh đạo và được gần gũi anh Ba Duẩn, tôi chứng minh thêm về ḍng suy nghĩ gần như nhất quán trong tư duy của anh: Anh là người đứng đầu của Đảng, nhưng chủ trương cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh không phải là sự quan tâm nhiều của anh, và anh cũng không coi đó là một thứ động lực cho sự phát triển, là nhân tố đưa đất nước ra khỏi cái nghèo và lạc hậu. Thực tế lại ngày càng ngược lại, làm nỗi băn khoăn của anh càng nhiều hơn. Trong hoàn cảnh gần như bế tắc đó, anh là người khuyến khích những mô h́nh tháo gỡ, cởi trói trong công, nông nghiệp. Trước những bức xúc gay gắt ở TP.HCM phải lo từng bữa ăn cho dân mặc dù nằm bên cạnh vựa lúa, vựa cá và vựa rau (Đà Lạt), chúng tôi, một số đồng chí Trung ương ủy viên trong vùng, bàn nhau, anh em cử tôi ra Trung ương đề nghị cho khoán thử 3 năm, đóng góp đủ theo những chỉ tiêu gộp lại của cả vùng từng năm cho Trung ương. Tôi gặp, tŕnh bày với anh Ba. Anh tán thành và bảo nên tŕnh bày với số anh lănh đạo khác, kết quả không được đồng ư. Sau đó, Thành ủy giao tôi tranh thủ báo cáo xin cho thành phố và các tỉnh đồng bằng Nam Bộ khoán riêng về lương thực, anh Ba tán thành nhưng số anh lănh đạo khác cũng không đồng ư.

 

Khi tôi ra Trung ương phụ trách kế hoạch, tuổi tác anh Ba đă cao, sức khỏe anh đă sút nhiều. Người lănh đạo kiệt xuất với tư duy khám phá và sáng tạo, với ḷng tin mănh liệt đất nước phải sánh vai với thiên hạ, không chịu theo khuôn mẫu sẵn của bất cứ thứ giáo điều nào, vậy mà đành chấp nhận không thành công trong xây dựng đất nước.

 

Lúc đó, một yêu cầu hết sức tối thiểu được đặt ra là nhân dân thủ đô Hà Nội "phải có dự trữ gạo đủ 2 tháng ăn". Đó như một mệnh lệnh thiết tha cho Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Đó là nỗi đau c̣n lại ở tôi đối với anh Ba, trước khi anh ra đi, tôi vẫn chưa lo nổi 2 tháng dự trữ gạo cho thủ đô Hà Nội. Đó là sự bất lực một cách vô lư, hậu quả của một cơ chế giáo điều - tự ḿnh "ngăn sông cấm chợ". Đến khi đất nước bắt đầu đổi mới, chỉ một cái lệnh xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, lưu thông tự do th́ tức thời Hà Nội không cần dự trữ 2 tháng ăn, từ đó đến nay, không lúc nào lương thực thiếu cho Hà Nội.

 

Với bằng ấy sự việc tóm tắt nêu trên, tôi xin được khẳng định đồng chí Lê Duẩn không phải là nhà lănh đạo bảo thủ, giáo điều, qua thực tiễn xuyên suốt đủ chứng tỏ anh là người luôn t́m ṭi sáng tạo và tư duy luôn đổi mới. Nhưng với vị trí Tổng bí thư của ḿnh, anh cũng không đột phá nổi độ dày của bảo thủ, giáo điều, đường ṃn, xơ cứng như ư kiến của anh Việt Phương trong bài Thủ tướng giữ bản thảo cho nhà triết học trên Báo Tuổi Trẻ Chủ nhật ra ngày 4/6/2006, đó là chưa kể lại thêm mấy cái mũ "xét lại" trong "phe" như Nam Tư, Khơrusốp...

 

Ngay như TP.HCM có lúc chỉ tháo gỡ, cởi trói chưa là cái ǵ, mà đă có luồng dư luận "bước xuống Tân Sơn Nhất là bay mùi Nam Tư". Măi đến sau này, gần chục năm đổi mới, hệ thống XHCN, Liên Xô, Đông Âu đă tan ră, vẫn c̣n cái bóng đen vô h́nh và một "thế lực" cùng số "ăn theo" luôn đe dọa nhịp độ đổi mới...

 

Nhớ anh Ba, cảm thông sâu sắc với người lănh đạo kiệt xuất đáng được tôn kính, người học tṛ tuyệt đối trung thành và xuất sắc nhất của Bác Hồ kính yêu, chúng ta cần đánh giá đúng về anh. Nhưng cũng không thể xem nhẹ trách nhiệm của anh về những sai lầm sau 10 năm đất nước thống nhất. Đó là những bài học rất đau của Đảng, đă kéo dài thêm cái nghèo của đất nước. Chắc chắn rằng ở nơi chín suối anh Ba c̣n đau gấp bội, bởi lúc ấy anh là người đứng đầu, càng đau hơn bởi đó không phải là tư duy của anh. Để làm rơ những vấn đề có ư nghĩa lớn ấy trong lịch sử (kể cả một số vấn đề trong Đại hội lần thứ IV của Đảng), nhằm đúc kết bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những công tŕnh nghiên cứu khoa học nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.

 

Năm tháng đă trôi qua, khi viết những ḍng này, ḷng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một con người măi măi chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi, những h́nh ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là h́nh ảnh của đồng chí Lê Duẩn, anh Ba Duẩn kính mến.

 

Nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt

Ngày 14/8/06

 

******

 

ANH BA: TRĂN TRỞ VÀ T̀M TÔI

 

Trần Bạch Đăng

 

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn nói chuyện thân mật với

các đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IV của Đảng (1976).

Trong toàn bộ sáng tác của anh Ba Lê Duẩn, tôi lưu ư một điểm, ấy là anh t́m lối đi sao cho phù hợp nhất con đường phát triển cách mạng - ở đây, tôi chỉ nói trong phạm vi Nam Bộ.

 

Phương pháp cách mạng đă trở thành chủ đề mà anh dành nhiều công sức, bởi anh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, tích tụ tư duy lư luận Mác-xít từ thuở thiếu thời, nhưng những nguyên lư chung cần đưa lên thành những biện pháp đủ sức thuyết phục hiện thực, nhất là đủ sức mang lại thành quả cho cuộc đấu tranh đầy ẩn số, trong điều kiện một đất nước c̣n nghèo, dân trí thấp, nằm trong sự thao túng của kẻ thù đế quốc già dặn kinh nghiệm, quyền lực mạnh, bộ máy có hệ thống, thừa hưởng khoa học kỹ thuật lâu đời từ chính quốc lẫn đồng minh.

 

Anh thuật tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có chuyện tại hội nghị đại biểu Trung kỳ, anh phải tính toán phương thức nào để có thể thu được một phần ưu thắng, dù nhỏ, nhưng tạo được hạt nhân tác động đến toàn cục.

 

Anh Ba Lê Duẩn xem phương pháp cách mạng như sự phản hồi của quan điểm và, dù có quan điểm chín chắn, anh vẫn thấy tự nó không thể mở đột phá. Trong cuộc hành quân vạn dặm, mục tiêu th́ rơ ràng, nhưng đường đi đến mục tiêu lại là chuyện trăm ngàn lần khó khăn. Nói tới đây, tôi nhớ anh trầm ngâm về suy tư của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1924: chủ nghĩa Mác là chân lư, nhưng chủ nghĩa Mác không phải là sản phẩm hoàn thiện, đầy đủ của một cuộc cách mạng mang tính toàn cầu, bởi như Nguyễn Ái Quốc nói: Thế giới c̣n cả một phương Đông nữa.

 

Điều tôi tâm đắc trong quá tŕnh học tập anh: Anh gần như có một ưu tư thật lớn là ứng dụng cho được lư tưởng của nhân loại, của lịch sử thế giới vào hoàn cảnh cụ thể của một quốc gia. Cho nên nói Lê Duẩn là nhà nghiên cứu phương pháp cách mạng, nói như thế chắc không xa sự thật bao nhiêu. Đọc các tác phẩm của anh, chúng ta thấy anh dành cho phương pháp cách mạng một vị thế thậm chí như chiếc ch́a khóa mở cánh cửa để cách mạng thành ḍng chảy thông thoáng. Tôi nghiệm ra một điều: Anh Lê Duẩn giống như nước với lửa với chủ nghĩa giáo điều phương Đông hay phương Tây. Có lần anh bảo tôi: Nếu đó là sáng tạo th́ sao? Đóng khung trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ và sau này, chống Mỹ, anh lao tâm khổ trí để t́m lối đi và thành quả đạt được chính từ chỗ anh vượt lên chủ nghĩa giáo điều. Một nhà hoạt động cách mạng bảo tôi: Lê Duẩn “bẻ sách”. Xin hiểu “bẻ sách” là t́m cái mâu thuẫn giữa những tư duy đôi khi hóa thân thành một thể thống nhất trong tư biện và xử lư.

 

Có lần, Ủy ban Kháng chiến hành chánh Nam Bộ họp và xem như một sáng tạo khi có bộ phận đề xuất chủ trương in bạc giả để giải quyết khó khăn tài chính cho kháng chiến. Phương tiện in ấn cho phép chúng ta ra hàng triệu đồng bạc Đông Dương và dĩ nhiên nó sẽ giúp cho mặt vật chất của kháng chiến nhiều phần, nhẹ đi khó khăn. Tại cuộc họp ấy, tôi có mặt. Anh đặt một câu hỏi khiến những nhà nghiên cứu kinh tế kháng chiến “chưng hửng”: Ai sẽ là nạn nhân của nạn bạc giả này? Đương nhiên hàng triệu quần chúng Nam Bộ, và anh nhấn mạnh: Đó là một loại “tội” khác! Chủ trương in bạc giả bị hủy bỏ. Thế nhưng, bằng một thứ quy luật khác - quy luật giải phóng sức sản xuất cho nông dân, thi hành chính sách kinh tế đúng quy luật, “đồng bạc Cụ Hồ” ở Nam Bộ không tụt giá quá đáng đối với đồng bạc Đông Dương, và chúng tôi là những người được hưởng thành quả ấy.

 

Càng về sau, nhất là khi khả năng đánh Mỹ đă không c̣n có thể tránh được, anh Lê Duẩn vẫn kiên tŕ phương pháp cách mạng. Trong một bức thư gửi Thành ủy Sài G̣n, tôi nhớ anh nhấn mạnh: Giành một đồng xu cho công nhân trong chống địch, tự nó đă là một yếu tố cách mạng. Do đó, trong đầu anh h́nh thành một phương thức tác chiến mà có lẽ anh là người sáng tạo. Những thứ về sau này nổi lên thành phương thức chiến lược, tôi nghĩ cuộc sống già dặn đă dẫn dắt anh để có được: ba vùng chiến lược, hai chân ba mũi, đâu cũng là chiến trường và đô thị nổi lên như một mặt trận tương ứng với mặt trận nông thôn.

 

Tôi nhớ một lần anh phê b́nh tôi khá nặng lời khi tôi cho tái bản tập sách mỏng của đồng chí Vơ Ngươn Liêm, người Bến Tre, nói về cán bộ. Đồng chí Liêm cho rằng đă là cán bộ th́ phải thoát ly. Anh Duẩn hỏi tôi: Nếu cán bộ thoát ly th́ có c̣n là cán bộ không? Quần chúng đâu? Dựa vào ai?

 

Trong bức thư dài gửi cho Khu ủy Sài G̣n và cá nhân tôi, trước sau anh vẫn nhấn mạnh phương pháp cách mạng, theo anh, muốn thắng được địch th́ phải có cách đánh thắng nó và cách đó chính là t́m xem nó là ai, nó muốn ǵ, nó mạnh yếu chỗ nào và ta khai thác được cái ǵ. Anh nh́n rộng, thoáng, luôn đặt phương thức xử lư theo đúng t́nh huống của cách mạng, chứ không theo nguyên tắc cứng nhắc.

 

Có lần anh vặn tôi: Không đồng t́nh với tôi, tại sao anh không căi? Trời đất ! Căi với Lê Duẩn đâu có dễ. Không dễ v́ anh không giáo điều và thực tế th́ thiên biến vạn hóa.

 

Với lớp trẻ đọc bài báo này, tôi muốn nhấn mạnh rằng Lê Duẩn là con người của suy tư, của đặt bề trái, bề phải cuộc sống mà xem xét và luôn nghĩ đến cái hiệu quả trong quá tŕnh phát triển cách mạng - chủ yếu tôi nói thời chiến tranh. Tôi muốn nhắc một chuyện khá độc đáo: Trong buổi tŕnh bày văn nghệ ở giữa Đồng Tháp Mười, một diễn giả gần như lặp lại “tọa đàm Diên An” và ai cũng nơm nớp. Anh Duẩn nói sau cùng - giọng Quảng Trị rất khó nghe: Những điều tôi sắp nói, có thể làm cho diễn giả không vui, nhưng tôi không thể nói khác. Ta tọa đàm văn nghệ giữa Đồng Tháp Mười Nam Bộ, ta có nguyên lư của ta. Đâu phải những kết luận có vẻ từ cuộc điều tra xă hội học ở Hồ Nam (Trung Quốc) cô đặc thành nguyên tắc Mác-xít; diễn giả khen những bản nhạc mang âm hưởng nước ngoài, nhưng đó đâu phải là âm hưởng phản ảnh tâm hồn của người Việt Nam chúng ta.

 

Tôi chưa dám xem đó như là bài học lớn nhất của cuộc đời tôi, nhưng ít ra anh Lê Duẩn cũng mở cho tôi một cái nh́n mà sau này càng lớn, tôi càng biết ơn anh...

 

 

Trần Bạch Đằng, TuoitreOnline, ngày 3/4/07

NDVN, nngày 22/4/07

 

******

 

NGƯỜI GIẢI MĂ HAI CHỮ HẠNH PHÚC

Lê Kiên Thành

 

Tổng bí thư Lê Duẩn với GS. Lâm Ngọc Thiềm

(LĐ) - Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, phóng viên Báo Lao Động đă có cuộc trao đổi với TS Lê Kiên Thành - con trai của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn về cuộc đời làm cách mạng, ḷng yêu nước và những nỗi suy tư của ông về hạnh phúc của con người.

 

Ông Lê Kiên Thành cho biết: Trước hết, tôi coi bố ḿnh như một nhân vật lịch sử. Ông làm Tổng Bí thư 26 năm, lănh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Với tư cách là người con, tôi cũng chưa hiểu cha tôi một cách trọn vẹn, tôi nghĩ ngay cả các đồng chí của ông cũng thế. Nói về ông thật khó, càng khó hơn khi gói lại vẻn vẹn trong một bài báo. Cho nên tôi chỉ xin được trao đổi những cảm nhận của tôi về một khía cạnh thôi, đó là quan niệm của ông về hạnh phúc.

 

Cha tôi là người đắm say với những suy nghĩ về đất nước. Tôi c̣n giữ lại một cuốn sổ làm việc của ông, trong đó ghi chép nhiều thứ, nhiều kư hiệu mà chỉ một ḿnh ông hiểu. Có một trang ông ghi hai chữ "Hạnh phúc" thật lớn kèm theo một dấu hỏi. Tôi biết cha tôi đang loay hoay với hai chữ này. Ông đang tự hỏi ḿnh muốn đem hạnh phúc đến cho con người, vậy th́ hạnh phúc là ǵ?

 

Ông từng tâm sự rằng, khi bị địch bắt, bị đánh đập, bị giam cầm trong lao tù nhưng ḷng ngập tràn hạnh phúc. Nhưng khi làm Tổng Bí thư, ngồi trên xe hơi nh́n thấy một người kéo xe ḅ đi bên đường ḷng rất đau khổ. Ông đưa ra quan niệm sống làm sao để có được hạnh phúc thật sự.

 

Đă là hạnh phúc th́ phải thực, không thể có sự giả dối. Hạnh phúc cũng phải được tiếp cận nhiều cách. Cách mà cố Tổng Bí thư dạy dỗ cho con cái t́m kiếm hạnh phúc chắc chắn sẽ rất sâu sắc?

 

- Đó là lao động, t́nh thương và lẽ phải. Mối quan hệ giữa lao động và sự h́nh thành của con người là một luận đề triết học căn bản của học thuyết Mác - Lênin được ông kiến giải một phần, đơn giản và giàu tính nhân văn. Một con người làm việc và làm việc tốt mới có được niềm vui. Cha tôi là một người làm việc say mê, làm việc không ngừng nghỉ. Ông là tấm gương mẫu mực về lao động và sáng tạo. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, đó là phải có t́nh thương yêu.

 

Ông cắt nghĩa ngọn ngành về t́nh thương và đưa ra một triết lư rằng, t́nh cảm đẻ ra tri thức. Khi anh yêu nước hết ḷng, yêu tha thiết th́ anh sẽ nghĩ ra được những cái mới để phục vụ đất nước, những điều mà người b́nh thường không thể nghĩ ra. Một đồng chí của cha tôi kể lại, sau khi kư hiệp định Genève, lúc rất nhiều người vui th́ ông lại rất buồn, trên chuyến tàu từ Bắc vào Nam, cha tôi khóc vật vă. Sau này tôi mới hiểu, là một người hết ḷng với đất nước, ông dự cảm được rằng sẽ phải mất nhiều máu xương mới thống nhất được. Ḷng sáng trong sẽ nhận biết được chính xác mọi thứ chính là ở chỗ đó.

 

Cố Tổng Bí thư luận về quy luật của t́nh cảm và có dẫn chứng khi bàn về quy luật ấy?

 

- Cha tôi kể trong thời kỳ hoạt động ở miền Nam, có lần một người ở cơ sở bị địch bắt, tra tấn dă man nên phản bội. Pháp bắt nhiều đồng chí cán bộ cách mạng để cho người này nhận mặt. Ông ta chỉ từng người, nói rơ họ tên chức vụ, nhưng đến ông Lê Duẩn th́ ông ta lắc đầu. Tất cả mọi người bị chỉ điểm đều bị xử tử h́nh.

 

Sau này cha tôi suy nghĩ măi điều ǵ ngăn kẻ phản bội ấy nhận mặt ông để lập công với Pháp. Rồi cha tôi tự giải thích rằng trong thời gian ở nhà của người này để hoạt động, cha tôi đă dạy cho con ông ấy học, yêu thương con cái ông ấy hết ḷng như một người cha. Có lẽ v́ t́nh yêu thương chân thành ấy của cha tôi đă thức tỉnh lương tâm của người phản bội vào giây phút quyết định sinh tử ấy.

 

C̣n hai chữ "lẽ phải", cố Tổng Bí thư đă luận giải như thế nào, thưa ông?

 

- Có một lần đoàn làm phim đến chiếu cho cha tôi xem phim về Lư Tự Trọng. Xem xong ông đứng dậy đi ra ngoài. Sau khi đoàn làm phim đề nghị nhiều lần, ông đă góp ư: "Tôi nói thật, tôi thấy các đồng chí nghĩ khác tôi quá. Các đồng chí cứ nghĩ người ta đi làm cách mạng là v́ nghèo khổ. Tại sao không hiểu rằng nhiều người đi làm cách mạng là v́ lẽ phải. Hàng vạn chiến sĩ đang vượt Trường Sơn vào Nam chiến đấu là v́ lẽ phải"

Cha tôi luôn t́m ṭi, sáng tạo trong lư luận, ông không xơ cứng. Ông là người thuyết phục được nhiều trí thức ở miền Nam, nhiều người tài đi theo cách mạng là bằng lẽ phải. Ông không to tát dùng khái niệm lư tưởng một cách dễ dăi, ông dùng hai chữ lẽ phải để áp dụng trong từng cái nhỏ nhất, sự ứng xử trong các mối quan hệ từ gia đ́nh, ra xă hội và rộng hơn là đất nước.

 

Ngoài câu chuyện về hạnh phúc để mọi người cùng suy nghĩ và tiếp cận, ông có thể nói điều ǵ có dấu ấn sâu sắc của riêng ḿnh với tư cách là con trai của cố Tổng Bí thư?

 

- Tên tôi là một lời nguyền. Lời nguyền đó được chứng nghiệm sau 20 năm. Năm 1955, trong chuyến tàu cuối cùng đưa cán bộ cách mạng ra Bắc, cha tôi có mặt trên tàu để nghi binh, nhưng sau đó ông ở lại miền Nam. Mẹ tôi đang mang thai tôi nhưng không thể ở lại, bởi v́ nếu có mẹ tôi th́ địch sẽ biết ba tôi đang ở miền Nam. Chia tay nhau, cha tôi nói với ông Lê Đức Thọ rằng: "Anh nói với Bác Hồ 20 năm nữa tôi mới có thể gặp được Bác".

 

Với mẹ tôi và các đồng chí, cha tôi cũng nhắn gửi rằng phải mất hai mươi năm chiến đấu mới thống nhất được đất nước. Ra Bắc, mẹ tôi sinh tôi vào lúc 11h trưa ngày 17.4.1955, đặt tên Lê Kiên Thành, theo khẩu hiệu "Kiên quyết hoàn thành cách mạng miền Nam". Đúng hai mươi năm sau, 11h30 trưa ngày 30.4.1975 th́ giải phóng Sài G̣n.

 

Cố Tổng Bí thư từng đưa ra những khái niệm như "làm chủ tập thể", mô h́nh "kinh tế cấp huyện", ông đánh giá thế nào khi hiện nay người ta không c̣n bàn đến các khái niệm và mô h́nh đó nữa?

- Những quan điểm trên và rất nhiều ư kiến, quan điểm khác của cha tôi không được tiếp tục bàn đến nữa. Rất may mắn là v́ lư do nào đó, người ta đă trả lại đúng cho tác giả là cha tôi. Những quan điểm của ông hàm chứa nhiều giá trị khoa học về quản lư kinh tế nhưng chưa được đánh giá hết. Sau này chắc chắn sẽ có những nghiên cứu và đánh giá khoa học về những lư luận này và sẽ khẳng định đó là sáng tạo của cá nhân ông.

 

Tôi xin nói thật, riêng về những lư luận của cha tôi, với góc độ cá nhân và gia đ́nh, tôi rất tự hào v́ đó là những suy nghĩ rất lớn. Nhưng với tư cách công dân th́ tôi rất đau khổ, v́ những sáng tạo trong lư luận của cha tôi không được tiếp tục vận dụng để đưa vào thực tiễn.

 

- Xin cảm ơn ông.

Lê Thanh Phong thực hiện, LĐ, số 70, ngày 28/3/07

NDVN, ngày 22/4/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend