NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Kỷ Niệm 30/4/75: "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”….

 

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Thị trường chứng khoán lại sụt giảm trước viễn cảnh u ám của kinh tế Hoa Kỳ

 

 

 

Hai ngày sau cuộc họp thượng đỉnh G20 ở Washington, các thị trường chứng khoán thế giới lại sụt giảm, nhất là sau khi ngân hàng Mỹ Citigroup loan báo sẽ cắt giảm 50 ngàn việc làm trong những tháng tới

 

    Thông tin này đă khiến thị trường Wall Street hôm qua sụt mất 2,63% điểm. Tại châu Âu, các thị trường tiếp tục xu hướng sụt giảm . Tính đến trưa hôm nay, Paris bị mất 1,57% điểm, Luân Đôn 1,50% và Francfort 1,39%.

 

    Tại châu Á, sau khi Nhật Bản hôm qua xác nhận là kinh tế đă đi vào suy thoái, thị trường Tokyo hôm nay sụt 2,28% vào giờ đóng cửa. Hồng Kông cũng bị mắt 4,54% điểm.

 

    Theo một nhà phân tích tài chính ở Nhật Bản, mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu đang đè nặng lên các thị trường. Trong cuộc họp thượng đỉnh tại Washington vừa qua, các nước công nghiệp phát triển và các nước đang trổi dậy đă cam kết sẽ phối hợp các chính sách chấn hưng kinh tế và giám sát tốt hơn nền tài chính toàn cầu. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh này lại không đề ra những kế hoạch cụ thể nào, cũng như không lập ra một cơ chế để kiểm soát hoạt động của các thị trường

 

Thanh Phương, RFI, ngày 18/11/08

 

 

  

Kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc càng thêm u ám

 

T́nh h́nh kinh tế ngày càng trở nên tồi tệ tại châu Á. Thị trường chứng khoán Tokyo lại tụt giảm. Hai lĩnh vực ngân hàng và xe hơi của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn. C̣n tại Hàn Quốc, chưa bao giờ số doanh nghiệp bị phá sản lại đạt mức cao như vậy từ 3 năm qua

 

Hôm nay thị trường chứng khoán Tokyo đă đóng cửa với chỉ số Nikkei bị mất đi gần 60 điểm, nghĩa là tụt giảm 0,66%. Các nhà đầu tư tỏ ra dè dặt trước những khó khăn tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế thế giới, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng và công nghiệp xe hơi.

 

Như vậy là ngân hàng số một của Nhật Bản, Mitsubishi UFJ Financial Group, đă công bố những kết quả trong sáu tháng đầu năm nay c̣n tệ hại hơn là dự trù, mặc dù ngân hàng này đă quyết định tăng số vốn là 990 tỷ yen (tức 8 tỷ eurô). C̣n tập đoàn tài chính số 3 của Nhật, Sumitomo Mitsui financial Group, th́ tụt giảm gần 8% cho dù tập đoàn này cũng có ư định tăng nguồn vốn. Do vậy mà các nhà đầu tư càng tỏ ra bi quan cho cả lĩnh vực ngân hàng.

 

Về phần công nghiệp xe hơi, Toyota, tập đoàn xe hơi số một tại Nhật Bản, thông báo hôm nay là tất cả các nhà máy đặt tại Hoa Kỳ sẽ ngưng sản xuất xe hơi trong hai ngày 22 và 23 tháng 12. Lư do là v́ mức cầu đă sụt giảm trên thị trường Hoa Kỳ. Đầu tháng này Toyota đă cho biết là tính đến tháng mười số xe bán ra tại Mỹ đă giảm đi gần 26% trong một năm.

 

C̣n mức lời của công ty Nissan sẽ là con số không trong quư hai của năm nay v́ mức cầu giảm và v́ đồng yen c̣n quá mạnh. Ông Carlos Ghosn, chủ tịch tổng giám đốc tập đoàn Renault và Nissan, đă tuyên bố với nhật báo Mỹ Wall Street Journal rằng năm 2009 sẽ là một trong những năm khó khăn nhất của tập đoàn này.

 

Trong lúc đó, tại Hàn Quốc, có 321 doanh nghiệp bị phá sản trong tháng mười, con số cao nhất từ tháng ba năm 2005. Trong tháng trước đă có 203 công ty bị phá sản tại Hàn Quốc.

 

Thanh Thủy, RFI, 19/11/08

 

 

 

 

 

 

 

EvacuationBetrayed & AbandonedBetrayed & Abandoned 
 

Trang nhà www.nhandanvietnam.org, sưu tập trên mạng www.google.com một số h́nh ảnh tháo chạy tán loạn đám tàn quân Việt gian Cần Lao Công Giáo Ngụy quân-Ngụy quyền thiện chiến hào hùng, là vất bỏ quân phục, súng đạn, tranh cướp và hiếp dân tranh lên phi cơ, ghe thuyền và tàu chiến …. đă được Giáo sư F. Murray, trường báo chí Annenberg đại học USC đă xúc phạm đến quân lực VNCH, bằng một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times nói rằng quân lực này nổi tiếng "hiếp dâm và ăn cướp... " ( Nhật báo Viễn Đông, thứ Năm, tháng 10 năm 2002 (click đọc: NHỮNG H̀NH ẢNH "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" NGỤY QUÂN - NGỤY QUYỀN VNCH )

 

Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn (Toàn Tập)

 

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IA)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IB)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIA)  

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIB)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III A)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III B)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIIC)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIID, Phần Kết)

Chúng tôi, đưa một số h́nh vào cuốn sách “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” , để minh chứng, xúc tích và giá trị lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ chiến bại tại Việt Nam, trên khắp các mặt trận Quân sự - Ngoại giao - Chính trị - T́nh báo và…nhất là T́nh báo đă được ví von:

 

- “Ư CIA là ư trời, là ư của Thượng đế!”… Vậy mà CIA đă qua một tấn thảm kịch… bện cái bộ mặt “tưng hửng”, “ăn hại”, “vô tích sự”, bất lực của CIA. Bọn CIA qua những tấn thảm kịch ấy không c̣n ngang nhiên ưỡn ngực được nữa. Chúng đă buộc phải cúi đầu, nhiều khi không c̣n dám tự nhận là nhân viên CIA…. Kissinger từng tái mặt, đạp bàn, cay cú chửi bới bọn CIA ở Nam Việt Nam hồi 1972 rằng: “Việt Cộng có bỏ túi xe tăng để đưa vào tận chiến trường Lộc Ninh đâu, sao chúng bay tự nhận có tai mắt ở khắp nơi mà không hề thấy và báo trước?” (tr.3)

 

- Trong khi đó, t́nh báo Việt Nam đánh bại t́nh báo Mỹ, được ông Trần Ngọc Hiền trả lời rất đơn giản: “T́nh báo Việt Nam là t́nh báo Nhân dân, nghĩa là toàn dân làm t́nh báo đánh đuổi đế quốc Mỹ thay Pháp đô hộ đất nước chúng tôi…kể cả cán bộ trong chế độ bù nh́n tay sai Ngụy quân-Ngụy quyền Saig̣n từ tổng thống phủ cho đến xă thôn cũng tham gia t́nh báo nhân dân…. Trong khi, CIA và t́nh báo Ngụy Sàigon không có ngân sách, rượu bia, gái…hưởng thụ th́ tất yếu thua t́nh báo nhân dân mà thôi..” ( Báo Xuân Lao Động 1990). (click đọc: TẠI SAO THÀNH TÍN-BẤT TÍN-BÙI TÍN KHÔNG ĐƯỢC MỸ TRỌNG DỤNG ), và….. Họ là người dân Việt Nam, lớn lên trong dân, sống nhờ vào dân, chiến đấu trong ḷng dân, và được biết bao người dân xung quanh bảo bọc, chở che. Họ giản dị như trong chính lời tâm sự của Ba Minh “Sức khoẻ ḿnh như thế nên khả năng tôi đóng góp được cái ǵ tôi sẽ làm. Tôi đă nghĩ đến giả thiết khi ḿnh là lính VNCH thế này, nếu có bị bắn lầm th́ thôi. C̣n đối với cách mạng, tôi chỉ nghĩ tôi góp sức để mà ít có thể đánh được nhiều, yếu có thể đánh được mạnh. Trong thâm tâm tôi nghĩ ḿnh góp được cái ǵ th́ góp, chết th́ bỏ. Đơn giản vậy thôi"….T́nh báo Việt Nam được h́nh thành và phát triển từ những con người như vậy. Chỉ có thế, họ mới vượt qua được mọi cám dỗ đời thường, những vinh hoa, phú quư, những nguy hiểm thường nhật để có thể chấp nhận hy sinh cả 1 đại gia đ́nh v́ mục tiêu độc lập cho Tổ quốc.(Click đọc:Truyện Kư Những Anh Hùng LLVT Đoàn 22 T́nh Báo Miền Nam A3 - H3...  )

 

Qua cuốn sách “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” của Krank Snepp, cho chúng ta minh xác Việt gian Cần lao Công giáo Diệm Thiệu…và Tướng tá Ngụy quân - Ngụy quyền chỉ là bọn bù nh́n, tay sai, Việt gian, phản quốc và “lính đánh thuê” mà thôi: 

 

* Tổng thống Ngụy VNCH, "anh minh lê gót nơi xứ người" Tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm, đă được, Tổng Thống Kennedy nhận thấy rằng: “Năm 1963, chính quyền Kennedy đă nhận thấy Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm là công cụ của Cộng sản và đă quyết định ‘Diệm phải ra đi’. Cơ quan CIA đă thực hiện cuộc ám sát kết quả đưa đến cái chết của ông ta vào tháng 11/1963". "1963: The Kennedy Administration begins to see South Vietnamese President Ngô Đ́nh Diệm as a communist tool and decides that "Diệm must go’. The CIA engineers coup attempts that eventually lead to his assassination in November" (Tuần báo Newsweek, trong số ra ngày 24.12.2001). Và Phó Tổng Thống Johnson trả lời: một phóng viên: “ Ngô Đ́nh Diệm có phải là Churchill Á Châu không ?” như sau: “Shit! Diem ‘s the only boy we‘ve got out there‘’ “Cứt! Diệm là thằng bé duy nhất chúng ta có ở đây’’ Stabley Karnow, VN: A History, trg 214 and The Pentagon Papers "Diệm is A Shit". C̣n Ngụy quân QLVNCH anh hùng đă được F. Murray, giáo sư báo chí tại trường đại học USC đă xúc phạm đến quân lực VNCH của chúng ta bằng một bài báo được đăng tải trên tờ Los Angeles Times nói rằng quân lực này nổi tiếng "hiếp dâm và ăn cướp... " 

 

* Quốc Trưởng Ngụy Đại Tướng Hồ Quảng Râu Dê Nguyễn Khánh đă oán than: "Chính thằng Đại tướng Maxwell Taylor đă đuổi tôi ra khỏi nước"và khi ra khỏi nước tôi có đem theo nắm đất quê hương, nhưng nay không c̣n nữa v́ tôi vô t́nh đă làm rơi trên băi cỏ. 

   

* Thủ tướng Ngụy Nguyễn Cao Kỳ nói rằng: "ông" Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất” V́ vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹchúng tôi là những kẻ đánh thuê.

 

* Tổng Thống Ngụy Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: "Mỹ c̣n Viện Trợ, th́ chúng ta c̣n Chống Cộng"

   

* Đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Ngụy Cao Văn Viên, ngán ngẩm buột miệng sổ toẹt tính chất "tầm gửi" của quân đội Ngụy VNCH...."Chúng ta không có trách nhiệm chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu là của người Mỹ. Chính sách đó do Mỹ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi."

 

* Ngô Đ́nh Cẩn trong buổi lễ tuyên thệ gia nhập đảng Cần Lao Công Giáo tại nhà thờ Phú Cam Huế do giám mục Phạm Ngọc Chi chỉ đạo chứng nhận đă nói “Cha giám mục Phạm Ngọc Chi đă dạy cho tui là khi c̣n người Da trắng c̣n hiện diện ở Việt Nam th́ họ c̣n cần đến những người Công giáo như chúng ta”  (trích Đảng Cần Lao của Chu Bảng Lĩnh, tr 313, Lê Trọng Văn, nxb Mẹ Việt Nam)

 

Nhân Dân Việt Nam, cống hiến bạn đọc toàn bộ cuốn sách “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn”, một trong số hàng trăm cuốn Sử Liệu Cận Đại Việt Nam vẻ vang Việt tộc, là đế quốc Mỹ hùng mạnh nhất trên quả địa cầu, đă chiến bại tháo chạy trong hỗn loạn, trước sức mạnh Toàn dân kiên cường kháng chiến đánh cho Pháp-Mỹ-Vatican cút – Việt gian Ngụy Diệm Thiệu nhào. Được sự chỉ đạo Cha già dân tộc Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng, lănh đạo toàn dân kháng chiến dành Thống nhất - Độc Lập - Chủ quyền…cho Tổ quốc Việt Nam 

 

Mục lục trên mạng được chia nhiều phần hơn mục lục của cuốn sách, để quư vị truy cập Sử liệu này trên mạng không nhàm chán v́ quá dài. Hy vọng rằng quư vị, như là đang say mê đọc Truyện  Kiếm Hiệp Kim Dung vậy.

 

 

 

MỤC LỤC

 

 

                                                                                                                        Trang

 

 

Lời giới thiệu:                                                                  Thành Tín                3

 

 

Phần I (A) – Mở màn  (trong bài đánh máy Phần I, II, III và IV,chúng tôi đều có  ghi   số mỗi trang đánh máy của cuốn sách để quư vị có thể truy ḍ chính xác)

 

Trở lại Đông Dương                                                                    9

 

Một ngày vĩ đại                                                                         25

 

Phần I (B)   Đại sứ Martin                                                                             41

 

Sống nhờ viện trợ                                                                       68

 

Phần II (A) – Tan ră

 

Tiến công                                                                                   89

 

Một anh bạn hẩu                                                                        96

 

Hoa Sen nở                                                                               106

 

Chiến lược cố thủ                                                                     123

 

Phần II (B)  Hộp đen                                                                                   141

 

Chỉ những người Mỹ thôi!                                                       153

 

Thoát khỏi địa ngục                                                                 163

 

Phần III (A) – Sụp đổ

 

Trách nhiệm đầu tiên                                                               189

 

Thảm kịch giữa trời                                                                 198

 

Ném bom                                                                                 204

 

Rọi đèn chiếu                                                                           211

 

Chiến dịch Phương Hoàng bay                                                219

 

Phần III (B) Lịch sử vô ích                                                                          228

 

Trong trường hợp bi đát nhất                                                   241    

 

Một cuộc tản cư “có trật tự”                                                     249

 

Nút của hỗn loạn                                                                      252

 

Thiệu ra đi                                                                                255

 

Thông tín viên bí mật                                                               265

 

Phần III (C)  Một ư nghĩ quá đơn giản                                                          272

 

Một người lái xe có cỡ                                                             280

 

Đến lược chúng tôi                                                                  286

 

Họ đang ở cửa                                                                          294

 

Phần III (D) Buổi sáng                                                                                 310

 

Buổi chiều                                                                                338

 

Buổi tối                                                                                    354

 

Phần IV: – Lời bạt

                   

                   Che giấu                                                                                    375

 

 

Decent Interval: An Insider's Account of Saigon's Indecent End Told by the Cia's Chief Strategy Analyst in Vietnam

 

 

CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN

FRANK SNEPP

 

 

 LỜI GIỚI THIỆU

 

 

“Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” là cuốn sách dày của một nhân viên CIA cỡ bự. Một cuốn sách lôi cuốn, bổ ích và lư thú đối với chúng ta.

 

CIA (Cục t́nh báo trung ương Mỹ) vốn được coi là một thần tượng ở phương Tây.

 

Đó là một tổ chức vốn được tâng bốc là cực lớn, cực giàu, cực mạnh, hầu như có mặt ở khắp nơi trên thế giới này.

 

Đó là một “cột trụ” vững chăi của chế độ Mỹ, của chính quyền Hoa Kỳ, của “nền dân chủ Tây phương”.

 

Đó là một chính phủ trong chính phủ, một đội quân trong các đội quân - Có lúc giám đốc CIA W.Colby tự đắc:

 

 “Ư CIA là ư trời, là ư của Thượng đế!”

 

Nhà văn Liên Xô I. Erenbarg nhận định: “Bọn CIA mà có lên được đến thiên đường th́ ắt chúng sẽ đặt ḿn dưới các đám mây, ám sát các thiên thần và chặt đầu cả Thượng đế!”

 

Vậy mà CIA đă qua một tấn thảm kịch. Một tấn thảm kịch chôn vùi cái uy danh hăo của nó. Liên Xô đă phá vỡ ưu thế chiến lược hạt nhân của Mỹ, Cách mạng Cuba, Cách mạng Việt Nam, sự vùng dậy của Châu Phi theo xu thế cách mạng xă hội chủ nghĩa, Cách mạng Nicaragoa nổ bùng...bện cái bộ mặt “tưng hửng”, “ăn hại”, “vô tích sự”, bất lực của CIA. Bọn CIA qua những tấn thảm kịch ấy không c̣n ngang nhiên ưỡn ngực được nữa. Chúng đă buộc phải cúi đầu, nhiều khi không c̣n dám tự nhận là nhân viên CIA.

 

Kissinger từng tái mặt, đạp bàn, cay cú chửi bới bọn CIA ở Nam Việt Nam hồi 1972 rằng: “Việt Cộng có bỏ túi xe tăng để đưa vào tận chiến trường Lộc Ninh đâu, sao chúng bay tự nhận có tai mắt ở khắp nơi mà không hề thấy và báo trước?” (tr.3)

 

Frank Snepp là nhân viên cỡ bự, là chuyên viên phân tích chiến lược số một có uy quyền của CIA, từng lâu năm ở Nam Việt Nam

 

Qua cuốn sách này, Frank Snepp tung hết ra trước dư luận mọi sự thật về diễn biến thấy được, nắm được, hiểu được ở Sài g̣n, ở Nam Việt Nam trong những ngày nóng bỏng nhất: cuộc tổng tiến công và nổi dậy vĩ đại của quân và dân ta trong mùa xuân lịch sử 1975.

 

Đây là một bài tường thuật lớn, một cuốn nhật kư ghi chép hàng ngày, một bộ phim tư liệu khá chân thực, một tập tư liệu sống, một biên niên sử thu nhỏ. Tác giả đứng ở vị trí trung tâm của sứ quán Mỹ, với đủ phương tiện thông tin hiện đại nhanh, nhạy nhất, để nghe ngóng, quan sát, ghi nhận, phân tích, suy nghĩ và kết luận. Cái phong phú, sinh động của quyển sách là ở đó - sức lôi cuốn của quyển sách chính là ở đó.

 

Động cơ của người viết, đó là một vấn đề cần làm rơ.

 

Phải chăng anh chàng nhân viên cỡ bự này của CIA đă thức tỉnh, nhận ra lẽ phải, có cảm t́nh với chính nghĩa Việt Nam, lên án các thế lực đế quốc xâm lược?

 

Xin chớ hiểu lầm. Frank Snepp nổi giận, bực ḿnh, phẫn uất chỉ v́ anh ta vỡ mộng. Anh ta đặt ảo tưởng bao nhiêu ở CIA th́ qua mùa xuân 1975, là người trong cuộc, anh ta thấy thấm thía cái bất lực, cái thối nát, cái vô dụng tệ hại của bọn này bấy nhiêu.

 

Hơn thế nữa, những Richard Nixon, Gerald Ford, Henry Kissinger, những viên tướng Joe Smith, những đại sứ Martin, Mérillon, cho đến những Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương, và một loạt tướng tá và chính khách cấp cao Mỹ - Sài G̣n mà anh ta từng chiêm ngưỡng, tin tưởng đến sùng bái - qua kiểm nghiệm khe khắt của chiến tranh, của lịch sử - hiện nguyên h́nh là những con rối của thời cuộc, những kẻ xuẩn ngốc, những tù binh của sự kiện, những chính khách chủ quan, ngạo mạn bất tài, bất lực và vô trách nhiệm. Tất cả đều không đáng một đồng đôla nhỏ!

 

Họ mù tịt về ư đồ chiến lược của đối phương, và trước những cuộc tiến công thần tốc của cách mạng, họ chỉ c̣n biết dẫm đạp lên nhau mà chạy thoát lấy thân, sống chết mặc bay, trong một cuộc tan ră và sụp đổ nhanh chóng và triệt để, hiếm thấy trong kết thúc của một cuộc chiến tranh nào.

 

Và Frank Snepp đă nổi loạn. Anh ta đă nổi loạn bất chấp “nội quy-pháp luật” khe khắt của CIA, bất chấp lời thề bằng chữ viết, khi gia nhập CIA; bất chấp sự nguy hiểm sẽ bị “lưỡi kiếm sắc thường trực” của CIA trừng phạt để trả thù.

 

Cuốn sách của Frank Snepp gây tiếng vang rộng lớn. Cuốn sách nguyên bản tiếng Anh xuất bản năm 1977: “The decent interval” (nghĩa là “Khoảng cách vừa phải”), châm biếm và đả kích lại ư đồ của Nixon và Kissinger sau khi buộc phải kư Hiệp định Paris cam kết rút hết quân chiến (tr.4) đấu Mỹ và tận lực giúp đỡ trong một khoảng thời gian thích đáng để cho chế độ Thiệu đứng vững. Cuốn sách được dịch ra tiếng Pháp với đầu đề cụ thể hơn “Sauve qui peut” - “Mạnh ai nấy chạy”. Sách bán chạy như tôm tươi. Bọn CIA bỏ tiền ra sức thu mua và vét hết để khỏi đến tay người đọc th́ sách càng thêm đắt ở chợ đen. Theo tin từ Mỹ, tác giả và gia đ́nh đang sống trong t́nh trạng khốn quẩn, bị bộ máy chính quyền Mỹ lên án là một tên phản bội (!)

 

Cái hạn chế của cuốn sách chính là ở chỗ đứng của tác giả - Anh ta không thể hiểu sâu sắc những nguyên nhân cơ bản của Đại thắng mùa Xuân 1975 của chúng ta. Anh ta không thể hiểu rơ tầm cao chiến lược trong chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, sự quật khởi của quần chúng nhân dân, tài thao lược của các lực lượng vũ trang nhân dân ta với khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự rất sáng tạo và độc đáo.

 

Dù sao, những “bức tranh từ phía bên kia” của Frank Snepp cũng giúp cho chúng ta hiểu biết và khám phá ra thêm nhiều điều bổ ích và lư thú về thất bại hoàn toàn, triệt để, chưa hề vấp phải của cường quốc đế quốc số một của thế giới trên mảnh đất Việt Nam anh hùng này.

 

Cho nên cùng với nhiều cuốn sách khác đây là cuốn sách rất nên đọc, rất cần đọc cho mỗi người Việt Nam chúng ta luôn luôn mong muốn hiểu rơ thêm lịch sử, tầm cao chiến thắng của dân tộc ta trong quá khứ để sáng mắt, sáng ḷng nh́n thẳng tới tương lai.

 

Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đă làm một công việc có ư nghĩa thiết thực, tổ chức dịch và in chu đáo và kịp thời cuốn sách này. Đây là một cố gắng rất đáng hoan nghênh. Cùng với những cuốn sách lư thú và bổ ích khác, chúng ta cùng nhau sống lại trong niềm hứng khởi luôn luôn mới với đỉnh cao chiến thắng huy hoàng mùa xuân năm 1975 lịch sử, đón chào xứng đáng kỷ niệm 10 năm toàn thắng đế quốc Mỹ xâm lược 30.4.1975-30.4.1985.

 

                                                                   Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-1984.

                                                                                         THÀNH TÍN

 

 

 

 

 

Frank Snepp

 

 

                               

TRỞ LẠI ĐÔNG DƯƠNG

 

 

Tháng 10 năm 1972, lúc tôi trở lại Sài G̣n sau một năm vắng mặt, cuộc tiến công của Bắc Việt Nam lắng xuống. Lời bàn tán sắp có hoà b́nh loan truyền khắp nước này. Từ nhiều thập kỷ nay, lần đầu tiên, người Việt Nam mới lại có dịp mong ước chiến tranh sớm chấm dứt.

 

Lúc chiếc máy bay khổng lồ của hăng hàng không Cathay Pacific xin hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tôi nh́n rơ con đường dài chúng tôi và các đồng minh phải vượt qua, kể từ ngày đầu tiên, hồi tháng 6 năm 1969, tôi đến đất Việt Nam. Ngày ấy, trời mùa hè nóng bức, máy bay phải lượn theo ṿng tṛn xoáy trôn ốc mới hạ được cánh để tránh những khẩu pháo pḥng không của cộng sản ở chung quanh sân bay.

 

Ba năm sau, máy bay bay từ từ dọc theo những nhà tạm lợp mái tôn lượn sóng, được xây dựng chung quanh thành phố theo nhịp độ dân tị nạn kéo đến. Đằng xa, những mảnh ruộng xanh và vẫn b́nh yên như cảnh nông thôn miền Louisiane.

 

Lúc tôi rảo bước đi qua đường bay đến pḥng nhập cảnh trước làn sóng hành khách, tôi nhớ lại người bạn đồng hành, ngồi cạnh tôi trong chuyến bay sang đây lần đầu năm 1969. Đó là vợ một tên đại tá mới biết tin chồng sống lang chạ với một phụ nữ Việt Nam làm chiêu đăi viên bán ba. Cho đến lúc máy bay chạm đất, bà ta đă thổ lộ với tôi đến mười lần nỗi lo sợ của bà. Mỗi lần tỏ nỗi ḷng, bà đều uống một ly Máctini. Khi bà xuống sân bay, dưới trời nắng chói chang, bà say quá, ngă lăn ra làm cho bọn linh Mỹ gác ở cổng chính cười rũ rượi. (tr.9)

 

Lần này, trong số khách đi máy bay, không có ai là vợ quân nhân cả. Trừ tôi ra, người phương Tây duy nhất là một thợ nề Úc, bụng to, có một phụ nữ Trung Quốc thiếu gọn gàng đi theo. Có quân cảnh Mỹ giữ trật tự cùng lính Việt Nam nhưng họ tôn trọng công cuộc Việt Nam hoá nên giấu mặt.

 

Người lái xe do đại sứ quán cử ra đón tôi nói rằng đă gặp tôi lần trước. Anh ta dẫn tôi nhanh nhẹn lách qua đám lái xe tắc xi và xích lô đến chiếc Chevrolet có mấy điều hoà không khí. Lúc đi qua cổng chính sân bay, tôi trông thấy bức tượng nhỏ do người Việt Nam mới dựng để tưởng nhớ người Mỹ chết trong chiến tranh. Người ta đọc thấy ḍng chữ: “Sự hy sinh cao cả của người lính đồng minh không bao giờ bị lăng quên”. Ba năm sau, sau khi Sài G̣n thất thủ, những người cộng sản quét lên đó một lớp sơn vàng và thay bằng một câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

Cũng như mọi người mới đến, tôi ở khách sạn Duc, trụ sở trá h́nh của Cục t́nh báo trung ương Mỹ CIA xây khuất vào trong, cách dinh tổng thống Việt Nam và sứ quán Mỹ vài trăm mét. Cho đến cuối thập kỷ 60, trong nhiệm kỳ thứ nhất của tôi ở Sài G̣n, khách sạn này chỉ hơn cái trại lính một ít, dùng để đón “tân khách”. Ở đây, luôn luôn có không khí ồn ào của vũ hội.

 

Nhưng một năm trước khi tôi trở về trụ sở CIA ở Langley, miền Virginia, có một người nào đó quyết định rằng chúng tôi đáng được sống tốt hơn, nhất là vợ con nhân viên sứ quán cũng được phép sang ở với chồng, với cha. Do đó khách sạn được sửa chữa lại theo kiểu Mỹ. Pḥng ăn, đặt ở tầng thượng, được sắp xếp theo tiêu chuẩn hiện đại của công ty Howard-Jóhnon. Gần đó, có ba, có bể bơi, sân phơi nắng để người ta có thể vừa tắm, vừa uống Bloody Mary. Thức ăn đặc biệt Mỹ và gồm toàn món ướp lạnh. Nữ chiêu đăi viên Việt Nam đều do cơ quan an ninh của CIA tuyển lựa để bảo đảm không một ai có quan hệ với cộng sản. Những chiếc áo dài cổ truyền trước kia làm cho các cô uyển chuyển và quyến rũ nay được thay bằng những bộ đồ ngắn cũn cỡn theo mốt quần áo trẻ con Mỹ lúc các em bắt đầu đến trường mẫu giáo.(tr.10).

 

Tám giờ tối, có thể xem phim mới, chưa hề chiếu ở đâu, trong pḥng chiếu phim ở dưới nhà, cạnh cửa ra vào. Ngoài ra c̣n có một pḥng rửa ảnh, trang bị đầy đủ máy móc hiện đại, một pḥng thu thanh và một thư viện mở cửa suốt ngày. Sáng sáng, từ sứ quán đến khách sạn, khách đi, về bằng xe của CIA để giảm bớt số xe chạy trong những giờ cao điểm. Lúc nào cũng có xe riêng chở đi PX, đến pḥng cung cấp hoặc bệnh xá cực kỳ hiện đại của CIA, đặc ở một phố gần đấy. Ở đó, hai thầy thuốc, lành nghề, thay nhau thường trực suốt ngày và đêm để chạy chữa cho những người say rượu hoặc mắc những bệnh khác. Hầu hết các nhân viên CIA đều có xe riêng đặc biệt, lúc nào cũng đầy xăng được phát không, một biệt thự hoặc một ngôi nhà, tuỳ theo cấp bậc, ở trong thành phố. Điều ngạc nhiên ở CIA Sài G̣n là người ta thích lái xe Ford Pinto và những người lái xe có thể đeo một huy hiệu ghi rơ: “Tôi làm việc cho CIA”. Thật vậy, họ là quan chức Mỹ ở Việt Nam duy nhất dùng loại xe này.

 

Mọi chi tiết đều được thực hiện để bảo đảm đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống của ba trăm nam, nữ nhân viên CIA cho đến lúc họ trở về Mỹ, nghỉ hè hàng năm, giải trí. Trên trái đất này, chưa thấy ở đâu, chưa thấy ở nơi nóng bỏng nào, nhân viên CIA lại được sống sang trọng như thế. Tất cả tiền chi phí đều do người đóng thuế Mỹ chịu.

 

Một, hai ngày sau khi tôi đă yên vị ở khách sạn Duc, tôi quyết định vào trung tâm thành phố, cách khách sạn khoảng vài trăm mét. Tôi ra đi đúng ngọ. Kim đồng hồ bưu điện chỉ 12 giờ lúc tôi cho khởi động chiếc xe Pinto mượn của người khác, giữa tiếng ồn ào của người Việt Nam. Phần đông đang trở về nhà hoặc đi qua đường đến ngủ trưa dưới bóng mát của nhà thờ Thiên Chúa giáo. Trong khi luôn luôn lái hăm phanh để tránh chẹt phải người đi bộ đăng trí, tôi nhớ lại một ngày hè năm 1969, cũng nóng bức như hôm nay. Việt cộng đă đặt một trái ḿn có kim đồng hồ và làm nổ ở cửa nhà bưu điện.

 

Khả năng một bạo động như thế khó có thể xảy ra ngày nay. Vẫn biết chiến tranh hăy c̣n. Ban đêm, trên nóc khách sạn Caravelle, người ta vẫn c̣n trông thấy máy bay lên thẳng Việt (tr.11) Nam bắn pháo sáng vào bầu trời, tạo thành những viên hoả châu trên nền nhung đen. Vẫn c̣n nghe tiếng gầm rít của đại bác, tiếng bom rền của máy bay B.52 ở đằng xa làm rung chuyển giường ngủ. Nhưng hàng tháng nay, không có một vụ phá hoại nào đáng kể. Người bản xứ gần đây nhất tự thiêu theo kiểu nhà sư hồi đầu những năm 60, là một cựu binh cụt tay, ba tuần trước, trong lúc anh ta nằm mơ mừng ở một quán bán hoa trên đường Nguyễn Huệ, đă đánh rơi điếu thuốc lá Bastos vào người.

 

Tôi trở về khách sạn Duc lúc tối. Ở ba, có một ông già ngồi. Ông ta kể chuyện Sài G̣n đầu những năm 60. Đó là Paris của phương Đông với những đường phố rộng trồng cây. Có những tiệm ăn Tàu nổi tiếng ở Đông Nam Á, những nhà thổ sang trọng, bốn bề là kiếng chiếu kiểu Hồng Kông. Nơi đó, có nhiều tṛ giải trí như tấm biển của nó chỉ rơ.

 

Nghe ông ta nói th́ thời phồn vinh xa xưa ấy chấm dứt năm 1965, lúc trận lũ lụt đôla đổ xuống cùng với làn sóng lính Mỹ xô vào, tiêu diệt mọi thứ ưu ái ở thành phố này. Sau cuộc tổng tiến công năm 1968 của cộng sản, Sài G̣n trở thành một bản sao tồi của Dodge City, thời những người mới đến khai khẩn.

 

Lính Mỹ, đạn trên vai, một tháng lương trong túi, trở thành người chủ thành phố. Lối sống Mỹ tràn ngập phố phường. Một phần nhân dân địa phương sống yên tĩnh ở nhà, chờ ngày giông tố qua đi. Phần c̣n lại lao vào việc kiếm tiền bằng nhiều mánh khoé. Chất lượng các nhà chứa giảm sút. Thật vậy, hàng đàn phụ nữ nông thôn Việt Nam thiếu kinh nghiệm, bỏ quê hương, sẵn sàng hành nghề. Những người khoẻ nhất, xinh nhất đều ở câu lạc bộ 147, đường Vơ Tánh, ở ba Con Rồng, gần đường Lê Lợi hay ở Mini’s Flamboyant, một ngôi nhà tồi tàn trên đường Nguyễn Huệ. Ở những nơi ấy, cả một thế hệ lính Mỹ đă mất cả áo sơ mi lẫn sự ngây thơ của ḿnh.

 

Tháng 10 năm 1972, lúc tôi trở lại Sài G̣n, những cảnh ấy chưa mất hẳn. Sự khổ cực vẫn c̣n bám lấy thành phố như cái vẩy trên vết thương. Bề mặt xám những ngôi nhà của người dân và những khách sạn ở trung tâm thành phố, gần quảng trường (tr.12) Lam Sơn, vẫn như cũ. Từ các cống rănh - kể cả ở những đường phố chính - bốc lên mùi nước tiểu và rác mặc dù thường có những xe do các chương tŕnh viện trợ Mỹ cung cấp cho chính quyền Sài g̣n, đi phun nước và hốt rác. Giao thông hỗn độn và dễ làm chết người. Vào những giờ cao điểm, không khí trở nên xám xịt và lầy nhầy v́ khói, hơi dầu do các xe honda và các loại xe Nhật Bản khác của những người Việt Nam đi, thải ra mặc dù giá dầu xăng cao. Những cây me cuối cùng ở đường Tự Do đang chết dần giữa làn khói ấy. Và những nhà thông thái trong xă hội thực dân Pháp cho rằng quân đội Mỹ phải chịu trách nhiệm về cái chết của những cây me này v́ họ đă sử dụng hoá chất làm trụi lá cây.

 

Theo sự khám phá của tôi, đời sống ban đêm ở Sài G̣n không hề được cải thiện chút nào, về mặt thẩm mỹ hay mặt vệ sinh cũng vậy. Mấy tuần trước, trong một lúc bốc đồng, chính quyền ra lệnh đóng cửa các ba và pḥng xoa bóp đáng nghi ở đường Tự Do và đường Nguyễn Huệ, để tỏ rơ rằng sự có mặt của người Mỹ đă giảm sút và để giảm bớt sự lạm phát. Nhưng, cũng như mọi cải cách ở thành phố này, việc cấm đoán đó cũng là một tṛ hề. Cách làm tiền mạnh bạo nhất là ra kiếm khách ở hè khách sạn Continental. Trong quán ăn - thay các ba - vẫn những tṛ giải trí như trước. Nhưng các cô gái lại mặc áo blu trắng của chiêu đăi viên và đề nghị khách dùng trước hết, rau xà lát và thịt trâu, khác với lệ thường.

 

Mặc dù có những cảnh xấu xa ấy, thành phố vẫn có vẻ đang thay đổi, điều mà có thể chỉ những người Việt Nam mới đánh giá đúng. Những kẻ ăn xin và bọn nhóc lưu manh trên đường Nguyễn Huệ h́nh như lễ phép hơn, vị nể hơn. Có vẻ như chúng hiểu rằng người Mỹ sắp ra đi hết và phải tỏ ra ít nhiều ngoại giao để tranh thủ những ơn huệ của những kẻ trọc phú cuối cùng! C̣n lính Nam Việt Nam th́ họ tiếp tục tràn vào các cửa hàng và tiệm cà phê chiều thứ bảy. Họ lại cầm tay nhau, cử chỉ mà họ phải bỏ từ ngày lính Mỹ tới. Những người Mỹ, không hiểu tập quán ấy, cho rằng Việt Nam là một nước của những kẻ gian. (tr.13)

 

Một nhà buôn già, người Tàu, đă mua một pḥng xoa bóp tốt nhất ở đường Tự Do để mở một cửa hàng bánh ḿ, hăng hái giải thích cho tôi: người Mỹ ra đi đă thay mọi cái cũng như người Mỹ tới, phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Ông ta nói: “Sự giàu có mà các anh đem đến buộc chúng tôi phải nghĩ đến sự nghèo túng của ḿnh và giao thiệp với các anh để trở thành những người mà các anh mong muốn. Nay, người Mỹ trở về nước họ, chúng tôi lại cảm thấy yên ổn hơn, tránh khỏi những ảo tưởng!”

 

Trừ những người Mỹ ngày càng ít đi, những nhân vật chính của Sài G̣n vẫn thế như tôi đă biết họ lúc trước: một bọn người ngây thơ và ăn cắp, xứng đáng với tưởng tượng của Hieronymus Bosch

 

Đằng kia, ở ngă tư đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ, một người đạp xích lô già, ngồi trên xe như con chim kền kền, đầu đội mũ côlônhân, mắt đeo kính đen, mũi tẹt, đang theo dơi xem có khách gọi không. Đằng này, trên đường Tự Do, có một cô bé khoảng 17,18 tuổi, vẻ đăng trí, bộ đùi lộ rơ trên đôi dép giả da, vú độn cao cho hợp với mốt thời đại. Cô ta uống côca và nói đùa tục tĩu bằng một thứ tiếng Mỹ giả cầy học ở các ba mà chị chưa hiểu hết, với bọn lái xe xích lô không quen biết.

 

Xa xa có một cô gái nông thôn, bé nhỏ, thẹn tḥ, nón ngang vai, quần lụa đen phấp phới, dép râu đi kêu lách cách từ gian hàng này đến gian hàng khác ở chợ Bến Thành. Theo sau là anh chồng: một binh sĩ Việt Nam, đôi mắt buồn dưới chiếc mũ sắt, khẩu súng M-16 cao bằng người, lương tháng bằng 12 đô-la, nhưng phải nuôi sống một gia đ́nh mỗi ngày một đồng, không có tương lai nào khác ngoài việc nằm trên cáng hoặc đến tuổi giải ngũ là 37 tuổi. Lúc đó, anh ta đă quá già để có thể làm bất cứ việc ǵ.

 

Có cả tầng lớp thượng lưu, những diễn viên chính. Buổi trưa, thường họ ở câu lạc bộ thể thao, vết tích của thời thuộc địa Pháp. Họ vừa ăn sáng vừa tắm ở bể bơi trong hai giờ. Đây là nhóm sản phẩm của xă hội Pháp cũ, những tên thực dân già (tr.14) và những tên thanh niên lai, mạnh khoẻ, da nâu. Kia một nhóm người riêng biệt, yên lặng, nằm phơi bụng phệ trên ghế dài, dấu hiệu sung túc của đất nước kỳ lạ này. Đó là những người Việt Nam hay Trung Quốc quan trọng, nói th́ thầm với nhau về việc làm ăn buôn bán, về chính trị chung quanh cốc nước chanh vắt, đủ giàu có để có thể thoát khỏi mọi biến cố sẽ xảy ra.

 

Quá trưa, khoảng từ ba đến bốn giờ, phải đi xe tới hiệu cà phê Givral đường Tự Do mới uống được ly cà phê Pháp, đen như mực. Ở đây, giới thượng lưu cũng họp mặt. Nhưng đó là những người trẻ, tóc đen, dài, rất khó phân biệt giữa nam với nữ v́ thường họ đều mặc áo sơ mi thêu cành lá và quần chẽn. Những sinh viên ở Sài G̣n ghét Mỹ nhưng dành th́ giờ để bắt chước Mỹ.

 

Cũng có thể lượn phố, dinh mũi vào tủ kính những cửa hàng sang trọng ở ṿng cung Eđen. Ở đây, có thể gặp những phụ nữ nửa lịch thiệp của thành phố. Họ đi, đầu thẳng, nh́n xa, đúng mốt trên tranh, mũi và mắt được các mỹ viện trang điểm theo kiểu phương Tây. Chiếc áo dài lụa, những chiếc bùa Campuchia tỏ rơ họ giàu sang. Có thể bí mật mời họ đi chơi một chuyến. Nhất là đối với những vị có nhiều tiền. Đó thường là vợ hai hoặc nhân t́nh của một vị tướng quan trọng hay một nhà chính trị Nam Việt Nam. Họ nói tiếng Pháp và giao thiệp với người Pháp. Tuy nhiên, họ bằng ḷng ve văn người Mỹ nếu việc đó có lợi cho họ.

 

Giờ uống cốctai đều. Người ta vội vàng đến hiệu Mini cầm một cốc bia. Chắc chắn, những kẻ nịnh hót, đứa nào cũng hay nói. Nhưng đừng vội nghĩ lầm. Người ngồi đó đang ở thời kỳ cực thịnh, là một người Mỹ quan trọng. Mặt anh ta đỏ gay, cổ ḅ rừng, sơ mi kẻ ô che cái bụng phệ. Nguyên là lái xe vận tải hoặc làm cai trong một xưởng máy, anh ta bám lấy Việt Nam, từ năm này qua năm khác, làm tổ trưởng trong một nhà hàng Mỹ. Sau mỗi trận đánh, anh ta lại được kư hợp đồng làm đường, xây nhà. Anh ta có một vợ và một nhân t́nh người Việt Nam dễ bảo. Anh ta là người bảo (tr.15) vệ ḷng tự tôn mặc cảm Mỹ. Là người sau cùng rời đất nước này sau khi mọi người Mỹ khác đă hồi hương.

 

Sứ quán Mỹ nằm trên đường Thống Nhất, không có ǵ thay đổi trong lúc tôi vắng mặt ở Sài G̣n. Hoạ chăng là trồng một ít cây hoa ở ngoài sân vào những chỗ Việt cộng đào để đặt súng trong những ngày đầu cuộc tổng tiến công mùa Xuân 1968. Nhưng những bức tường bê tông bảo vệ mặt trước sứ quán chẳng đẹp đẽ ǵ hơn một cái cối có h́nh tổ ong.

 

Về mặt kiến trúc, nơi đây giống như một phác hoạ ư đồ Mỹ ở nước này, tạo cho trụ sở một cơ quan ngoại giao một h́nh ảnh pháo đài, việc đó tỏ rơ hiệu quả của nền ngoại giao! Quả thật đó là một pháo đài: 60 lính gác, một hầm tránh bom, một mái nhà làm nơi hạ cánh cho máy bay lên thẳng, và một bức tường cao ba mét để dân Sài G̣n và khách du lịch không thể ḍm ngó được.

 

Đại sứ E. Bunker và e kíp ngoại giao của ông vẫn ở ba tầng dưới của sứ quán. Ba tầng trên dành cho CIA. Bên cạnh ngôi nhà chính, là một dăy nhà phụ, gọi là “khu” Nôrôđôm dành cho nhân viên phụ động của CIA. Trong cuộc tiến công của cộng sản vào sứ quán, năm 1968, một tổ đặc công Việt cộng đă đánh tới khu Nôrôđôm. Nhưng một lính Mỹ gác ở pḥng dùng để xếp bản đồ của CIA, đă lấy súng máy chắn họ lại. Từ đó, mối xông và phá hoại cả gian pḥng. Ngày cuối cùng của chiến tranh, gian pḥng đă “vui vẻ” cháy hết.

 

Một ngôi nhà ba tầng mới được xây gần khu Nôrôđôm. Hơi xa một chút, gần nơi sân máy bay lên thẳng hạ cánh ngày cuối cùng để cứu chúng tôi, đă thiết lập một nơi giải trí mới, gồm một nhà ăn theo kiểu Mỹ và một bể bơi lớn. Như bể bơi khách sạn Duc. Tất nhiên là người dân Sài g̣n không được vào bơi ở bể này.           

Đại sứ Ellsworth Bunker  

            

Sứ quán được xây dựng năm 1967, đáng lẽ là chỗ ở, nơi nương náu của Đoàn ngoại giao Mỹ tại Việt Nam - hồi ấy đă quá đông, không thể ở trụ sở cũ, gần sông - Nhưng với những nhà kiến trúc không được bí mật về ư đồ của chính giới cao cấp Mỹ, nên sứ quán mau chóng trở nên chật chội (tr.16) đối với số nhân viên mỗi ngày một ph́nh ra. Một số bộ phận phải đặt tạm trụ sở ở những ngôi nhà tồi tàn trong thành phố. Cơ quan CORDS - tượng trưng cho sự nỗ lực của người Việt Nam và người Mỹ để b́nh định nước này, gồm hai bộ chỉ huy riêng rẽ, ở cách xa sứ quán. Quan chức cơ quan USAID được sử dụng những ngôi nhà lớn gần câu lạc bộ thể thao. Và nếu cần phải có những dụng cụ tuyên truyền, th́ phải đi qua phố Lê Quí Đôn quá đông đúc để đến thư viện Lincoln, ở đó là trụ sở cơ quan thông tin Mỹ, USIS.

 

Những ngôi nhà phụ của sứ quán ở cách đó 8 kilômét, nằm trong sân bay Tân Sơn Nhất, trước mặt những ngôi nhà của sân bay. Ở đấy, trong những căn pḥng kín đáo, chắc chắn, gọi là “Lầu ngũ giác phương Đông” các tướng Mỹ thuộc cơ quan MACV (cơ quan viện trợ quân sự Mỹ), từ giữa những năm 60, đă thảo ra những kế hoạch đánh chiếm cùng với Bộ chỉ huy tối cao Nam Việt Nam, mà bộ tham mưu cũng ở gần ngay đấy. Thời kỳ quân Mỹ tham gia toàn bộ vào cuộc xâm lược. “Lầu Năm Góc phương Đông” là một tổ ong ồn ào, những binh sĩ bất măn và chán chường, hít cần sa trong buồng thay quần áo hay trong bể bơi, những sĩ quan trẻ, vẻ bận rộn, rảo bước ngoài hành lang, làm như không trông thấy ǵ. Lúc tôi trở lại năm 1972, nếu có ǵ thay đổi ở Nam việt Nam th́ đó là nhịp sống ở “Lầu Năm Góc” chậm lại. Binh lính Mỹ giữ vai tṛ thứ yếu bên cạnh “đồng minh” Nam Việt Nam. Theo tinh thần “triệt để” Việt Nam hoá, sĩ quan Mỹ cũng không trả lời dây nói nữa.

 

Sau đó, khi ngừng bắn, những cơ quan ở rải rác của sứ quán đều thay đổi và thu hẹp lại. Cơ quan “B́nh định và phát triển nông thông” từ chối không làm nhiệm vụ chống khủng bố, đổi thành “Pḥng giúp đỡ đặc biệt”

 

Cơ quan MACV thu hẹp lại trở thành Phái bộ quân sự. C̣n nhân viên ngoại giao và quân sự Mỹ ở rải rác khắp miền Nam Việt Nam, kéo về những trung tâm lănh sự ở những thành phố quan trọng như Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hoà và Cần Thơ. Mặc dù vậy, những cơ quan khác nhau của sứ quán, cho đến ngày cuối của cuộc chiến tranh, vẫn gây cảm tưởng  (tr.17) là họ ở khắp mọi nơi và không ở đâu hết. Không có sự giúp đỡ của Chúa  trời và nhất là không có sự tận tuỵ của một số người lái máy bay lên thẳng th́ một số khá đông nhân viên sứ quán có thể bị bỏ quên như trường hợp nhiều nhân viên người Việt Nam.

 

Theo lư thuyết th́ ông Đại sứ là người duy nhất chịu trách nhiệm về cộng đồng viên chức Mỹ ở Việt Nam. Nhưng tháng 12 năm qua, trọng tâm chính trị đă thay đổi hoàn toàn, nhiều lần khi ảnh hưởng của Phái bộ quân sự lớn đến đâu th́ các đại sứ Henry Cabot Lodge và M.Taylor bị đầu óc “Lầu Năm Góc phương Đông” chi phối đến đấy. Năm 1967, khi ông E.Bunker vào ở tầng gác thứ ba của sứ quán, th́ ông chẳng làm ǵ để thay đổi t́nh trạng ấy. Nhưng hai năm sau, khi “Việt Nam hoá” trở thành chính sách của Mỹ th́ những quyền ưu tiên và trung tâm quyết định lại thay đổi một lần nữa. Bunker dần dần trở thành người diễn viên chính trên sân khấu Mỹ ở Việt Nam. Cùng với Đại tướng C.Abrams, người chủ “Lầu Năm Góc phương Đông” ông giao quyền chỉ huy dần dần cho người Nam Việt Nam”.

 

Một cuộc chuyển giao trách nhiệm như thế đ̣i hỏi phải có một chế độ vững chắc, cùng với chính sách đối ngoại của H.Kissinger, Bunker có nhiệm vụ chính là đề cao giới thượng lưu chính trị Nam Việt Nam, nhất là Nguyễn Văn Thiệu. Ông làm việc này rất vui vẻ và với nhiều trí tưởng tượng. Năm 1971, trong nhiệm kỳ thứ nhất tôi ở Sài g̣n, tất cả các ứng cử viên tổng thống phải rút lui v́ Thiệu chắc trúng cử. Bunker liền dàn một cảnh xảo quyệt để củng cố “uy tín” cho Thiệu, nhất là đối với phái đoàn hoà b́nh Mỹ có thể cho rằng Thiệu trúng cử tổng thống v́ không có đối thủ. Bunker quyết định “ủng hộ” một nhân vật ôn ḥa thuộc phe đối lập, Đại tướng Dương Văn Minh, thường gọi là Minh lớn, để ông này không bỏ cuộc đua, làm như thế may ra cứu văn được t́nh thế. Bunker hành động theo lối ngoại giao quen thuộc của ông. Mưu mô của ông có thể thành công nếu cuối cùng Minh lớn không nói rằng ba triệu đôla người ta biếu ông để vận động tranh cử không hấp dẫn bằng triển vọng một sự thất bại chắc chắn. (tr.18).

 

Lúc tôi trở lại Sài G̣n, mùa Thu năm 1972, tổ của tôi, một chi nhánh CIA, ngày càng bị giới báo chí Mỹ công kích về những cuộc lạm dụng bịa đặt, nhất là trong chiến dịch Phượng Hoàng. Không c̣n nghi ngờ ǵ, chúng tôi có thể trở thành một tấm bia ít bị bắn hơn nếu chúng tôi tiếp tục tập trung, như những năm qua, vào mục đích chính: thu thập tin tức. Nhưng từ những năm đầu của thập kỷ 60, CIA ngày càng dẫm vào những vũng lầy khác.

 

Không phải chúng tôi hành động ngoài qui định của pháp luật. Thật vậy, trong luật về an ninh quốc gia có một câu ngắn và mập mờ như thế này: “Cơ quan CIA và các chi nhánh ở nước ngoài được phép làm mọi việc và mọi cách để thu thập tin tức có quan hệ đến an ninh quốc gia mà Hội đồng an ninh quốc gia đề ra cho nó”.

 

Đầu những năm 60, Nhà trắng đă lợi dụng câu này để buộc CIA phải làm những việc mà Hoa Kỳ không có chuyên gia như tuyển và huấn luyện những đội quân chống cộng. Sau đó, trong khi phái quân sự chuẩn bị một cuộc chiến tranh ác liệt hơn, th́ tổng thống Johnson quyết định để cho CIA tiếp tục hoạt động ngoài chương tŕnh đă định: nghĩ rằng Lầu Năm Góc không cho đó là điều quan trọng.

 

Được sự đồng ư của Tổng thống Johnson, chi nhánh CIA ở Việt Nam dần dần phát triển. Đầu năm 1965, có hơn sáu trăm người thư kư, phân tích tin tức, điều khiển gián điệp thám báo (thường gọi là người xem xét). Trừ cơ quan ở Virginia, trên thế giới, không có chi nhánh CIA nào có đông nhân viên như thế. Với thời gian, nhu cầu về nhân viên trở nên cấp bách, nên các chi nhánh khác hàng năm phải cử nhân viên t́nh nguyện sang Việt Nam bất kể họ có kinh nghiệm hay không. Phần lớn t́nh báo tới Việt Nam đều từ Cộng ḥa Liên bang Đức hoặc Châu Mỹ la-tinh đến. Họ chưa hiểu ǵ về Việt Nam mà là muốn biết Việt Nam. Mặc dù như thế, chỉ một, hai tháng sau khi đến Nam Việt Nam, chưa biết một tiếng địa phương nào, họ cũng vẫn phải đi nhận nhiệm vụ ở một đồn tiền tuyến ở Tây Nguyên hay ở vùng đồng bằng; phải tuyển mộ nhân viên, thu thập tin tức và thực hiện một chương (tr.19) tŕnh mới và mơ hồ để cứu văn nước này, gọi là chương tŕnh “phát triển nông thôn”.

 

Một người phân tích tin tức trước đây của CIA tên là R. Komer đă đề ra chương tŕnh này năm 1967 lúc ông ta là cố vấn ở Nhà Trắng. Ông cho rằng, một mặt có thể loại trừ bộ máy chính trị của Việt cộng bằng chống khủng bố, mặt khác, có thể củng cố vị trí của chính phủ bằng những công tŕnh lợi ích công cộng ở nông thôn. Người Việt Nam thành lập một bộ đặc biệt. C̣n người Mỹ, thành lập cơ quan CORĐS vào cuối năm 1967, phó của Komer là W.Colby, trước đây chỉ huy những hoạt động bí mật của CIA ở Viễn Đông, thay ông ta, đứng đầu cơ quan mới này. Cơ quan CORDS được h́nh thành để trở thành một h́nh mẫu của chủ nghĩa thế giới quan liệu. Nhân viên hoạt động được tuyển lựa trong đội ngũ các viên chức của phái bộ Mỹ ở Sài G̣n. CIA là cơ quan có tổ chức, giàu có nhất trong các cơ quan dân sự của sứ quán, cuối cùng đă chỉ đạo được phần lớn những dự kiến táo bạo của CORDS, trong đó có chương tŕnh Phượng Hoàng.

 

Colby không ngừng nhắc lại, mục tiêu của chương tŕnh Phượng Hoàng là bắt sống cán bộ Việt cộng, hỏi cung, tiếp đó dùng họ làm gián điệp. Nhưng chương tŕnh ấy quá phức tạp đối với người “đồng minh” Nam Việt Nam. Đối với những kẻ quan liêu, đó là vấn đề định nghĩa. Không ai, dù là Nam Việt Nam hay Mỹ, có thể nói rằng ḿnh có thể nhận ra người này, người kia, là cán bộ Việt cộng. Đó có phải là một xă trưởng dành nửa th́ giờ để phục vụ người Bắc Việt Nam không? Hay từ Việt cộng chỉ dùng để ám chỉ những người cộng sản thật sự, những đảng viên? Sự thiếu chính xác đó dẫn nhân viên Phượng Hoàng đến chỗ làm việc tuỳ tiện, bắt bớ lung tung, bất cứ người nào có vẻ nghi ngờ. Sau đó ít lâu, lúc các nhà tù đầy ắp người, nhân viên Phượng Hoàng tự quyết định lấy đâu là luật pháp.

 

Trước khi báo chí tố cáo sự lạm dụng của chương tŕnh Phượng Hoàng, CIA vội vàng t́m cách che giấu. Năm 1969, lúc giám đốc chi nhánh ở Sài G̣n bắt đầu rút các nhân viên CIA làm việc ở cơ quan CORDS cho chương tŕnh kiến thiết quốc gia (tr.20) về để ông tập trung vào những nhiệm vụ cũ, thí dụ như lấy tin tức về những người cộng sản và về chính phủ Nam Việt Nam. Chi nhánh có khả năng đạt mục tiêu thứ nhất v́ từ lâu, chúng tôi tin đă có nhiều nhân viên t́nh báo đắc lực ở ngay trong bộ chỉ huy tối cao của cộng sản (!). Nhưng Shackley, chuyên gia đầy tham vọng chưa bằng ḷng với công việc đă làm. Trong thời gian hoạt động, từ năm 1968 đến năm 1972, ông thúc giục nhân viên tuyển lựa, tuyển lựa, tuyển lựa” nghĩa là lôi kéo, doạ nạt, mua chuộc bất cứ ai có thể trở thành người giúp việc. Khi ông hết nhiệm kỳ, danh sách t́nh báo viên của CIA dài một cách kinh khủng. Nhưng chỉ một thời gian sau đó, năm 1974, chúng tôi mới thấy rơ sự tai hại do sự sốt sắng của Shackley đem lại. Hơn một trăm “nhân viên” Việt cộng được tuyển lựa chỉ là những nhà buôn Việt Nam láu lỉnh, chẳng hề biết tí ǵ về âm mưu của cộng sản. Họ chỉ thu thập những tin tức đăng tải trên báo chí, hoặc những lời đồn đại, rồi tập hợp lại một cách thông minh, đưa cho chúng tôi để đ̣i tiền với giá cao.

                                                                                 

C̣n cái “bia thân hữu”, (như thường gọi đối với Thiệu), để buộc hắn theo chính sách của Mỹ, chúng tôi phải có những nhân viên có chất lượng trong chính phủ. Trong những năm sau khi Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, từ năm 1963, miền Nam Việt Nam liên tiếp bị xáo trộn v́ những cuộc đảo chính và chống đảo chính. Có những viên tướng đầy tham vọng định lợi dụng t́nh trạng không ổn định của nước này để đục nước béo c̣. Năm 1967, trong một cố gắng cuối cùng để tránh rối loạn, chính phủ Hoa Kỳ quyết định ủng hộ một nhân vật mới, một viên tướng miền Nam b́nh thường và nổi tiếng là phi chính trị tên gọi là Nguyễn Văn Thiệu. Sau đó ít lâu, cùng năm ấy, Thiệu được đưa lên làm tổng thống. Nhưng con người hùng thật sự là Nguyễn Cao Kỳ, một người Bắc xuất sắc, nguyên thủ tướng trở thành Phó tổng thống. Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ cho tổng thống Thiệu biết rơ các vấn đề chính trị. Kỳ bị bỏ rơi hẳn sau cuộc tổng tiến công năm 1968 của cộng sản. Trong cuộc tổng tiến công này, nhiều bạn đồng minh tin cậy của chúng tôi đă bị giết. (tr.21)

 

Từ đó, mục tiêu chính của sứ quán là củng cố, bằng bất cứ giá nào, chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thể rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới. Tháng 10 năm 1972, nhằm mục tiêu ấy, chúng tôi đă mua, ủng hộ và bán nhiều nhà quân sự, chính trị Nam Việt Nam, nhiều nhân viên t́nh báo, người hợp tác với chúng tôi nằm trong chính phủ.

 

Shackley đă lôi kéo được tướng Đặng Văn Quang, viên cố vấn sôi nổi về an ninh của Thiệu (Kissinger của Thiệu, nếu như bạn muốn gọi như thế) cộng tác chặt chẽ với CIA. Shack-ley c̣n sử dụng được tướng Nguyễn Khắc B́nh, người chỉ huy cảnh sát độc ác của chính quyền Nam Việt Nam.

 

Cho đến ngày cuối cùng của chế độ Sài G̣n, B́nh và Quang được coi là những nhân vật có giá trị, chắc chắn nhất của chúng tôi ở Việt Nam. Nhưng họ được đánh giá hơi cao so với thực tế. Người này cũng như người kia, không ai cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức. Chúng tôi lấy tin chủ yếu nhờ những máy móc đặt bí mật trong dinh tổng thống. Pḥng làm việc của thủ tướng được nghe thường xuyên. Số ít tin tức do B́nh và Quang cung cấp thường sai lệch. Thật vậy, họ nhanh chóng hiểu rằng họ phải nghĩ đến quyền lợi riêng của họ và quyền lợi của Thiệu, không thể cung cấp cho chúng tôi đúng những tin tức chúng tôi yêu cầu. Hơn thế, CIA phụ thuộc rất nhiều vào họ về mặt chính trị, v́ họ là những người truyền đạt những chủ trương của người Mỹ trong chính phủ, t́nh h́nh đó không cho phép chúng tôi đánh giá những tin tức của họ một cách khách quan hay có phê phán.

 

Sự tín nhiệm của chúng tôi đối với hai người này đă gây ra nhiều hậu quả tại hại, không những cơ quan thông tin bị ảnh hưởng mà cả uy tín tinh thần và chính trị của người Mỹ đối với người Việt Nam cũng bị giảm sút. Làm cho Quang và B́nh trở thành những người giàu có và có thế lực, những điển h́nh về tham nhũng và thoái hoá theo lối Mỹ, chúng tôi đă cung cấp cho cộng sản những vũ khí có hiệu quả nhất để tuyên truyền (tr.22)

 

Để củng bố chính phủ Thiệu, chúng tôi không chỉ đưa hợp tác viên vào trong đó. Trung lập hoá phe đối lập không cộng sản cũng là một phần hoạt động của chúng tôi.

 

Một thí dụ đáng kể là trường hợp Trần Quốc Bửu. Đó là một nhà chính trị chắc chắn thân Mỹ, đứng đầu Tổng liên đoàn lao công Việt Nam. CIA đă biến Bửu thành một hợp tác viên. Chúng tôi sử dụng ông ta để thuyết phục các công đoàn trung thành với chế độ Thiệu, Bửu cũng tuyên truyền cho chính phủ trong những tổ chức lao công trên thế giới. Thỉnh thoảng, CIA lại giúp cả Bửu viết thư xin ủng hộ gửi cho những đoàn viên công đoàn Mỹ.

 

Tất cả những người đối lập với Thiệu không phải đă hiểu t́nh h́nh như Bửu. Khi việc mua chuộc, đút lót, tẩy chay không mang lại kết quả mong muốn. Chúng tôi đă dùng những phương pháp mạnh mẽ hơn. Đó là trường hợp với Trần Ngọc Châu, nhà luật học nổi tiếng, có tinh thần dân tộc, năm 1970, trở thành một đối thủ chính trị uy hiếp Thiệu. Shackley và Colby cùng với cơ quan cảnh sát Nam Việt Nam đă tạo cho ông ta thành một tay chân và cổ động viên của cộng sản. Anh của Châu là cộng sản. Châu đă gặp anh theo yêu cầu của CIA. Như thế tương đối dễ để qui cho ông ta một tội, chỉ cần thêm hoặc bớt một số tài liệu về ông ta trong hồ sơ của cảnh sát. Shackley không phải là người dựng lên vụ này. Đó là hành động bỉ ổi của Quang, người tin cẩn của CIA. Nhưng Shackley không hề ngăn cản mặc dù ông biết rơ sự việc. Do đó, khi chính phủ Nam Việt Nam cho đăng trên báo chí những tội trạng giả tạo của Châu, Shackley và đại sứ Bunker lại khẳng định là đúng. Mấy ngày sau, Châu bị bắt ở hành lang quốc hội, giữa Sài G̣n và bỏ tù ngay. Rơ ràng là vi phạm luật pháp. Là kẻ có tội, Châu bị giam bốn năm, mới được tha đầu năm 1975. Mấy ngày trước khi cộng sản cướp chính quyền, tháng 4, nhiều quan chức CIA đă điện về bộ chỉ huy ở Langley, Virignia, xin phép cho Châu di tản bằng máy bay. Nhưng Shackley, lúc bấy giờ trở thành người chỉ huy của CIA ở Viễn Đông, đă điện về phản đối, viện cớ rằng chưa bao giờ Châu phục vụ lợi ích của Mỹ ở Việt Nam. Thế là Châu bị bỏ rơi, mặc cho số phận. (tr.23)

 

Hoạt động khác của CIA: thu thập tin tức về tŕnh độ của quân đội Nam Việt Nam và tinh thần tác chiến của họ. Người giao thiệp chính của chúng tôi với bộ chỉ huy tối cao Nam Việt Nam là cựu chiến binh dũng cảm tên là Charles Timmes. Ông được khen thưởng trong chiến tranh thế giới lần thứ hai v́ đă chỉ huy sư đoàn dũng cảm thứ 82 là đơn vị đầu tiên đă nhảy dù và chiếm đầu cầu ở Noóc-măng-đi (Pháp) năm 1944. Hollywood đă giao cho một diễn viên lực sĩ đóng vai Timmes trong phim Ngày dài nhất. Thật là một quyết định kỳ cục. V́ Timmes người mảnh dẻ, đi đứng xiêu vẹo, giống như Fred Astaire chứ không giống John Wayne.

 

Từ năm 1962 đến năm 1964, Timmes là Trưởng đoàn cố vấn Mỹ ở Việt Nam, cốt lơi của “Lầu Năm Góc Phương Đông” sau đó. Nhiệm vụ của ông tạo điều kiện cho ông hàng ngày tiếp xúc với những sĩ quan trẻ đầy tham vọng của quân đội Nam Việt Nam. Một số người trong những sĩ quan này, nhất là Nguyễn Văn Thiệu, trở thành những người bạn chí cốt. Nhưng lúc hết nhiệm kỳ th́ ông cũng mệt mỏi về vấn đề Việt Nam và xin nghỉ hưu. Nếu CIA không yêu cầu th́ ông có thể dành vài năm đi du lịch khắp thế giới. Năm 1967, CIA đề nghị với ông một chức vụ mà ông không thể từ chối. Đó là việc ông trở lại Việt Nam, gặp lại những bạn cũ của ông, những sĩ quan Nam Việt Nam. Timmes chấp nhận ngay. Trong suốt cuộc đời của ông làm việc ở CIA cho đến ngày Sài G̣n thất thủ, ông đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Là bạn đánh quần vợt đều đặn với Minh lớn, qua từng ván một, ông đă lượm được nhiều tin tức có giá trị về phe đối lập hợp pháp ở Sài G̣n, kể cả về bản thân Minh lớn. Thường bay luôn về các tỉnh, Timmes đă chắp nối lại những cuộc gặp mặt với nhiều chỉ huy đơn vị Nam Việt Nam mà ông quen biết những năm trước. Mọi người đều quí mến và coi trọng ông như người thân. Họ sẵn ḷng giúp đỡ ông, viết tóm tắt lại những cuộc trao đổi với ông cho chính xác. Kết quả là những bản báo cáo của Timmes gửi cho sứ quán Mỹ, nhờ ông đến tận nơi, trở thành những bản tường tŕnh cực kỳ đúng với những điều quân đội Nam Việt Nam đang mong muốn.(tr.24)

 

Tuy vậy, những người phân tích của CIA, cúng như của Washington, của Sài G̣n đều nghi ngờ những bản báo cáo của Timmes và coi đó chỉ là một quan điểm về một vấn đề hết sức phức tạp. Nhưng dần dần, nguồn tin về quân đội Nam Việt Nam môic ngày một cạn v́ quân Mỹ giảm đi (năm 1970 và 1971) và cố vấn quân sự Mỹ ở nông thôn rút về. Lúc đó, giới cao cấp ở Washington và Sài G̣n mới coi trọng tin tức của Timmes. Những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, đại sứ và giám đốc CIA ở Sài G̣n đi đến mức đọc cho nhau nghe những tin tức của ông và lấy đó làm chứng cớ thật sự cho chính những ảo tưởng của họ.

  

MỘT NGÀY VĨ ĐẠI

 

Mùa Thu, khi trở lại Sài G̣n, tôi trở thành một nhân viên kỳ cựu của CIA và một chuyên gia thông thạo t́nh h́nh Bắc Việt Nam. Địa vị và tiếng tăm của tôi trong chi nhánh không ngừng làm cho tôi ngạc nhiên. Có phải tôi vào làm việc cho CIA năm 1968 là để tránh khỏi phải đi lính đánh nhau ở Việt Nam không? Dù tôi có trở thành một bộ phận trong guồng máy chiến tranh của chính phủ, tôi cũng không là đồng loă, việc này nêu rơ nhược điểm của chế độ Mỹ.

 

Giáo sư gợi cho tôi ư chọn nghề t́nh báo CIA này tỏ ra tôn trọng con người. Sau hai năm học ở khoa các vấn đề quốc tế trường đại học Columbia, tôi có những kiến thức chắc chắn về chiến lược làm cho giáo sư cố vấn khẳng định rằng tôi có đủ năng lực cần thiết để trở thành một cán bộ phân tích của CIA. Triển vọng ấy quyến rũ tôi, không phải v́ những lư do nghề nghiệp hay yêu nước. Mùa Xuân năm 1968, tôi suưt bị bắt lính và tôi nghĩ rằng cách tốt nhất để tránh khỏi phải ra trận ở Việt Nam là gắn số phận tôi với một cơ quan chính phủ quan trọng CIA tỏ ra hiếu khách. Tôi được đào tạo một cách nhanh (tr.25) chóng, trau dồi lư thuyết và bổ nhiệm sang chi nhánh Châu Âu, dưới danh nghĩa chuyên gia các vấn đề của khối Otan. Chỉ mấy tháng, tôi thông thạo công việc. Người Xô viết vào Tiệp Khắc chấm dứt chủ nghĩa cộng sản thoải mái của A. Dubcek. Các đồng minh trong khối Otan của chúng tôi ở Châu Âu hoang mang, cuống cuồng. Viên cố vấn mới của tổng thống về các vấn đề an ninh quốc gia, H.Kissinger, đ̣i chi nhánh gửi tin tức và b́nh luận về cuộc khủng hoảng.

 

Bị chất vấn nhiều quá, tôi chạy vạy suốt mùa Đông. C̣n pḥng động viên thôi không t́m tôi nữa, coi tôi là một người lính mất tích.

 

Sau đó, một số đồng nghiệp của tôi sợ tôi suy sụp v́ nhiều công việc, quyết định cho tôi đi nơi khác. Buổi sáng một ngày thứ hai, một thông trị lấy người đi Việt Nam được gửi đến các pḥng. Không cho tôi biết, bạn đồng nghiệp ghi tên tôi, gửi về ban giám đốc CIA kèm theo những lời khen đáng chư ư. Mấy ngày sau, tôi được biết tôi đă được chấp nhận, đến tháng 6, đổi đi Sài G̣n làm người phân tích “chiến lược của cộng sản”.

 

Việc chuẩn bị cho chuyến đi làm cho tôi quên những ư nghĩ buồn năn, đen tối mà các bạn đồng nghiệp đă tạo nên. Mặt khác, chính sách mới cũng dễ chịu hơn. Cuộc thương lượng ḥa b́nh nữa công khai đă diễn ra ở Paris. Đầu tháng sáu, trước khi tôi lên đường, tổng thống Nixon đă gặp tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu ở Midway để báo cho hắn biết 25.000 quân Mỹ ở Nam Việt Nam sẽ rút đi. Việc giảm số quân này sẽ tạo điều kiện cho cuộc đàm phám có thể tiến triển và chứng tỏ rằng Hoa Kỳ tin tưởng vào quân đội Nam Việt Nam. Đó cũng là bước đầu đi đến cái gọi là chương tŕnh Việt Nam hoá. Thật ra, đó chỉ là việc trao cho quân đội Nam Việt Nam tiến hành phần lớn cuộc chiến tranh.

 

Hai năm đầu từ 1969 đến 1971, đối với tôi không có ǵ đáng lo như tôi tưởng. Thật vậy, công việc của tôi, phần lớn làm riêng biệt, không có người ngoài biết. Chiến tranh chỉ đến với tôi, qua trung gian, thể hiện bằng hàng lô báo cáo t́nh báo, xếp đầy bàn, chuyện nguy hiểm nhất tôi gặp trong những năm ấy là mọt cuộc đánh nhau trong một tiệm nhảy ở Đakao ngoại ô Sài G̣n. (tr.26)

 

Mặc dù chương tŕnh Việt Nam hoá tiến triển nhanh, người Mỹ lúc bấy giờ, vẫn là chủ tấn tuồng. Trong khi đại sứ Bunker và thủ trưởng tôi, Ted Shackley, điều khiển và xâm nhập chính phủ Thiệu, đồng thời đối phó với phái đối lập của ông ta th́ đại tướng C.Abrams phụ trách kẻ thù kia. Chiến lược của ông ta là mau chóng b́nh định tiếp theo những cuộc bắn phá dữ dội và tốn kém do tướng W.Westmoreland tiến hành từ năm 1965. Muc tiêu chính của chiến lược mới này là phá cơ sở hạ tầng của đối phương và những con đường tiếp tế từ Bắc Việt Nam vào. Chiến lược được tiến hành lên tới đỉnh cao hồi đầu năm 1970 khi quân Mỹ phối hợp với quân Nam Việt Nam đánh vào đất thánh cộng sản ở miền Đông Campuchia. Norodom Sihanouk, người lúc nào cũng phản đối sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ, bị đánh đổ. Tổng thống mới của nước Campuchia, hoàng thân Lonnol, không nói ǵ về việc này.

 

Cuộc hành quân vào Campuchia chỉ có một kết quả đáng kể. Nhờ những tài liệu thu lượm được và nhờ sự hợp tác đều đặn với Lonnol, CIA và Lần Năm Góc ít lâu sau, thấy ngay rằng trong nhiều năm họ đă lầm. Con đường tiếp tế cho các lực lượng cộng sản ở Campuchia và phía Nam Nam Việt Nam không phải là con đường ṃn Hồ Chí Minh chạy đến phía Nam Lào (do đó có những cuộc ném bom dữ dội ở vùng này) Theo những tin tức thu nhập ở Campuchia năm 1970 th́ 80% vũ khí và dụng cụ chiến tranh là do các tàu nhỏ của Bắc Việt Nam chở vào và bốc dỡ ở cảng Sihanoukvile của Campuchia. Sự khám phá này làm cho mọi người sửng sốt, nhất là đối với các nhân viên CIA để có những lập luận ngược lại. Nhưng họ đă lầm nếu họ sợ hăi. V́ không một ai, sau đó, bị thi hành kỷ luật về sự nhầm lẫn này. Và những người sai nhất lại trở thành thủ trưởng và phó thủ trưởng của những cơ quan phân tích của CIA.

 

Tháng 2 năm 1971, gần một năm sau cuộc xâm lược Campuchia, người Nam Việt Nam muốn kiếm một thắng lợi của Abrám, tự họ mở cuộc tiến công vào những con đường tiếp tế của cộng sản ở Nam Lào. Chiến dịch, gọi là “Lam Sơn 719” bị sa lầy ngay từ đầu. Người Bắc Việt Nam, chiến đấu trên một (tr.27) chiến trường quen thuộc, đưa bốn sư đoàn đến bao vây và đánh cho quân đội Nam Việt Nam tan tác, mặc dù người Mỹ đă ném bom dữ dội.

 

Cuối cùng, công cuộc b́nh định, dù cho người Việt Nam hay người Mỹ tiến hành, đều không có kết quả. Chiến dịch Lam Sơn gây cho Hoa Thịnh Đốn sự nghi ngờ về khả năng chiến đấu một ḿnh của quân đội Nam Việt Nam. Mặc dù đại tướng Abrams, với sáng kiến của ông, đă mở rộng được vùng do quân chính phủ kiểm soát ở những nơi tranh chấp trước kia ở đồng bằng Nam Việt Nam cũng như ở dọc biên giới, nhưng kết quả ấy vẫn báo hiệu sự sụp đổ của Thiệu. Thật vậy, lực lượng Nam Việt Nam đă tan ră một cách hết sức nguy hiểm ngay lúc quân Mỹ chuẩn bị rút về nước.

 

Cùng với chiến dịch Lam Sơn, cuộc xâm lược Campuchia và chính sách b́nh định cấp tốc, trong hai năm đầu ở Sài g̣n, tôi c̣n chứng kiến những cuộc thương lượng bí mật để đưa đến một nền ḥa b́nh giả dối ở Việt Nam. Mở đầu cuộc đàm phán, thái độ của người Mỹ không phải là một kiểu mẫu của sự cứng rắn. Đầu năm 1969, những ngày đầu dưới chính quyền Nixon. Kissinger bí mật báo cho Liên Xô biết rằng Hoa Kỳ sẵn sàng xoá sạch Hà Nội khỏi bản đồ để bảo vệ Nam Việt Nam không rơi vào tay cộng sản. Mấy tuần sau, như là để cụ thể hoá lời đe dọa ấy, Nixon cho mở một chiến dịch ném bom, vào những cơ sở của cộng sản ở miền Đông Campuchia.

 

Mặc dù bước mở đầu tồi tệ ấy, Kissinger và Lê Đức Thọ, người thương lượng chính của Hà Nội, vẫn gặp nhau trong tháng tám để đàm phán bí mật. Thoạt tiên, cuộc thảo luận không có kết quả. Điều kiện tiên quyết của Bắc Việt Nam là Nguyễn Văn Thiệu phải ra đi.

 

Nhưng mùa Xuân năm 1972, lúc tôi hoàn thành nhiệm kỳ thứ nhất, t́nh h́nh quốc tế bao quanh cuộc đàm phán bắt đầu thay đổi. Kissinger đạt được một số tiến bộ trong cuộc thảo luận với Liên Xô về vấn đề hạn chế vũ khí chiến lược. Việc dàn xếp cho chuyến đi bí mật đầu tiên của ông ta sang Bắc kinh đă xong. Ở Nam Việt Nam, số quân Mỹ từ năm trăm ngh́n người năm 1969, đă rút xuống c̣n ba trăm ngh́n người. Chương tŕnh (tr.28) Việt Nam hoá với công thức lính Nam Việt Nam cộng với vũ khí Mỹ được tiến hành. Kissinger nghĩ rằng có cơ hội để Bắc Việt Nam tỏ ra “ít cứng rắn” hơn chung quanh bàn đàm phán. Do đó, trong mùa Thu và mùa Đông, ông bắt đầu tỏ ra “mềm mỏng hơn” trong các cuộc thương lượng, hy vọng rằng người Bắc Việt Nam sẽ thật ḷng nói chuyện. Không đưa ra điều kiện đ̣i quân đội Bắc Việt Nam, rút khỏi nước này với điều kiện Hà Nội ngừng bắn trên khắp chiến trường Đông Dương và thả tù binh Mỹ.

 

Lê Đức Thọ lắng nghe nhưng không hề xúc động như Kissinger bằng mong muốn. Sự “mềm dẻo” của Mỹ được đánh giá là một sự giảm sút về ư chí và Bộ Chính  trị Bắc Việt Nam quyết định thử nghiệm một lần cuối cùng, mở một cuộc tiến công mới vào Sài g̣n. Quyết định ấy được khuyến khích v́ sự thất bại của quân đội Nam Việt Nam ở Nam Lào hồi đầu năm. Thất bại này cũng chứng tỏ cho những người cứng rắn ở Hà Nội biết rằng chương tŕnh Việt Nam hoá không có lết quả. Trong thời kỳ ấy, tôi hoàn thành nhiệm kỳ thứ nhất ở Việt Nam. Tôi trở về trụ sở ban giám đốc CIA mà từ đó tôi được coi là người phân tích chính về chính sách của Hà Nội. Mặc dù có chức vụ oai vệ ấy, tôi không hề được biết những điều bí mật trong cuộc đàm phán của Kissinger. Gần như không một ai ở CIA được biết cả. Nhưng tôi có thể rút ra những kết luận qua những tin tức từ Sài G̣n gửi về.

 

Cuối mùa Thu, luận điệu và nội dung bản báo cáo ngày càng bi đát, nhiều bạn đồng nghiệp kết luận cùng tôi rằng một cuộc tiến công quan trọng của quân đội Bắc Việt Nam đang được chuẩn bị. Nhưng các thủ trưởng của tôi ở CIA, luôn luôn thận trọng, không đồng ư như thế và quyết định hỏi lại Kissinger về những kết luận của chúng tôi, trước khi lấy làm quyết định chính thức của CIA. Kissinger bận về các cuộc thương lượng và không thể nghĩ rằng Bắc Việt Nam lại dám mở cuộc tiến công. Do đó, suốt mùa Thu và đầu mùa Đông, các thủ trưởng ở CIA của chúng tôi, đă chặn lại và giữ bí mật hay thay đổi mọi điều kiện phân tích nêu rơ những việc Bắc Việt Nam đang làm. (tr.29)

 

Trong lúc ấy, Kissinger đ̣i tất cả các cơ quan cung cấp tin tức cho biết cách làm sao Bắc Việt Nam phải nhượng bộ. CIA và Lầu Năm Góc cùng nên ư kiến ám sát hoặc bắt cóc một số nhân vật Bắc Việt Nam. Họ cho rằng việc đó sẽ gây rối loạn ở Hà Nội và những người sống sót buộc phải cúi đầu tuân theo những đ̣i hỏi của Mỹ. Được hỏi về triển vọng của âm mưu này, các bạn đồng nghiệp và tôi cười đến phát điên. Trước đây, đă có một sự kiện tai hại. Năm 1970, quân đội đă cho quân nhảy dù xuống một trại tù binh Mỹ ở ngoại ô Hà Nội (Sơn Tây). Không nắm được tin tức và t́nh h́nh ở thủ đô Bắc Việt Nam nên chúng tôi không nhảy dù đúng vào trại tù binh th́ làm thế nào chúng tôi có thể đến được nơi ở của các nhà lănh đạo Đảng mà bắt cóc họ?

 

 Ngày 17 tháng 2 năm 1972, trong khi Nixon chuẩn bị đi Bắc Kinh, th́ Kissinger gửi một thông điệp cho Hà Nội, trong đó ông ta đề nghị nối lại cuộc đàm phán bí mật ngay trong tháng. Ông muốn rằng cuộc gặp mặt lịch sử đầu tiên giữa hai người đứng đầu nhà nước Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể gây cho Bộ Chính trị Bắc Việt Nam một thái độ ôn hoà. Nhưng theo cách của họ, người Bắc Việt Nam đă bác bỏ và hẹn nối lại cuộc đàm phán vào giữa tháng 4.

 

Ở Sài G̣n, địa vị của Nguyễn Văn Thiệu ngày càng lung lay. Trái với người Mỹ đầy kinh nghiệm, Thiệu không lấy làm khó chịu khi nghĩ đến cuộc tổng tiến công mới của quân đội Bắc Việt Nam. Cuối mùa Đông, Thiệu và bộ tổng tham mưu của ông ta đi đến kết luận rằng Bắc Việt Nam đang chuẩn bị một cuộc đánh ồn ạt qua vùng phi quân sự, vào các tỉnh ở phía Bắc nước này. Hồi ấy, các cơ quan t́nh báo Mỹ ở Sài G̣n và ở Hoa Thịnh Đốn bắt đầu nghi ngờ về những điều dự đoán của ḿnh. Tuy nhiên, nếu họ bắt đầu cho là có khả năng Hà Nội mở một cuộc tiến công quân sự  th́ họ lại nghi ngờ những điều phán đoán của Thiệu. Họ khẳng định rằng nếu có một cuộc tiến công th́ đó là ở Tây Nguyên, về phía Tây và ở đồng bằng, về phía Nam.

 

Ngày thứ sáu thánh 31 tháng 3 năm 1972, bốn sư đoàn quân đội Bắc Việt Nam tiến qua khu phi quân sự, như Thiệu đă dự đoán (tr.30) rất đúng. Những người Mỹ có trách nhiệm lấy làm bằng ḷng v́ đă đưa được một người sáng suốt lên cầm quyền. Và họ quên ngay những điều tính toán sai lầm của họ trước đó.

 

Cuộc tiến công của cộng sản diễn ra trên khắp miền Nam Việt Nam chỉ mấy tuần sau khi Nixon từ Bắc Kinh trở về, giữa sự chuẩn bị chu đáo cho một cuộc gặp mặt cấp cao mới ở Mátcơva vào tháng 5. Sự trùng hợp ấy làm cho Nhà Trắng phải tự đặt những câu hỏi hắc búa về ảnh hưởng đối với Hà Nội của những trao đổi giữa Mỹ và Trung Quốc.

 

Trong những tuần đầu của chiến dịch, quân đội Bắc Việt Nam thắng lợi vang dội: Chính phủ Hoa Kỳ đứng trước một t́nh thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan; cam thiệp thế nào để cứu chính phủ Sài G̣n mà không làm gián đoạn cuộc họp cấp cao với Liên Xô đă gần tới. Kissinger đưa ra một chiến lược hai mặt: một mặt, ông yêu cầu Lầu Năm Góc soạn thảo một kế hoạch ném bom dữ dội nhằm những mục tiêu quân sự ở phía Bắc vĩ tuyến 20, đồng thời thả ḿn ở cảng Hải Pḥng. Mặt khác, ông quyết định đi thương lượng với Liên Xô. Trong cuộc đi hết sức bí mật đến Mátxcơva ngày 20 tháng 4, ông thực hiện kế hoạch hai. Ông nêu rơ với lănh tụ Đảng Liên Xô, ông Leonid Brejuev rằng Hoa Kỳ đưa một ư đồ mới lên bàn thương lượng: Hoa kỳ không đ̣i quân đội Bắc Việt Nam phải rút khỏi miền Nam Việt Nam nữa nếu người Bắc Việt Nam từ bỏ yêu sách đ̣i Thiệu phải ra đi.

 

Không có điểm nào trong vấn đề này được thông báo cho những người phân tích của CIA. Chỉ có một số nhà chính trị ở Hoa Thịnh Đốn biết. Đối với Thiệu, Kissinger không hề cho ông ta biết tin ǵ, nhất là tin về cuộc đàm phán bí mật có thể thay đổi tương lai của nước Việt Nam.

 

Ngày 2 tháng 5, Lê Đức Thọ bí mật gặp Kissinger ở Paris. Cuộc thảo luận không chấm dứt Henry Kissingerđược cuộc khủng hoảng chính trị và đi vào ngơ cụt. Lúc đó, v́ quân đội Bắc Việt Nam đang làm chủ chiến trường. Kissinger rời Paris với định kiến rằng Hoa Kỳ cần phải có một sáng kiến táo bạo mới làm cho Bắc Việt Nam “biết điều” hơn. (tr.31)

 

Tổng thống Nixon nghiêng về những cách giải quyết của Lầu Năm góc như thả ḿn và ném bom. Trong một loạt buổi họp của Hội đồng an ninh quốc gia, người ta hỏi ư kiến các đại diện các cơ quan ở Hoa Thịnh Đốn về hiệu quả của biện pháp trên và ảnh hưởng của những hành động ấy đối với mối bang giao giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Những cuộc thảo luận rất sóng gió và về vấn đề nêu ra đă tạo cho một sự rạn nứt ngay trong nội bộ CIA. Những cán bộ phân tích tại chỗ như tôi, không thể nào h́nh dung được rằng việc bao vây cảng Hải Pḥng lại có ảnh hưởng lớn đến cuộc chiến tranh v́ phần nhiều viện trợ của bên ngoài cho Bắc Việt Nam đều được chuyên chở bằng xe lửa chạy qua Trung Quốc. Nhưng một số nhân viên cao cấp của CIA có quan hệ chủ yếu với giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn hiểu rằng Nixon muốn đi đến đâu và họ đă ủng hộ ông ta.

 

Nixon, chắc chắn là người quyết định cuối cùng theo lôgic đặc biệt kiểu Nixon. Ông giải thích với các cố vấn rằng ông không thể đi Matxcơva nếu không bắt đầu tỏ cho Liên Xô biết rằng Hoa kỳ không thể để bị coi là nhút nhát. Do đó, ngày 8 tháng 5, ông công khai báo tin máy bay lần đầu tiên từ cuối năm 1968, trở lại ném bom bên trên vĩ tuyến 20.

 

Tuyên bố của ông có ảnh hưởng như một quả bom nổ ở Mỹ. Nó gây ra một làn sóng phản đối...

 

Cuộc gặp mặt cấp cao ở Matxcơva diễn ra đúng như đă định và Kissinger cho rằng trong những buổi họp sau cùng, không khí có phần thuận lợi cho một sáng kiến ḥa b́nh Việt Nam. Ông nói với Liên Xô: Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ném bom Bắc Việt Nam trước khi các tù binh được thả nếu Hà Nội đồng ư từ bỏ việc đ̣i Thiệu phải ra đi.

 

...Giữa tháng 7, tin tức cho biết Hà Nội có sự thay đổi trong các cuộc thương lượng. Đôi khi, một sự đảo lộn hoàn toàn. Theo các báo cáo của t́nh báo chúng tôi, quân đội cộng sản ở miền Nam Việt Nam đă bắt đầu thảo luận kế hoạch ngừng bắn - việc truất quyền Thiệu không c̣n là điều kiện đầu tiên trong các điều kiện nữa. Các nguồn tin của CIA (tr.32) cũng cho biết Trung Quốc mới khuyên Hà Nội giảm bớt những đ̣i hỏi chính trị để đi đến kư kết hiệp định. Mặt khác, bản thân cuộc tiến công của cộng sản cũng chậm lại v́ những trận ném bom của Mỹ vào các vùng phía Bắc nước này. Lợi dụng t́nh h́nh ấy, Kissinger đẩy nhanh nền ngoại giao bí mật và gặp ông Lê Đức Thọ một lần nữa ở Paris ngày 19 tháng 7 để đưa ra lập trường mới của Hoa Kỳ. Mấy ngày sau ông đi Sài G̣n để nói cho Thiệu biết những sự kiện đă xảy ra. Nhưng, như thói quen của ông, ông không thật thà với Thiệu cũng như không thật thà với cộng sản. Ông không nói ǵ đến chủ trương của Mỹ về sự có mặt của quân đội Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam, sau khi ngừng bắn.

 

Ở bộ tham mưu CIA, tôi và các bạn đồng nghiệp không có ai tham gia vào quỉ kế ấy. Mùa Hè qua, những tin tức thu lượm được từ bộ chỉ huy cộng sản tiếp tục chỉ rơ rằng có một sự thay đổi trong lập trường chính trị của Hà Nội. Một số người trong chúng tôi bắt đầu tin rằng có khả năng cuộc đàm phán đi đến kết quả.

 

Nhưng một lần nữa, một số quan chức cao cấp CIA lại cho là ḿnh khôn ngoan hơn. Cũng như chúng tôi, họ không biết ǵ về hoạt động của Kissinger nhưng họ cho rằng những cuộc thương lượng công khai tạm ngừng là một hàn thử biểu có thể tin cậy. Tôi tự hỏi: Thế th́ người ta đào tạo cán bộ cho Nam Việt Nam để làm ǵ? Thủ trưởng trực tiếp của thuyết phục tôi: “Trên chiến trường, quân cộng sản không thắng lợi như họ hằng mong muốn, do đó họ lợi dụng triển vọng của nền hoà b́nh sắp tới để nâng cao tinh thần quân đội họ”.

 

Không c̣n nghi ngờ ǵ là Kissinger có vẻ ngạc nhiên và thú vị với lời giải thích ấy. Đầu tháng 8, Kissinger và ông Lê Đức Thọ đạt được nhiều tiến bộ trong những cuộc hội đàm bí mật nên Kissinger quyết định bắt đầu phổ biến cho Thiệu để ông ta khỏi bất ngờ. Tướng A.Haig, người đại diện cho Kissinger được cử đi Sài G̣n báo tin lành ấy.

 

Theo người đă dự cuộc gặp gỡ ở Sài G̣n, Thiệu rất sửng sốt về những điều được phổ biến, tuy Haig không nói (tr.33) ǵ về sự có mặt của quân đội Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam nhưng ông nói quá nhiều vấn đề làm cho Thiệu hiểu rằng ông đă bị bỏ rơi.

 

Lúc Haig trở về Hoa Thịnh Đốn, ông báo cho Kissinger biết rằng Thiệu phản đối giải pháp. Nhưng Kissinger không phải là con người chịu chấp nhận sự bi quan. Rơ ràng là ông cho rằng mối quan hệ ngày càng thân thiện giữa Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc cho ông ta thời cơ duy nhất để đưa chiến tranh đến kết thúc tốt đẹp và ông không để cho Thiệu làm hỏng. Khi nghe Haig báo cáo, ông chỉ nhún vai và quyết định đi Matxcơva ngày 10 tháng 9, tiếp sau là một cuộc hội đàm bí mật nữa với ông Lê Đức Thọ ở Paris.

 

Bắc Việt Nam vừa có một quyết định rất quan trọng. Cuối tháng 8, Bộ Chính trị của Đảng đi đến kết luận rằng mặc dù cuộc chiến tranh dẫm chân tại chỗ, họ có thể có lợi nếu tạo cho nền ngoại giao của Kissinger một triển vọng và Hoa Kỳ sẽ không dành cho họ những điều kiện tốt hơn một khi Nixon được bầu lại làm tổng thống tháng 11, điều dự đoán mà họ chắc chắn là đúng. Hà Nội đưa tin công khai và rơ ràng rằng họ chấp nhận những đ̣i hỏi cơ bản của Kissinger. Phát biểu ư kiến trên đài phát thanh trong nước, thủ tướng Phạm Văn Đồng nói giống như những người truyền tin cộng sản Nam Việt Nam hồi giữa tháng 6. Ông hết sức tránh việc nêu tên Thiệu trong bảng liệt kê những đ̣i hỏi của cộng sản trong các cuộc thương lượng hoà b́nh.

 

May thay, cuối tuần ấy, bản dịch bài diễn văn của thủ tướng Phạm Văn Đồng, được đưa đến bộ tham mưu CIA, lúc ấy chỉ có tôi là cán bộ duy nhất của chi nhánh Việt Nam đang làm việc. Sau khi đọc bài diễn văn nhiều lần, tôi gọi dây nói đến nhà thủ trưởng trực tiếp của tôi. Tôi nói với ông rằng, đó là dấu hiệu mà chúng ta chờ đón. Ông trả lời, sẽ đến.

 

Chúng tôi cùng nhau phân tích toàn bộ bài diễn văn, sẵn sàng tŕnh bày trước hội nghị hàng ngày của tổng thống, vào hồi 16 giờ. Trong kết luận, chúng tôi nhấn mạnh một cách rơ ràng rằng không có điều kiện. Thiệu phải rút lui trong một loạt đ̣i hỏi của cộng sản để nối lại các cuộc đàm phán hoà b́nh. (tr.34) Điều đó có thể là một sự thay đổi trong lập trường chính trị của Hà Nội.

 

Sáng hôm sau, trời đổ sụp xuống đầu chúng tôi. Nhiều quan chức cao cấp của chi nhánh liên tiếp gọi dây nói cho tôi. Họ kết tôi đă lừa họ, khi tôi đưa ra tin trái hẳn với tin chiều thứ bảy mà không có một ai trong họ ở đấy để thẩm tra. Mặc dù có thủ trưởng trực tiếp của tôi ở đấy can thiệp và nói rằng, ông chịu trách nhiệm một phần trong việc soạn thảo báo cáo, nhưng không một ai thay đổi thái độ đối với tôi. V́ tôi bảo vệ luận điểm cho rằng có thể mở đường tiến tới hoà b́nh từ nhiều tuần qua nên tôi trở thành người chịu trách nhiệm duy nhất về bản báo cáo.

 

Trong 24 giờ tiếp sau, giám đốc chi nhánh CIA ở Việt Nam ra lệnh cấm tôi không được phân tích bất cứ điều ǵ và tôi sẽ phải nhận một việc khác ở một chi nhánh khác.

 

Nhiều ngày sau, ngày 10 tháng 9, Kissinger đến Matxcơva như đă định. Ông Brejnew khẳng định với Kissinger ba ngày sau rằng bài diễn văn của thủ trưởng Phạm Văn Đồng và một bản tuyên bố tương tự của Việt cộng, sẽ chỉ rơ sự thay đổi trong những đ̣i hỏi của cộng sản về cuộc đàm phán. Việc Thiệu ra đi không c̣n là điều kiện đầu tiên cho việc ngừng bắn, cho việc thả tù binh Mỹ.

 

Tin vào những điều bảo đảm ấy, Kissinger tiếp tục cố gắng để đi đến một cuộc dàn xếp trước cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ, được tổ chức hai  tháng sau đó. Trong hai tuần tiếp theo, Kissinger bí mật gặp ông Lê Đức Thọ nhiều lần ở Paris. C̣n tôi, thoát khỏi công việc về Việt Nam, tôi chỉ c̣n được phép biết những loại tin tức từ chiến trường gửi về. Tôi dành phần lớn th́ giờ trong tháng 9 để đọc truyện t́nh báo ở thư viện của CIA và ngắm nh́n đám trẻ con nhảy trên đồi sau đồn điền cà phê.

 

Đến cuối tháng, một người bạn thân của tôi, chịu trách nhiệm về công việc t́nh báo ở Việt Nam, tỏ ḷng thương hại tôi: “Cậu nghĩ thế nào về việc tạm thời ở Sài G̣n, phụ trách việc giải đáp một nhóm tù binh chiến tranh?”

 

Mất đúng bốn ngày mới làm xong thủ tục khám sức khoẻ và làm các giấy tờ cần thiết để rời pḥng làm việc cũ. Ngày (tr.35) 2 tháng 10, tôi vượt Thái B́nh Dương đến làm việc lần thứ hai và lần cuối cùng tại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài G̣n”.

 

Tôi bắt đầu làm quen với chức vụ mới lúc triển vọng của hoà b́nh đă h́nh thành ở Paris. Ngày 8 tháng 10, ông Lê Đức Thọ đưa ra đề nghị mới trong đó không có việc Thiệu rút lui. Trong gần bốn ngày, mọi vấn đề quan trọng bậc nhất đều được giải quyết. Mặc dù có một số trở ngại nhỏ, ông Thọ và Kissinger tỏ ra tin tưởng rằng những trở ngại cuối cùng có thể giải quyết nhanh. Cuối buổi hội đàm, ông Thọ đề nghị ngày 31 tháng 10 sẽ tổ chức lễ kư kết và ban hành lệnh ngừng bắn, hy vọng rằng ḥa b́nh sẽ đến trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ. Kissinger nhận bay đi Hà Nội ngày 24 tháng 10 để kư tắt dự thảo hiệp định và bảo đảm những điều cam kết của Hoa Kỳ.

 

Trong những ngày sau, Kissinger gửi một thông tri cho bộ tham mưu CIA hỏi về phản ứng của Thiệu trước cuộc ngừng bắn. Các bạn đồng nghiệp cũ của tôi ở Việt Nam c̣n nghi ngờ về những điều sẽ xảy ra, vội vàng trả lời Kissinger. Họ nói: Thiệu không bao giờ nhận một hiệp định trong đó ghi một điều khoản thoả hiệp chính trị với cộng sản hay chấp nhận việc quân đội Bắc Việt Nam ở lại miền Nam. Kissinger đọc đi đọc lại bức điện trả lời, rồi để gạt nó ra một bên với một cử chỉ nóng nảy: “Quá bi quan!” Ông ta trở về nhà, sửa soạn hành lư đi Sài G̣n định giành cho được một câu trả lời chắc chắn.

 

Nếu Kissinger không tỏ ra bối rối về kết luận của CIA th́ trái lại có một người ở Nhà Trắng lại tỏ ra không yên tâm: đó là bản thân Nixon. Ông càng nghĩ đến những đề nghị thoả thuận do Kissinger đưa ra với ông Lê Đức Thọ bao nhiêu th́ ông càng khẳng định rằng những cử tri Mỹ bảo thủ nhất sẽ coi ông là một kẻ đầu hàng. Ông không thấy lư do để phải lao vào một cuộc tranh cử có bóng đen trên đầu ḿnh. Ông quyết định lợi dụng sự bướng bỉnh của Thiệu làm cớ để chỉ đưa ra những điều đă thoả thuận vào lúc thích hợp.

 

Trong lúc đó, ở Sài G̣n, Thiệu kịch liệt phản đối bằng mọi cách những người Mỹ đă che chở ông. Trong những buổi họp đầu với Kissinger giữa tháng 10, Thiệu bác bỏ toàn bộ dự (tr.36) thảo hiệp định. Đặc biệt, ông tỏ ra hằn học với điều khoản cho phép quân đội Bắc Việt Nam được ở lại miền Nam sau ngừng bắn. Điều này, trước đó, chưa ai nói với ông ta. Mỗi ngày, Kissinger lại đe doạ một ít, phỉnh phờ một ít mong Thiệu thay đổi thái độ. Cuối cùng ngày 23 tháng 10, Kissinger phải công nhận trước những người cộng sản rằng ông không có một hy vọng nào làm cho người Nam Việt Nam bằng ḷng ngừng bắn tám ngày sau đó như đề nghị của Hà Nội. Kissinger gửi một thông điệp cho thủ đô Bắc Việt Nam để bỏ chuyến đi Hà Nội và để bảo vệ những chiếc cầu chính trị ông đă xây dựng. Ông gửi cho tổng thống Nixon một bức điện đề nghị bỏ những cuộc ném bom từ vĩ tuyến 20 trở lên, làm cho Hà Nội có thể hiểu rằng bao giờ Hoa Kỳ cũng mong muốn ḥa b́nh.

 

Trước khi Kissinger rời Sài G̣n ít lâu, một trong số nhân viên tin cẩn nhất của CIA, đưa cho chúng tôi bản tài liệu, ghi rơ từng chữ một, những điểm thương lượng mà ông Lê Đức Thọ đưa ra ở Paris ngày 8 tháng 10. Đó là bản thảo bài nói chuyện tại cơ quan chỉ huy cộng sản ở vùng đồng bằng. Khi Tom Polgar, giám đốc mới của CIA ở Sài G̣n đưa bản tài liệu cho Kissinger, viên cố vấn của tổng thống há hốc mồm. Ông ta kêu lên: Làm thế nào ông có tài liệu này? Polgar nói với ông về nguồn tài liệu và hỏi liệu tin tức ấy có đúng không. Kissinger công nhận là “gần đúng”.

 

Nhờ tài liệu ấy mà phần lớn chúng tôi, quan chức CIA và sứ quán ở Sài G̣n, ở Hoa Thịnh Đốn, lần đầu tiên biết được những tiến bộ mà Kissinger đạt được trong nền ngoại giao bí mật. Không phải chỉ riêng chúng tôi biết; trong những buổi họp sóng gió với Kissinger cuối tháng 10, những người Nam Việt Nam đă đương đầu với ông v́ nhân viên t́nh báo của họ cũng kiếm được các bản sao những đ̣i hỏi của ông Lê Đức Thọ. Do đó Thiệu và những người cộng tác với ông ta đă có thể biết Kissinger đă nói dối họ vào lúc nào. Họ có thể đối phó với mỗi bước ngoặt.

 

Khi Kissinger nói với người Bắc Việt Nam rằng không thể hy vọng ngừng bắn vào tháng 10, th́ người Bắc Việt Nam cho ngay đó là một sự lừa đảo. Họ quyết định công khai hoá biên (tr.37) bản những cuộc hội đàm để vạch rơ trách nhiệm của Hoa Kỳ. Ngày 26 tháng 10, Đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải phóng, đọc toàn văn tài liệu về cuộc đàm phán ngày 8 tháng 10. Họ phê phán thái độ bất tín của Hoa Thịnh Đốn. Kissinger nhận định ngay rằng người Bắc Việt Nam không hiểu ông ta. Sáng hôm sau, trong cuộc họp báo ở Hoa Thịnh Đốn, ông cố làm cho các nhà báo hiểu rằng những điều nghi ngờ của Bắc Việt Nam không có cơ sở “Hoà b́nh đă ở trong tầm tay”, ông ta khẳng định với các nhà báo có mặt như thế. Những người này hơi lấy làm ngạc nhiên. Tiếp đó, Kissinger nhấn mạnh rằng mấy buổi họp chung quanh bàn thương lượng không thể dẫn đến một hiệp định dứt khoát.

 

Trong lúc đó, Kissinger và Nixon quyết định đưa cho Thiệu một món quà phụ để ông ta nhận thoả hiệp, đó là một cầu hàng không tiếp tế lớn, theo luật Rehausser. Ngoài ra, c̣n trang bị lại cho quân đội của Thiệu để đổi lấy sự hợp tác của ông ta. Ngày 9 tháng 11, chỉ hai ngày sau khi Nixon thắng cử vang dội, tướng Haig đến Sài G̣n để đ̣i nợ của Hoa Thịnh Đốn. Ông nói với Thiệu, chính phủ Mỹ mong ông đồng ư ngay với bản hiệp định vừa đưa ra. Ông c̣n báo cho Thiệu biết, dù ông ta có tán thành bản hiệp định hay không, Nixon vẫn kư bản dự thảo khi Kissinger và ông Lê Đức Thọ đă hoàn thành những chi tiết cuối cùng, chắc chắn là vào ngày 5 tháng 10.

 

Hai ngày sau, Nixon gửi một bức thư dài riêng cho Thiệu, trong đó ông nhắc lại và viết một cách cứng rắn hơn những điều Haig đă nói. Nixon viết thêm: “Ông có sự bảo đảm tuyệt đối của tôi nếu Hà Nội không tôn trọng những điều khoản của hiệp định, tôi có thể thực hiện lập tức những cuộc trả đũa...” Câu ấy báo trước rằng Hoa Kỳ không rút khỏi miền Nam Việt Nam sau chiến tranh. Một sự cam kết mà quốc hội Hoa Kỳ chưa bao giờ được hỏi ư kiến.

 

Khi Kissinger gặp lại ông Lê Đức Thọ cuối tháng 11, ông khôn ngoan đưa cuộc đàm phán đi theo một hướng khác, tất nhiên v́ quyền lợi của Thiệu. Ông đặt cho người đối thoại hơn 60 câu hỏi phụ nữa nói là của người Nam Việt Nam và 44 điều thay đổi của riêng ông. Ông Lê Đức Thọ hỏi lại một vài (tr.38) điều thay đổi nhưng không trả lời những câu hỏi khác do Kissinger đưa ra. Thực tế, trước mỗi điều thay đổi, ông dần dần biết rơ mưu đồ thật sự của Kissinger. Người Mỹ muốn tranh thủ thời gian để trang bị lại cho quân Nam Việt Nam trước khi ngừng bắn. Ngày 25 tháng 11 ông Thọ không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, đề nghị tạm thời hoăn cuộc đàm phán để xin chỉ thị của Hà Nội.

 

Ở Nam Việt Nam, lực lượng chính phủ lợi dụng ngay việc hoăn cuộc đàm phán để mở rộng việc lấn đất. Giữa lúc ấy, Kissinger trở lại Hoa Thịnh Đốn để xem xét lại những đề nghị khác nhau có thể đưa đến việc kết thúc các cuộc thương lượng. Một trong những tài liệu do Hội đồng an ninh quốc gia đưa ra là: ư kiến lại mở một cuộc tiến công chống Hà Nội, ném bom ngay thủ đô để buộc Bắc Việt Nam phải chấp nhận giải quyết cuộc chiến tranh. Một giải pháp cũ cho một vấn đề cũ. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, nó có cái lợi là làm cho Thiệu tin rằng Hoa Kỳ không có ư định bỏ rơi ông ta.

 

Đầu tháng 12, khi ông Lê Đức Thọ trở lại Paris để nối lại cuộc đàm phán riêng với Kissinger, ông tỏ ra lạnh nhạt với dự thảo hiệp định mới của Hoa Kỳ. Thái độ đó làm cho Kissinger càng khẳng định thêm rằng Hà Nội định kéo dài thêm cuộc thương lượng để cho lực lượng của ḿnh tiến công quân đội Nam Việt Nam. Ngày 14 tháng 12, sau một cuộc tranh luận ráo riết không đi đến kết quả, ông Thọ một lần nữa, đề nghị hoăn cuộc đàm phán để trở về Hà Nội. Mấy ngày sau Kissinger cũng rời Paris, để cho ông phó trưởng đoàn W. Sullivan tiếp tục thảo luận dự thảo hiệp định với những nhà thương lượng thứ yếu của Bắc Việt Nam.

 

Ngày hôm sau, Sullivan điện về Hoa Thịnh Đốn báo tin rằng những cuộc thảo luận gọi là kỹ thuật ấy, đi vào bế tắc. Lúc ấy, Nixon và Kissinger nhận định rằng thời gian để tỏ ra cứng rắn đă đến. Quá trưa, Hà Nội nhận được một thông điệp nhạt nhẽo của tổng thống Hoa Kỳ. Thông điệp viết: nếu người Bắc Việt Nam không nhận đàm phán một cách nghiêm chỉnh th́ 72 giờ nữa, Hoa Kỳ sẽ ném bom trở lại từ vĩ tuyến 20 trở lên. (tr.39)

 

Ngày 18 tháng 12, thời hạn do Nixon đề ra đă chấm dứt. Hàng loạt máy bay B.52 bay đến miền Bắc, ném bom xuống ngay những căn cứ quân sự ở Hà Nội và Hải Pḥng. Người Mỹ nói rằng những thành phố, cho đến lúc bấy giờ chưa hề là mục tiêu đánh phá. (Điều này không đúng. Mỹ đă ném bom Hà Nội và Hải pḥng nhiều lần và kể cả lần này, đều ném bom xuống những vùng dân cư).

 

Cùng lúc ấy, tướng Haig được cử đến Sài G̣n đem theo tối hậu thư: Nếu Thiệu khăng khăng từ chối kư dự thảo hiệp định ghi những nét lớn th́ Hoa Kỳ cắt mọi viện trợ cho Nam Việt Nam và kư một hiệp định riêng với Bắc Việt Nam.

 

Bị xúc phạm, nhưng Thiệu vẫn tỏ ra bất tri. Người Bắc Việt Nam hiểu biết nhiều hơn. Sau 12 ngày ném bom, nhiều máy bay B.52 bị bắn rơi, nhiều phi công Hoa Kỳ bị bắt và chết, miền Bắc cũng bị thiệt hại, Hoa Kỳ buộc phải ngừng bắn và hứa thảo luận nghiêm chỉnh dự thảo cũ về hiệp định Paris. Ngày 30 tháng 12, Nixon công khai tuyên bố chấm dứt việc ném bom bên trên vĩ tuyến 20.

 

Bảy ngày sau, Kissinger nối lại cuộc đàm phán ở Paris với ông Lê Đức Thọ. Mặc dù nhà thương lượng Bắc Việt Nam không c̣n là một nhân vật “dễ thương” như trước khi có những trận ném bom nhưng ông vẫn tỏ ra lịch sự, đúng đắn và nhất là thái độ của ông ở bàn đàm phán, lại trở lại như trước. Cuối cùng, ngày 20 tháng 1, Nixon tuyên bố rơ, ông sẽ kư ngay một hiệp định ḥa b́nh riêng với người Bắc Việt Nam nếu Sài G̣n từ chối. Bị cô lập, Thiệu phải cúi đầu tuân lệnh.

 

Ba ngày sau, như đă định, Kissinger và ông Lê Đức Thọ kư tắt bản hiệp định, thay mặt cả hai bên, chế độ Sài g̣n và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền Nam Việt Nam. Sáng hôm sau, đại sứ Bunker mặc quần áo trắng, tiến vào hội trường ở gác ba sứ quán Hoa Kỳ ở Sài G̣n và tuyên bố, nước mắt chứa chan: “Đây là một ngày vĩ đại đối với tất cả chúng ta. Sắp sửa có ngừng bắn!”

 

Tám giờ sáng, giờ Sài G̣n, ngày 28 tháng 1 năm 1973, tiếng c̣i buồn bă báo động pḥng không của thành phố loan tin lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Tôi ở trên nóc nhà khách sạn Duc và (tr.40) uống một cốc rượu mừng một kỷ nguyên mới bắt đầu, cốc rượu Bloody Mary.

 

Mặc dù giờ đó thiêng liêng, nền hoà b́nh mới trở lại cũng gặp một tai nạn nhỏ...Chúng tôi gọi là không dân! Trong lúc vội vàng kư hiệp định, Kissinger quên không điện cho Sài G̣n biết những điều thay đổi trong những ngày cuối của cuộc đàm phán. Do đó bản tài liệu Thiệu đọc cho nhân viên Chính phủ Sài G̣n nghe không phải là bản dự thảo hiệp định mà Kissinger và ông Lê Đức Thọ đă thoả thuận.

 

Đại sứ E.Bunker, vốn là người thường giữ ǵn, khi biết sơ suất này, chỉ kêu một tiếng: Trời ơi! Tiếng kêu đó đúng với cái ǵ sẽ diễn ra.

 

 

Phần I (A) “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” từ tr 3 – tr 41

nhandanvietnam.org, ngày 30/7/07 

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend