NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIA)


 

TIẾN CÔNG

 

 

Về mặt quân sự, từ lâu, Việt Nam Cộng ḥa là một cộng đồng nhiều địa phương mâu thuẫn nhau. Ở Sài G̣n, bộ tổng tham mưu có vẻ nắm được quyền tôi cao. Nhưng Thiệu đă tạo những chỉ huy các quân khu thật sự thành những tên vua, chúa. Những quân khu ấy không giống nhau về mặt khí hậu và địa lư. Cái duy nhất gắn chúng với nhau là quốc lộ số 1, chạy dọc bờ biển, qua nhiều đoạn, nối Sài G̣n với Huế. Năm tỉnh của Quân khu I nằm ở phía Bắc đất nước, có nhiều đồi núi và khó ở. Phần lớn nhân dân ở đây sống tập trung chung quanh những thành phố chính là Huế và Đà Nẵng. “Uy quyền” của chính phủ không ở bên ngoài những vùng đồng bằng thấp ven biển. Cho đến mùa Thu 1974, cộng sản tôn trọng con đường ngừng bắn thực sự, dọc sông Thạch Hăn, phía Bắc Huế. Nhưng hiệp định đă bị vi phạm v́ sự cướp bóc của quân Nam Việt Nam.

 

 

So với Quân khu I, Quân khu II ở giữa Nam Việt Nam là một vùng đất có nhiều miền rất khác nhau. Quân khu này bắt đầu từ những đồi rồi lên đến cao nguyên ở phía Tây, giáp giới Campuchia. Thành phố Qui Nhơn đất đai chẳng khác phía Bắc miền duyên hải Nha Trang. Trung tâm chỉ huy Phan Thiết ở phía Nam. Trên cao nguyên, các thành phố Pleiku và Kontum ở phía Bắc, và Buôn Mê Thuột ở phía Nam. Trên núi có những làng nhỏ ở thưa thớt, dân là người thượng, da đen (tr.89)

 

Trong Quân khu II, chiến tranh phụ thuộc vào những cuộc hành quân. Chung quanh Qui Nhơn, quân cộng sản vừa giữ đất, vừa đánh du kích, họ kiểm soát nhiều khu vực rộng ở tỉnh lân cận. Nhưng ở phía Nam, chung quanh Nha Trang và Phan Thiết, do đường tiếp tế của Bắc Việt Nam không có nên quân du kích thường đánh lẻ tẻ và ít hiệu quả. Ở phía Tây, trên Tây Nguyên, những đơn vị Bắc Việt Nam được tiếp tế dễ dàng thường qua lại rừng núi tới chung quanh các thành phố chính, sẵn sàng nă pháo hoặc xung phong mỗi khi quân chính phủ phân tán, lơ là canh gác.

 

Quân khu II, vùng quanh Sài G̣n, nằm giữa cao nguyên và đồng bằng, có nhiều đồi, rừng, và đồng bằng. Ở phía Bắc thủ đô, từ nhiều năm nay, phần lớn quân Bắc Việt Nam đă đóng ở trong rừng. Ở đây, từng thời kỳ một, họ đánh phá và tích trữ lương thực, đạn dược để chuẩn bị tiến công vào Sài G̣n. Ở phía Nam và phía Đông thủ đô, từ cuối những năm 60 và đầu những năm 70, quân Mỹ và quân Nam Việt Nam đă tảo thanh, đánh đuổi quân du kích cộng sản về những vùng đầm lầy.

 

Thị xă chiến lược quan trọng nhất của quân khu III là thị xă Tây Ninh, gần biên giới Campuchia. Từ lâu, Tây Ninh là mục tiêu tiêu hao và đánh phá của quân đội Bắc Việt Nam. Thị xă tiểu công nghiệp này gồm 40000 dân, là ch́a khoá mở những con đường tiếp viện chính của cộng sản vào Sài G̣n. Ai giữ được thị xă này, đồng thời giữ những đồng bằng ph́ nhiêu chung quanh, th́ kiểm soát được cả những con đường đi Campuchia. Cách thị xă 30 kilômét về phía Tây Bắc, quân cộng sản đă đặt trụ sở Bộ Tư lệnh của miền Nam Việt Nam.

 

Phía Nam Sài G̣n, quân khu IV gồm một vùng đất đai màu mỡ nhất và đông dân nhất, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hơn một phần ba nhân dân miền Nam Việt Nam, sống ở đây thu hoạch 80% lúa gạo. Đồng bằng là nơi thêm muốn của cả đôi bên đối thủ. Nhưng do khí hậu ẩm thấp, đất đai śnh lầy nên những đơn vị quân đội có thể định đoạt được (tr.90) tương lai của chiến tranh, không thể đóng được. Từ lâu, quân cộng sản đă ở đây, gồm nhưng đơn vị nhỏ - tiểu đoàn hoặc đại đội - không có pháo binh, xe bọc thép, thường chỉ đánh kỳ tập để giành mục tiêu. Hệ thống bảo vệ của quân chính phủ dựa vào mấy thành phố lớn và những vị trí tiền tiêu xa nhau, rất khó giữ được nếu không có sự yểm trợ của máy bay lên thẳng, không quân và pháo binh của người Mỹ. Sở chỉ huy phía Nam đóng ở Cần Thơ, sở chỉ huy phía Bắc đóng ở Mỹ Tho. Trong những tháng gần đây, quân cộng sản uy hiếp ngay ở cửa ngơ hai thành phố này và từ một năm nay, đường số 4, con đường chạy từ Bắc xuống Nam vùng này, bị cắt đứt trong một thời gian dài.

 

Đó là t́nh h́nh Việt Nam khi những nhà chiến lược Hà Nội đề ra “mục tiêu năm 1975”. Công việc chuẩn bị của họ thật ra không hẳn là một chiến dịch mà là một loạt cuộc hành quân riêng rẽ tuỳ theo địa thế và khí hậu từng vùng.

 

Cuộc tiến công chưa được chuẩn bị tốt. Mười lăm ngày trước khi mở màn, vào giữa tháng 11 năm 1974, có rất ít quân tiếp viện Bắc Việt Nam trên đường ṃn phía Nam Lào. Cuộc tuyển quân và lớp huấn luyện kéo dài tới cuối tháng. Đó là điều không b́nh thường đối với người Bắc Việt Nam. Họ thường chuẩn bị rất kỹ bỏ ra hàng tháng - trước khi mở cuộc tiến công. Lần này, họ gây cảm tưởng nửa muốn đánh nửa không.

 

Thật ra, họ không thể làm khác được. Thời tiết lại xấu. Mưa, gió mùa rất quan trọng đối với những căn cứ lơm Bắc Việt Nam ở phía Nam Lào. Việc đưa quân và vũ khí vào miền Nam rất vất vả. Đi bộ tám trăm kilômét trong bùn lầy ngập tới đầu gối.

 

Giữa tháng 12, đúng như ngày đă định, quân Bắc Việt Nam mở giai đoạn đầu chiến dịch Đông-Xuân. Họ đánh chiếm hai thị xă phía Đông-Bắc Sài G̣n. Ở phía Nam, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long họ chiếm nhiều vị trí tiền tiêu ven đường số 4. Mục đích những cuộc chiến đấu ấy đă rơ. Quân (tr.91) cộng sản định cô lập Sài G̣n bằng cách cắt mọi đường quan trọng đi vào thủ đô ở phía Bắc và phía Nam, việc mà trước kia họ thường định làm. Ở sứ quán, mọi người dễ thống nhất về mục tiêu chung của kẻ địch nhưng không đồng ư với nhau về mục tiêu phụ. Martin cho là quân cộng sản sẽ đánh Tây Ninh, Polgar và tôi ngă về phía Phước Long, phía Tây Bắc Sài G̣n.

 

Quân Bắc Việt Nam cũng đang đắn đo giữa hai nơi, việc này chúng tôi không biết. Chính Đại tướng Văn Tiến Dũng, người đưa quân đội Bắc Việt Nam đến thắng lợi đă kể lại chuyện này trong tập hồi kư ông viết sau chiến tranh. Đầu tháng 12, lúc giai đoạn đầu cuộc tiến công đang diễn ra, Hà Nội quyết định thay đổi chủ trương. Từ nhiều ngày, Dũng và bộ tham mưu đă nghiền ngẫm kế hoạch, đến ngày thứ tư, một sự kiện xảy ra, làm họ chú ư.

 

Một nhân viên t́nh báo của họ nằm ngay trong giới lân cận gần nhất của Thiệu gửi cho họ một báo cáo tuyệt mật về nhận định của chế độ Sài G̣n. Đó là biên bản một hội nghị quan trọng diễn ra trong hai ngày 9 và 10 tháng 12 ở Sài G̣n nhằm t́m hiểu ư đồ của Hà Nội. Sau hội nghị, Thiệu và các sĩ quan của ông ta thống nhất nhận định rằng, trong những tháng sắp tới, quân cộng sản sẽ mở cuộc tiến công quan trọng hơn vào năm 1974 nhưng chưa lớn bằng cuộc tiến công năm 1968 (đúng như tin do Polgar và tôi báo cho quân Nam Việt Nam 15 ngày trước). Nhân viên t́nh báo ấy cũng báo tin là Thiệu đă đi đến kết luận rằng quân đội Bắc Việt Nam không thể đánh chiếm và giữ những thành phố quan trọng được, họ nhằm hướng chính là Quân khu III, chủ yếu là Tây Ninh (dự đoán của đại sứ Martin) và họ chỉ tiếp tục tiến công cho đến tháng 6, hết mùa khô. Sau đó, họ ngừng để lấy lại sức và củng cố; vẫn theo nhân viên t́nh báo này, Thiệu cũng căn cứ vào sự phân tích của bản thân, ông quyết định không gửi quân tiếp viện cho quân đoàn 2 ở Tây Nguyên, mà trái lại, tập trung lực lượng dự trữ ở phía Nam đất nước.(tr.92)

 

Không khó khăn ǵ để nhận ra sự mừng rỡ của Hà Nội khi được đọc biên bản nói trên. Mục tiêu 1975 của họ gồm đủ mọi vấn đề, mỗi thứ một ít và không có vấn đề ǵ đáng kể. Nhưng nay họ đă rơ Thiệu nhận định như thế nào, họ có thể thảo được kế hoạch. V́ Thiệu cho là muốn đánh Tây Ninh th́ phải đánh Phước Long, Thiệu không tin là muốn tiến công được ở Tây Nguyên th́ phải đánh mạnh ở đây, Thiệu cho là không thể đánh chiếm và giữ được những thành phố quan trọng th́ cứ hướng ấy mà tiến. Tỉnh Phước Long là mục tiêu đầu tiên của họ, tiếp đến là Buôn Mê Thuột, trên Tây Nguyên thuộc quân đoàn 2...

 

...Về mặt tâm lư, mất Phước B́nh (Thị xă Phước Long) là một đ̣n đau đối với chính quyền Thiệu. Chưa có một thị xă nào bị đánh chiếm kể từ ngày thị xă Quảng Trị phải đầu hàng năm 1972. Nhưng sau đó, thị xă Quảng Trị được chiếm lại. Nhưng đau nhất là chưa bao giờ Hoa Kỳ tỏ ra thờ ơ như lúc này. Đối với Thiệu cũng như đối với Bắc Việt Nam, trận Phước Long là trận thăm ḍ chính sách của Mỹ...

 

Trong khi nhiều tin xấu được loan truyền ở thủ đô th́ lực lượng chính phủ lại bị thất bại nữa, lần nầy ở Tây Ninh. Sau năm ngày bị bao vây, không cái ăn, không nước uống, đội quân giữ vị trí núi Bà đen ở phía Bắc tỉnh phải bỏ chạy. Thế là mất một vị trí quan sát tiền tiêu! Nhân dân Tây Ninh kéo nhau chạy về Sài G̣n...Chiến thắng liên tiếp ở Quân khu III của cộng sản khuyến khích Hà Nội leo thang. Họ lại được tin chắc chắn là Hoa Kỳ không can thiệp để cứu văn đồng minh. Hội nghị Bộ Chính trị phân tích sự suy yếu của địch báo hiệu một thời cơ mới đang đến. Ngày 8 tháng 1 năm 1975, hai ngày sau chiến thắng Phước Long, ông Lê Duẩn đề nghị với hội nghị một chiến lược quân sự táo bạo đưa đến việc thảo ra một kế hoạch chính thức và quyết tâm dành thắng lợi trong hai năm 1975-1976: “năm 1975, tranh thủ bất giờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn (tr.93) miền Nam Việt Nam” Ông Lê Duẫn c̣n đề nghị một phương án khác và một phương hướng hành động cực kỳ quan trọng là: “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, th́ lập tức giải phóng miền Nam trong 1975”. Ông cũng để cửa mở cho những cuộc thương lượng, ít nhất với Hoa Kỳ. Việc người Mỹ không cạn thiệp để cứu Phước Long có thể có nghĩa là họ sẵn sàng mặc cả cho việc ra đi của Thiệu.

 

Ông Lê Duẩn cho viết một bài xă luận đặc biệt, in trong số tháng giêng trên báo của Đảng (Tạp chí Cộng sản). Bài xă luận tŕnh bày tóm tắt và rơ ràng quan điểm của ông và kế hoạch của Hà Nội. Nếu ở Sài G̣n, chúng tôi có sẵn bài báo ấy, chúng tôi có thể dễ hiểu hơn cái ǵ đang được chuẩn bị. Nhưng có nhiều sự chậm trễ trong việc nhận thư từ, báo chí theo đường dây quốc tế nên măi đến tháng 3, sứ quán mới nhận được tờ báo đăng bài xă luận. Như thế là quá muộn mất rồi!

 

Bộ chính trị c̣n một vũ khí mới nữa, sự ủng hộ của đồng minh duy nhất, quyết định thắng lợi hay thất bại. Lần đầu tiên kể từ ngày ngừng bắn, Liên Xô, đồng minh lớn của Hà Nội, sẵn sàng ủng hộ một chính sách tiến công giải phóng miền Nam.

 

Cuối tháng 12, trước khi tiến công Phước Long, người đứng đầu lực lượng vũ trang Liên Xô, đại tướng Viktor Kulikov, bay đến Hà Nội. Polgar và tôi báo ngay  cho Ban giám đốc CIA biết. Chúng tôi không làm thế nào mà nắm được những vấn đề Kulikov thảo luận với chủ nhà. Điều quan trọng đối với chúng tôi (tôi nhấn mạnh điểm này trong một bức điện) là cuộc viếng thăm Bắc Việt Nam tương tự như trước đây của một vị tướng Liên Xô hồi năm 1971, diễn ra đúng trước cuộc tiến công lớn của Hà Nội. Thật vô ích nếu nói rằng Polgar bắt buộc phải nhắc lại cho Hoa Thịnh Đốn biết t́nh h́nh hiện nay có thể giống như trường hợp trước.

 

Nhưng những người phân tích tin của CIA và Bộ Ngoại giao quá bảo thủ, không đồng ư với nhận định trên. Họ cho là cuộc viếng thăm của Kulikov chỉ là một cuộc viếng thăm thường lệ. (tr.94). Sau này họ thấy rơ chúng tôi lập luận đúng. Những tuần sau khi Kulikov thăm Việt Nam, khối lượng thiết bị quân sự Liên Xô chở bằng đường biển tới Bắc Việt Nam tăng gấp bốn lần, Matxcơva đă ủng hộ hết mức cuộc tiến công cuối cùng của Hà Nội...Giữa tháng 1 năm 1975, Bộ Chính trị họp ở Hà Nội để xây dựng kế hoạch đánh chiếm Buôn Mê Thuột, trong vùng núi phía Tây. Chiến dịch này đặc biệt khó khăn. Các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định phải có một uỷ viên Bộ Chính trị chịu trách nhiệm hoàn toàn. Người được chọn là Đại tướng Văn Tiến Dũng.

 

Nguyên Soái Đại Tướng Văn TiếnThống Lănh Đại Quân

Chiến Dịch Hồ Chí Minh - Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/1975

 

Đại tướng Dũng khoảng 58 tuổi, người trẻ nhất trong Bộ Chính trị, người duy nhất có thể giành danh hiệu quí giá: “người lao động”. Thật vậy, là nông dân nghèo ở tỉnh Hà Tây, ông trở thành thợ cả trong một xưởng dệt ở Hà Nội giữa những năm 30. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong vùng giữa Hà Nội và Hà Tây, và cũng như nhiều đảng viên quan trọng khác, ông bị người Pháp bắt bỏ tù trong cuộc khủng bố chống cộng năm 1939. Ông vượt qua một cách can đảm và bốn năm sau, ông vừa tham gia chiến đấu ngoài mặt trận, vừa rèn luuyện học tập quân sự. Kinh nghiệm quân sự thực tế của ông bảo đảm cho ông làm tṛn nhiệm vụ chính ủy cao cấp trong quân đội của Việt Minh.

 

Thoát đầu, Dũng làm việc dưới bóng của người thủ trưởng tài ba, Đại tướng Vơ Nguyên Giáp. Đại tướng Giáp là người chiến thắng Điện Biên Phủ nhưng Đại tướng Dũng, Tổng tham mưu trưởng, cũng là người tổ chức việc đưa vũ khí đạn dược đến bao vây tập đoàn cứ điểm ấy cho đến khi quân Pháp đầu hàng.

 

Trong khi các ông Giáp và Trường Chinh, một ủy viên Bộ Chính trị khác, dành th́ giờ để nghiên cứu, viết ra những bài lư luận về chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân th́ Dũng, trở thành thành viên của đoàn đại biểu Bắc Việt Nam bệnh cạnh Ủy ban quốc tế kiểm soát, tập trung vào việc nghiên cứu trực tiếp kẻ thù để t́m cách đánh thắng chúng. Khi ông trở ra Hà Nội, cuối những năm 50, ông đă có trong đầu phương (tr.95) án tốt: một cuộc chiến tranh du kích phải có lực lượng chính qui dẫn dắt. Chính từ phương án ấy và từ phương án của các ông Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh mà Bộ Chính trị định ra chiến lược đưa họ đến thắng lợi.

 

Ông Dũng được bầu làm ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị năm 1960. Cụ Hồ Chí Minh rất thích ông. Sau cuộc tiến công năm 1972, ông trở thành ủy viên chính thức cùng với ông Trần Quốc Hoàn, người đứng đầu Bộ Nội vụ của Hà Nội, trùm công an mật... Ông Dũng là một vị tướng chiến đấu, một loại Ulysse hay Grant của Bắc Việt Nam. Một đầu óc thực tế, không phụ thuộc vào một lư thuyết nào. Nếu công việc có thể tiến hành, ông làm ngay, cố hết sức nhanh và cố hết sức đạt hiệu quả. Nhưng bao giờ cũng chấp hành theo ư kiến của Bộ Chính trị.

 

Trong hồi kư của ḿnh, Dũng viết “được ra trận chiến đấu là một niềm vui lớn”, “được đi thực hiện một nghị quyết quan trọng của Đảng là một hạnh phúc”. Và ông thổ lộ với người bạn già, tướng Trần Văn Trà, nhà chỉ huy quân sự vùng Sài g̣n và đồng bằng như sau: “Kỳ này vào đánh Tây Nguyên cho đến mùa mưa, đánh xong tôi sẽ vào Nam Bộ cùng với các đồng chí nghiên cứu chiến trường và chuẩn bị để đánh lớn trong mùa khô 1975-1976” Dũng tỏ ra hết sức lạc quan. Thực tế, chỉ ba tháng sau, ông đi t́m Trà, ở Nam Bộ.

 

MỘT ANH BẠN HẨU

  

Trong khi quân đội Bắc Việt Nam mở chiến dịch mùa khô th́ quân Khmer đỏ tiến công Campuchia. Chẳng mấy chốc, họ chiếm mọi c̣n đường đi đến Phnôm Pênh. Rồi họ nhanh chóng cắt con đường thuỷ độc nhất sông Cửu Long, nối thành phố với thế giới bên ngoài, bằng thuỷ lôi mới nhận được. Cùng (tr.96) lúc ấy, ở phía Bắc Phnôm Pênh, họ đặt súng cối và pháo binh gần sân bay Pochenton, để chặn cầu hàng không Mỹ.

 

Ngày 7 tháng 1, Kissinger cấp tốc họp với các nhân viên ê kíp nhỏ đặc biệt, nhóm “đặc biệt hành động Hoa Thịnh Đốn” để t́m cách dập tắt đám cháy ở Đông Dương. Giải pháp đầu tiên để giải quyết cuộc khủng hoảng ở Campuchia bị bác bỏ ngay: người Pháp đề nghị đưa Sihanouk trở về và mở cuộc thương lượng giữa Sihanouk với Hoa Kỳ. Kissinger phản đối để bảo vệ uy tín của Mỹ, bạn đồng minh không thay đổi của Lon Nol.

 

Hôm sau, chính phủ Mỹ báo tin sẽ xin quốc hội viện trợ quân sự bổ sung để cho các khách hàng Đông Dương có thể vượt khó khăn cho đến tháng 6, ngày chấm dứt năm tài chính.

 

Đề nghị ấy chắc chắn không được đáp ứng. Lạm phát và thất nghiệp lan tràn ở Hoa Kỳ. Ư định dùng tiền đóng thuế của nhân dân để duy tŕ một cuộc chiến tranh ở xa, đáng lẽ đă được chấm dứt, làm cho hầu hết đại biểu quốc hội và nhà báo tức cười.

 

T́nh h́nh càng rối ren và chính phủ Mỹ phải chịu nhiều hậu quả của vụ bê bối Watergate. Sau khi đánh đổ một tổng thống, quốc hội quyết định chú trọng chính sách đối ngoại. Việc thượng nghị sĩ Jackson phản đối dự thảo hiệp định thương mại Mỹ - Xô là một thí dụ điển h́nh của chiều hướng ấy. Cuộc khủng hoảng mới nhất ở Chypre cũng cùng chung một số phận. Mùa hè trước, sau khi quân Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm đảo, quốc hội đă cắt viện trợ quân sự cho Ankara. Quyết định ấy, mặc dù đúng, nhưng có những hậu quả tai hại đối với chính sách chung của chính phủ, nhất là đối với sự hoạt động của Kissinger ở Đông Dương. Làm sao mà quốc hội có thể phạt một hội viên của Otan khá quan trọng như nước Thổ trong khi đó lại tiếp tục ủng hộ Campuchia và Nam Việt Nam.

 

Nếu tính tất cả những dũ kiện đó th́ chính phủ phải dũng cảm xin tiền bổ sung. Đối với Kissinger, không có chọn lựa nào khác. Theo ông, cuộc tranh luận về tiền sẽ gây ra tiếng vang, dội cả ra ngoài bản thân cuộc xung đột Đông Dương. (tr.97) Cũng giống như hiệp định thương mại Mỹ - Xô và vấn đề Chypre, vấn đề Đông Dương sẽ trở thành nguyên cớ một cuộc đấu tranh triết lư và chính trị giữa Nhà Trắng và cơ quan lập pháp. Một cuộc thử thách sức mạnh về chức năng của hai cơ quan này trong chính sách đối ngoại.

 

Đối với Kissinger, những cuộc tranh luận này sẽ làm phai mờ h́nh ảnh nước Mỹ thường tỏ rơ là một nước bảo vệ bạn bè gặp khó khăn. Người ta sẽ nghi ngờ điều đó. Không nên để như vậy, nhất là lúc này, Kissinger đă cam đoan rằng Hoa Kỳ sẽ cố đem sức nặng ra để t́m giải pháp cho cuộc xung đột Ixraen - A rập. Những bên tham chiến ở Trung Đông đă tin tưởng Kissinger. Có nên để ḷng tin đó bị lung lay khi quốc hội Mỹ quay lưng lại các bạn Đông Dương không?

 

Ngoài những điều phân tích về địa lư, chính trị ấy, đại sứ Martin có những lư lẽ riêng của ông để đ̣i tiền bổ sung. Theo ông, điều có lợi cho Sài G̣n lúc này, chưa quan trọng bằng cuộc đấu tranh của ông chống bọn “nổi loạn” Mỹ, bọn vô chính phủ “trí thức điên rồ” đang nhận làm những kẻ tuyên truyền cho Hà Nội trong hạ tầng của giới chính trị như Tom Hayden, Fred Branfman và Don Luce, cổ động viên của Ủy ban giúp đỡ Đông Dương. Martin quyết định đánh bại những người này...đồng thời dành được tiền bổ sung cho Sài G̣n.

 

Hoàn cảnh lúc bấy giờ cũng buộc ông phải có một thái độ như thế. Giữa tháng 12, lúc quân Bắc Việt Nam đang chuẩn bị mở chiến dịch mùa khô, một nhóm những nhà tu hành Mỹ cho lưu hành một bức thư về Việt Nam. Dựa vào những tin tức do Ủy ban giúp đỡ Đông Dương cung cấp, họ tố cáo người Mỹ phải chịu trách nhiệm chính trong cuộc đổ máu ở Việt Nam.

 

Giọng viết và nội dung bức thư làm cho Martin tức giận đến mức ông phải trả lời. Nhất là bộ ngoại giao lại không muốn làm. Trong một bức điện gửi cho Hoa Thịnh Đốn ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh, ông giơ gươm nổi giận lên: “Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với bộ ngoại giao nỗi sợ hăi hiển nhiên (tr.98) về những điều công kích địch bôi tro trát trấu vào người. Những điều công kích này chĩa vào bất cứ ai, phải nói rằng nội dung bức thư của các nhà tu hành chỉ là những điều nói dối, từ đầu đến cuối...Tuy chúng tôi chia sẻ với nỗi sợ hăi ấy nhưng chúng tôi không đồng ư với những lư lẽ cho phép bộ ngoại giao thôi, không nói rơ sự thật với nhân dân Mỹ. H́nh ảnh Ponce Pilate c̣n trong trí nhớ mọi người, nhất là gần đến ngày lễ Noel”. Cuộc tranh luận về viện trợ bổ sung, đối với Martin, là một dịp để kéo những bạn đồng nghiệp của ông ở bộ ngoại giao vào cuộc đấu tranh chống những người “nổi loạn”. Nhưng bộ ngoại giao c̣n nhiều điều mắc mớ. Một năm sau. Martin nói với tôi: “Tôi biết rơ là Việt Nam đi đời rồi nhưng tôi không thể làm ǵ hơn là cố kéo chậm lại”. Nhưng ông cũng không gánh nổi gánh nặng ấy.

 

Cuối cùng, sau nhiều lần bộ ngoại giao can thiệp, quốc hội bỏ phiếu chuẩn y một món tiền bổ sung là ba trăm triệu đôla.

 

Trong lúc đó, quân đội Bắc Việt Nam tăng sức ép. Cuối tháng 1, ở Quân khu I, ba sư đoàn đóng ở phía Tây Huế và Đà Nẵng và nhiều trung đoàn từ miền Bắc vào luồn qua khu phi quân sự, đến yểm trợ. Ở Tây nguyên thuộc Quân khu II cũng có quân tiếp viện. Ở phía Nam, trong vùng Sài G̣n, một trong những sự đoàn đă đánh chiếm Phước Long, hành quân về phía tỉnh Tây Ninh, để phối hợp cùng với nhiều đơn vị khác đă sẵn sàng tiến công. Chẳng mấy lúc, lực lượng cộng sản như một ṿng cung cắt biên giới phía Bắc của Quân khu III.

 

Bề rộng của đất đai cần bảo vệ lớn đến mức làm cho các đơn vị của Sài g̣n phân tán rải rác, nhiều đơn vị xa hẳn căn cứ. Họ không có cách nào hơn là rút về vị trí, cố thủ và chờ cuộc tiến công mới nếu họ không muốn giữ đất.

 

Về phía ông, Đại tướng Văn Tiến Dũng chuẩn bị đi Nam. Tuần cuối tháng 1 năm 1975, ông đến chào ông Lê Duẩn. Họ chúc nhau gặp may nắm và ông Lê Duẩn nhắc lại cho vị tướng câu nói ngắn về kế hoạch chiến lược của ông: “Nên suy nghĩ nhiều và có cách đánh đúng. Chiến trường Tây Nguyên có (tr.99) thể làm ăn to được, đánh thắng có thể dẫn đến khả năng ta dự kiến là trong năm nay giải phóng miền Nam”.

 

Ngày 5 tháng 2, Tướng Dũng tới Hà Nội, đáp máy bay đi Đồng Hới. Tại đây, ông lấy xe hơi đi Quảng Trị, ở phía Bắc quân đoàn I. Chuyến đi về phía Nam bắt đầu. Từ đó, ông đi xuồng máy, xe hơi, theo đường đi của quân đội Bắc Việt Nam, chạy từ phía Tây Nam Việt Nam đến phía Nam Lào.

 

Chuyến đi của ông được giữ hết sức bí mật. Ông Dũng kể lại: “Mọi việc đều được chuẩn bị để đánh lạc sự theo dơi của địch. Sau khi tôi đi, báo chí tiếp tục phản ảnh những hoạt động của tôi, coi như tôi vẫn ở nhà”.

 

Việc đánh lừa ấy đạt kết quả. Một năm sau khi Việt Nam sụp đổ, lúc ông Dũng cho phát hành tập hồi kư của ông, chúng tôi mới biết ông chỉ huy cuộc tiến công cuối cùng, đánh tổng hành dinh, ngay sau pḥng tuyến của chúng tôi.

 

Bao nhiêu điều phụ thuộc vào nhiệm vụ của Tướng Dũng...Ngày 3 tháng 2, trong một bài diễn văn nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ông Lê Duẩn hứa cố gắng thực hiện các nghị quyết của Đảng. Ông nhấn mạnh những mục tiêu chính trị được đề lên trên mục tiêu quân sự, gây chút hy vọng cho việc thương lượng. Nói về những điều kiện chủ yếu cho cuộc đàm phán, ông cẩn thận không nhắc đến việc Thiệu phải ra đi, đ̣i hỏi thường lệ trước đây của Bắc Việt Nam.

 

Đọc xong một lần nữa bản dịch bài diễn văn, tôi càng chắc chắn rằng mục tiêu trước mắt của cộng sản là nối lại cuộc đàm phán chứ không phải là chiến thắng quân sự. Mấy ngày sau, một nhân viên CIA gửi cho tôi một bản báo cáo gần đúng như nhận định của tôi. Anh ta dự kiến sẽ có những cuộc tiến công mới và mạnh ở phía Bắc Sài G̣n (Buôn Mê Thuột không được ghi cụ thể) nhưng anh lại nói rằng khi trận đánh xong th́ Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ đề nghị họp lại tay đôi. Anh ta cũng nói không họp ở Paris mà họp trong một thành phố ở miền Nam Việt Nam.

 

Bài diễn văn của ông Duẩn có hai ư nghĩa. Tôi làm một bản phân tích cho Polgar, trong đó tôi tŕnh bày những điều tôi rút (tr.100) ra từ những cam kết chính trị và quân sự của ông. Bực ḿnh, Polgar quyết định kiểm tra lại những nhận định của tôi qua phái đoàn Hunggari trong Ủy ban quốc tế kiểm soát. Ông đưa bản phân tích của tôi cho họ, đề nghị họ góp ư kiến. Mấy ngày sau, họ trả lời rằng những kết luận của tôi gần đúng. Nói một cách khác, chúng tôi vẫn c̣n hy vọng đi đến một cuộc thương lượng, mặc dù, chắc chắn, hoạt động quân sự sẽ phát triển trong mấy tuần tới.

 

Polgar điện ngay cho Hoa Thịnh Đốn một bản tóm tắt nhận định của người Hunggari. Những người này cũng báo cho Hà Nội những tin tức cần thiết. Biết rơ sự đánh giá của chúng tôi, Bộ Chính trị có thể sửa cho đúng kế hoạch và chiến lược của họ. Với những ư định tốt nhất thế giới, Polgar đă gửi đi một bản tin vô giá đối với người Bắc Việt Nam.

 

Nhưng hướng mới về một giải pháp chính trị không làm mất sự băn khoăn của Polgar về việc uy hiếp quân sự. Ông vẫn đề nghị quốc hội cấp thêm tiền viện trợ và tự ḿnh làm việc này. Suốt mùa Đông, ông yêu cầu tôi phải tỏ ra bi quan trước những vị khách đến thăm, trước nhân viên sứ quán và không được nêu vấn đề về ư đồ chính trị của Hà Nội, một vấn đề vừa khó khăn vừa rối tinh.

 

Sau một buổi tŕnh bày hết sức rơ ràng của tôi, một đồng nghiệp CIA giơ tay lên trời, kêu lên với vẻ sợ sệt: “Trời ơi, mấy tuần trước, anh nói là không có ǵ nguy cơ cả. Nay, h́nh như chúng ta đang đứng trước buổi xử án cuối cùng!”

 

Cảm tưởng ấy lan rộng nhanh chóng khắp sứ quán và nhiều đồng nghiệp tôi bắt đầu bi quan và giấu vũ khí, đạn dược về pḥng khi phải tự vệ. Cùng lúc ấy, phái đoàn quân sự và các cơ quan hành chính trong sứ quán, tự do, cho biết kế hoạch di tản, một bản tài liệu gồm 400 trang (mỗi sứ quán Mỹ trên thế giới đều có một bản, thật là một kiểu làm việc cổ lỗ). Đại tá Garvin Mc Curdy, tuỳ viên không quân, đại tá Cornelius Carmody, tuỳ viên hải quân được giao phụ trách việc này. Được một ê kíp nhỏ giúp việc, họ thảo ra một kế hoạch cụ thể di tản (tr.101) những người Mỹ ở các quân khu và cuối cùng là ở Sài g̣n. Phần lớn sự thay đổi của họ thuộc mặt h́nh thức chứ không phải nội dung. Từ tài liệu gốc, họ chỉ c̣n giữ lại con số người di tản là không quá 6.800 người, phần lớn là người Mỹ.

 

Polgar cũng được giao nhiệm vụ thảo một kế hoạch di tản những nhân viên t́nh báo và những nhân viên quan trọng nhất của Chính phủ Sài G̣n. Nhưng ông từ chối. Mặc dù t́nh h́nh quân sự quá xấu, ông vẫn không tin rằng một ngày kia ông phải bỏ nước này.

 

C̣n đại sứ Martin, ông lại trở về Hoa Thịnh Đốn đầu tháng 2, để bảo vệ chủ trương của chính phủ trong cuộc thảo luận về việc trợ bổ sung. Vừa đến bộ ngoại giao, ông đă đưa ra một dự án mà ông rất thiết tha, đó là một chương tŕnh giúp đỡ khổng lồ làm cho chế độ Sài G̣n có thể độc lập về kinh tế trong ba năm. Đề nghị của Martin bị bộ ngoại giao cũng như quốc hội bác bỏ. Người ta kết tội ông là cố làm cho vấn đề Việt Nam bị lăng quên trong cuộc bầu cử sắp tới. Nhưng Martin phản đối và ông đấu tranh cho việc thành lập một ủy ban gồm nhiều thượng và hạ nghị sĩ sẽ đi Nam Việt Nam để nghiên cứu tại chỗ dự án của ông. Được chính phủ đồng ư nhưng dự án của Martin không được chấp nhận v́ những cuộc xung đột cá nhân và giá dầu lửa. Cay đắng thật vọng. Martin trở lại Sài G̣n.

 

Giữa lúc ấy, nhiều quan chức chính phủ Mỹ cũng định cứu văn t́nh h́nh. Họ dùng mánh khoé cũ và kêu cứu lần này ở Campuchia. Họ tŕnh bày với quốc hội: mấy tuần nữa, Chính phủ Lon Nol sẽ đổ nếu quốc hội không chuẩn ngay viện trợ bổ sung cho Campuchia. Nhưng không có lư lẽ ǵ thuyết phục được quốc hội, CIA vừa hoàn thành bản báo cáo vạch rơ chính phủ Phnôm Pênh bất lực, không thể chủ động, về mặt quân sự trong thời gian gần nhất, dù được viện trợ bổ sung. Colby, giám đốc CIA, tŕnh bày thành thật và chi tiết kết luận ấy với một ủy ban của quốc hội, và không c̣n vấn đề viện trợ cho Campuchia nữa.(tr.102)

 

Ở Sài G̣n, Nguyễn Văn Thiệu theo dơi việc ấy cẩn thận và rất ngạc nhiên. Những lời đường mật của Hoa Kỳ về viện trợ cần thiết cho sự sống c̣n của ông ta đă làm ông mất ḷng tin và kẻ thù của ông ở Hà Nội, chắc chắn cũng được khuyến khích ít nhiều.

 

Hơn thế, kẻ thù của Thiệu ngay trong nội địa cũng ngóc đầu dậy. Họ kết tội Thiệu là chỉ chăm lo tài sản riêng chứ không nghĩ đến quyền lợi quốc gia...Thiệu phản ứng lại. Năm tờ báo phải đống cửa, 18 nhà báo viết những điều không có lợi cho chính phủ bị bắt v́ hoạt động thân cộng sản.

 

Giữa cơn băo táp chính trị ấy, Thiệu tiếp tục trị phái quân sự. Sau khi mất Phước Long, ông ra lệnh chỉnh đốn lại Quân khu III và chỉ định tướng Nguyễn Văn Toàn làm tư lệnh. Thiệu cũng quyết định “trẻ hoá” một ít chiến lược. Tướng Cao Văn Viên, người tổng tham mưu trưởng tươi cười, từ nhiều tháng nay, đă cố vận động Thiệu chấp nhận ư kiến: một Việt Nam thu hẹp. Ư kiến này từ một năm nay cũng được thủ tướng Khiêm và thỉnh thoảng được người Mỹ nghĩ đến. Những quyết định của chính phủ ngày 9 và 10 tháng 12, đánh đấu bước mở đầu rụt rè theo hướng đó: tập trung tất cả lực lượng dự trữ, nếu có thể nói như thế, về Quân khu III, không cử quân tiếp viện lên Tây Nguyên hay ra Quân khu I. Sau thảm bại Phước Long, Khiêm và Viên đẩy Thiệu lùi một bước nữa: bỏ phía Bắc đất nước, như thế có thể tiết kiệm được súng ống đạn dược, quân trang v.v...

 

Mới đầu, Thiệu bác ư kiến này, nhưng những tin tức từ Hoa Thịnh Đốn gửi về ngày càng bi đát, cần phải xét lại. Đầu tháng 2, Thiệu thành lập một nhóm nghiên cứu t́nh h́nh đứng đầu là Viên và Khiêm, có nhiệm vụ nêu rơ thực trạng lực lượng chiến lược. Ông cũng ra lệnh cho Quân khu I gọi những lực lượng ưu tú trong sư đoàn dù đóng ở phía Bắc Huế rút về và chuẩn bị cho lực lượng này chuyển vào Sài G̣n.

 

Viên và Khiêm không bằng ḷng. Họ cho là việc rút đoàn này đi không đúng với sự cần thiết. Nhiều người khác trong giới lân cận Thiệu cũng không tán thành v́ những lư  (tr.103) do ngược lại: quyết định này đối với họ, triệt để quá. Một người kịch liệt chống lại chủ trương rút quân là tư lệnh Quân khu I, tướng Ngô Quang Trưởng. Năm sư đoàn dưới quyền ông đă khá phân tán, nếu không có sư đoàn dù th́ ông cho là không khi nào ông có thể tự vệ nổi để chống lại bốn sư đoàn Bắc Việt Nam và nhiều đơn vị khác đang đóng trước mặt ông ta.

 

Giữa tháng 2, tướng Charles Timmes, sĩ quan liên lạc chính của CIA cùng với bộ chỉ huy Nam Việt Nam đến thăm sở chỉ huy của Trưởng ở Đà Nẵng, để bàn t́nh h́nh như thường lệ. Trong cuộc tranh luận, Timmes rất ngạc nhiên được biết một kế hoạch chiến lược mới đang được thực hiện nhưng Trưởng từ chối không giải thích cho ông biết rơ v́ sao cần phải có kế hoạch này. Ông dự kiến việc bảo vệ bốn điểm quan trọng: các thành phố Huế và Đà Nẵng, Tam Kỳ, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Tín và mỏm Chu Lai ngay ở phía Nam, ở đây có một sân bay lớn và sở chỉ huy của sư đoàn 2 quân đội Nam Việt Nam. Nếu cộng sản cho quân tiếp viện đi qua khu phi quân sự. Trưởng giải thích, th́ ông sẽ rút về những điểm trên. Timmes, như lời ông nói với tôi sau này, ngả theo ư kiến ấy. Ông cho là Trưởng có thể điều khiển tốt năm sư đoàn của ông ta. Chắc chắc Timmes sẽ bớt lạc quan hơn nếu ông biết người chỉ huy Quân khu I chỉ c̣n có bốn sư đoàn.

 

Mấy ngày sau. Trưởng đi Sài G̣n để bộ tổng tư lệnh thông qua kế hoạch của ông ta. Trưởng rất lạ là Thiệu không sốt sắng lắm, cố quyết định chậm lại bằng cách ngẫm nghĩ từng chi tiết một. Thực tế, Thiệu không muốn có một sự thay đổi nào trong việc bố trí lực lượng. Tuy nhiên, Thiệu phải công nhận rằng việc rút sư đoàn dù đi, làm cho lực lượng của Trưởng vô cùng yếu so với lực lượng địch. Thiệu sợ sẽ gây cảm tưởng xấu với người Mỹ nếu cứ bỏ đất đai.

 

Quyết định của Thiệu rút sư đoàn dù khỏi Quân khu I là hậu quả chiến lược bỏ vị trí Tống Lê Chân vào tháng 4 năm 1974 và thị xă Phước B́nh một tháng trước đây. Cho là có quyết (tr.104) định này th́ có thể làm nhẹ được hậu cần, gây ảnh hưởng với quốc hội và củng cố việc bảo vệ chung quanh Sài G̣n, nên tướng Murray đồng ư. Đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng ông thôi, không thảo luận những điều dự kiến vào mùa hè trước. Trong khi Thiệu bất đắc dĩ phải để cho ḿnh trôi xuống cái dốc nguy hiểm này, theo cách nói của ông ta, th́ phần lớn những cộng tác viên của Martin chỉ chú ư đến viện trợ bổ sung.

 

Tuần thứ ba tháng 2, những buổi tiếp khách diễn ra mất 24 giờ v́ làn sóng những người đến thăm: đại biểu quốc hội, quan chức ở Hoa Thịnh Đốn. Mặt khác, tôi phải chúi mũi vào việc viết những bài tuyên truyền. Tôi không c̣n th́ giờ để nghiên cứu những khía cạnh tế nhị trong chiến lược của Sài g̣n hoặc của cộng sản.

 

Điều không may tột độ nữa là một chị nhân viên giỏi của tôi vắng mặt hàng tuần nay. Đầu tháng, Pat Johnson, v́ ăn sandwich ôi với rau xà lát và tôm ở bể bơi khách sạn Duc nên phải nằm liệt gường. Lúc chị dậy được, th́ tôi đă mệt lả ngừi và mong có những điều kiện làm việc thoải mái hơn một ít. Nhưng không thể được. Nhân viên thứ ba trong pḥng tôi quyết định nghỉ hè v́ đă làm việc lâu. Mấy ngày sau, anh bay về Hoa Kỳ và ở đó bốn tuần xem vô tuyến truyền h́nh về sự tan ră của miền Nam Việt Nam với lời b́nh luận của Walter Cronkite.

 

May thay, Polgar t́m được người thay anh này. Đó là Joe Kingsley. Là một nhân viên CIA không có một chút kinh nghiệm phân tích tin, anh chàng được Polgar tuyển là v́ biết rơ Quân khu I như biết rơ túi anh. Anh là một sĩ quan trong lực lượng đặc biệt chiến đấu ở đấy đầu những năm 60, và đă được một mảnh đạn khen thưởng. Anh tiếp tục đi và cà nhắc và đi như khiêu vũ sau khi uống chén rượu Martini đầu tiên: Lần đầu gặp nhau, Joe không gây cảm tưởng ǵ cho tôi cả. Tóc đen, lông mày cong, cái cười hóm hỉnh tạo cho anh một vả ngây thơ lành mạnh giấu khéo cái tuổi 38 và sự hiểu đời của anh. Điều quái ác là anh quan tâm quá nhiều đến những phương tiện t́nh báo - đài thu thanh, vũ khí, cốt mật - chứ (tr.105) không phải thực chất tin tức. Nói cho gọn, anh là người cuối cùng tôi chọn để cùng tôi lặn ngụp trong những niềm vui phân tích, đánh giá t́nh h́nh lúc Sài G̣n chờ cuộc xung phong cuối cùng của cộng sản.

 

Nhưng tôi thấy rất nhanh nhận xét đầu tiên của tôi về Joe là sai. Anh tỏ ra là một trong những người phân tích tin cừ khôi (và vui) mà tôi được biết. Và là người bạn hẩu đến với tôi rất tự nhiên, quả là của trời cho. Trong những tuần cuối cùng của cuộc chiến tranh, vừa cười, vừa đùa, anh đă vượt qua biết bao hàng rào kiểm soát ở căn cứ không quân Tân Sơn Nhất và đưa được nhiều bạn Việt Nam của anh và của tôi đi di tản.

 

“HOA SEN NỞ”

 

Sau cùng, cuối tháng 2, quốc hội cử một đoàn điều tra sang Đông Dương, việc mà Martin hằng mong muốn. Đoàn gồm sáu người trong đó có hai người “tự do” Donald Fraser ở Minnesota và Bella Abzug ở Manhattan.

 

Martin định làm cho họ thay đổi ư kiến và ông không trù trừ ǵ, dựng lên một cảnh xiếc để làm cho họ xúc động. Mỗi cơ quan của sứ quán được giao đóng một vai tṛ - họp báo, diễn thuyết, ghi tin - và cơ quan tôi đă góp phần đắc lực vào chuyện ấy. Nhiều bản báo cáo của tôi được lấy từ những hồ sơ mật ra để sao làm nhiều bản và phân phát đi như những chương tŕnh một buổi dạ hội mặc dù việc ấy có thể gây nguy hiểm cho một số nhận viên t́nh báo của tôi.

 

Nhưng điều đă được đoán trước, tất cả những mánh khoé ấy không đi đến đâu cả. Martin và Polgar v́ không thật thà nên đă tạo ra sự phản đối của cả những nghị sĩ trước đứng về phía ông. Trong một buổi họp sóng gió, Abzug chất vấn sứ quán (tr.106) tại sao có thể tiếp tục cho rằng t́nh h́nh chính trị ở Sài G̣n ổn định, trong khi đó thực tế lại căng thẳng? Polgar chối cho rằng không hề có một rối loạn nào. Khi Martin buộc phải trả lời câu hỏi về sự mất an ninh ngày càng tăng ở nông thôn như những bản báo cáo đă phản ánh, ông trả lời là cái đó chính phủ không đặt thành một vấn đề quan trọng. Ông tŕnh bày các sự kiện làm như 11 thành phố, thị trấn, thị xă vùng Sài g̣n và cùng đồng bằng mất trong hai tháng vừa qua không ảnh hưởng ǵ đến đời sống kinh tế của nước này.

 

Sau đó, trả lời câu hỏi về ư đồ của quân đội Bắc Việt Nam, ông nêu ra một tràng nhận định, lư lẽ mà tôi đă được nghe trong rất nhiều cuộc nói chuyện. Tôi đă thuộc ḷng những câu ấy, ông nói: “Tất cả những ǵ tôi có thể nói với các ông được là tôi mong quân đội Bắc Việt Nam mở cuộc tiến công rộng lớn trong một hay hai tháng nữa. Chắc chắn là thoạt đầu. Quân đội Nam Việt Nam phải rút lui. Họ thường làm thế. Nhưng cuối cùng, họ sẽ đánh cho quân đội Bắc Việt Nam một trận thắng quyết định, như năm 1972”.

 

Đoàn đại biểu quốc hội Mỹ càng tỏ ra không hài ḷng sau cuộc gặp mặt với tổng thống Thiệu. Thiệu từ chối không trả lời về những cuộc tra tấn trong các nhà tù, và ông ta khẳng định rằng 18 nhà báo ông vừa cho bắt đều là những người cộng sản đă được công nhận. Nhờ những nguồn tin của ḿnh, sứ quán biết rơ điều đó không đúng. Những nhà báo ấy chỉ phạm tội phê phán chính phủ Thiệu, nhưng chúng tôi không nói ǵ với những vị khách.

 

Có lúc, Fraser và nhiều đồng nghiệp của ông đề nghị gặp riêng tôi, cùng một viên chức nữa của CIA, để có nhận định khách quan hơn về những việc Polgar và Martin đă tŕnh bày với họ. Trong cuộc nói chuyện này, tôi cố gắng đứng trung gian giữa nhận định chính thức của sứ quán và sự thật mà tôi nắm được. Tôi giải thích rằng quân đội Bắc Việt Nam gặp khó khăn triền miên và nhất là có sự hoà dịu  không chắc chắn giữa Matxcơva và Hoa Thịnh Đốn. (tr.107)

 

Tôi sắp sửa kết thúc bản tŕnh bày th́ cửa mở bất th́nh ĺnh và bà Abzug, đại diện bang Manhattan, đi vào, cái mũ panama rộng vành lắc lư trên tai bà như một cái lầu dựng trước gió mùa. Bà kêu lên: “Làm cái ǵ ở đây?” Tôi không cần người ta phải nhắc tôi, tôi nghĩ ǵ về CIA và “ảnh hưởng” của nó trên thế giới: Tôi quyết định tự giới thiệu và đương đầu với điều xấu nhất. Tôi đứng dậy nói với bà: “Tôi là một viên chức của CIA” và thánh thức, với một giọng châm biếm, tôi tiếp: “Bà hăy coi chừng về những điều bà sắp nói!” Bà quay phắt lại tôi như thể tôi đă ném một chiếc găng vào mặt, nh́n chằm chằm vào tôi và thét lên (không có một vẻ châm biếm nào): “Anh hăy coi chừng những điều anh nói, cút đi!” Buổi trao đổi thật thà, duy nhát giữa tôi với những vị khách chấm dứt một cách thiếu lịch sự như thế.

 

Nếu không có sự can thiệp của cộng sản th́ cuộc viếng thăm của đoàn đại biểu quốc hội thất bại hoàn toàn. Nhưng mấy giờ sau khi họ rời sứ quán, họ đi xe hơi đến trại David ở Tân Sơn Nhất để gặp các đại biểu Bắc Việt Nam và chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng ḥa miền Nam Việt Nam trong ủy ban quân sự. Các nghị sĩ đă báo cho những người này biết họ muốn có một cuộc thảo luận cởi mở, không tuyên truyền, không lên án, về 1300 lính Mỹ vẫn mất tích. Nhưng khi họ đến trại David th́ ở đó đă có khoảng 76 nhà báo do người Bắc Việt Nam mời. Pḥng họp được trang trí nhiều cờ Việt cộng và một tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó không hẳn là trang trí cho một buổi họp không có dụng ư. Hơn thế, hai đoàn đại biểu cộng sản đều tỏ ra không khoan nhượng, tránh né đến mức nhiều nghị sĩ phải ra về, quyết định sẽ bỏ phiếu cho viện trợ bổ sung cho Sài G̣n, đơn giản là để tỏ thái độ phản đối.

 

Sự quay ngoắt này chỉ là thắng lợi ngắn ngủi của chính phủ. Mấy tuần sau, sự tan ră của quân đội Việt Nam, làm cho đề nghị cấp thêm viện trợ trở thành vô lư. Sứ quán cũng phải trả giá cho sự giả dối của ḿnh trong cuộc đón tiếp đoàn đại biểu quốc hội. Quá chú ư bảo vệ quyền lợi của chế độ Sài g̣n, (tr.108) chúng tôi chỉ làm cho các vị khách hiểu rơ sự bất lực của chúng tôi trong việc nhận định khách quan bất cứ việc ǵ. T́nh h́nh ấy làm cho công việc của chúng tôi càng thêm khó khăn, phức tạp trong những tuần sau, khi chúng tôi cần phải làm cho những người bạn ở quốc hội thấy rơ sự trầm trọng về mặt quân sự.

 

Mọi sự nghi nhờ, mọi lời phê phán đều đổ lên đầu bản thân Martin. Ở Sài g̣n, một thượng nghị sĩ tuyên bố với phóng viên báo chí rằng Martin là “sự phá hoại”. C̣n Abzug và Fraser th́ quyết định mọi việc để Martin phải thuyên chuyển đi.

 

Tất cả những việc ấy có làm Martin nản ḷng không? Dù sao, ông cũng không tỏ ra như thế. Ông vẫn tin vào địa vị của ḿnh, vào quan hệ giữa ông với Kissinger. Buổi chiều ngày 2 tháng 3, trong khi các đại biểu quốc hội ra sân bay Tân Sơn Nhất về Hoa Kỳ, Martin lại làm một việc không có lợi nữa. Ông cho đỗ chiếc xe đen của ḿnh trước pḥng khách dành cho các đại biểu, đúng lúc các vị sắp lên máy bay. Ông bước những bước dài vào trong pḥng và nói với một nhóm rằng ông muốn được cùng đi về Hoa Thịnh Đốn. Ông c̣n nhiều điều muốn nói với họ về dư luật viện trợ cho Nam Việt Nam và ông rất biết ơn họ nếu họ dành cho ông một chỗ trong máy bay. Các vị nghị sĩ tỏ ra không thích lắm. Họ cho là đă làm việc quá nhiều với Martin, một chuyến đi dài với Martin sau một tuần làm việc mệt nhọc ở Đông Dương quả là không thú vị tí nào. Nhưng Martin cố nằn ń đến mức mà ông trưởng đoàn phải bằng ḷng, hoàn toàn v́ xă giao.

 

Trong chuyến đi này, Martin dành phần lớn th́ giờ để xem lại những tài liệu và điều ghi chép mật. Thỉnh thoảng để cho thoải mái, ông cầm ve áo viên chức bộ ngoại giao đi theo đoàn đại biểu quốc hội, trách anh ta đă để một số nghị sĩ tiếp xúc với nhân viên cấp thấp ở sứ quán như tôi chẳng hạn.

 

Giữa cuộc viếng thăm túi bụi của các đại biểu quốc hội, ở ngoài mặt trận, có một sự yên tĩnh bất ngờ, điều mà Polgar (tr.109) cho là một sự đánh lừa chính trị. Ông nói rằng, cộng sản làm như vậy là muốn thuyết phục những vị khách quan trọng của chúng tôi là chiến tranh đă chấm dứt, không cần phải cấp viện trợ mới cho Sài G̣n nữa.

 

Có lẽ ông ta nói đúng nhưng chỉ một phần thôi. V́ nếu sự yên tĩnh là một sự đánh lừa th́ đồng thời nó cũng là một sự cần thiết. Bắc Việt Nam, sau khi đánh chiếm được Phước Long, đă đổi hướng tiến công. Quân lính của họ phải có th́ giờ thở rồi mới có thể tiến về phía thị xă Buôn Mê Thuột trên Tây Nguyên được.

 

Bộ Tổng tư lệnh Nam Việt Nam không phải là không biết những cuộc hành quân của đối phương. Mấy ngày gần đây, sĩ quan t́nh báo của quân đội Nam Việt Nam ở Quân khu II đă khám phá được nhiều dấu hiệu chứng tỏ có những hoạt động ấy. Và, cũng lúc ấy, nhân viên t́nh báo của chính phủ ở Quảng Đức, phía Nam thị xă Buôn Mê Thuột báo cho chúng tôi biết sự có mặt của nhiều đơn vị quan trọng quân đội Bắc Việt Nam ở Campuchia bên kia biên giới.

Tướng Phạm Văn phú, tư lệnh Quân khu II tỏ ra bối rối trước những phát hiện ấy. v́ ông ta chẳng có đủ lực lượng ở Tây Nguyên để có thể bảo vệ cùng một lúc tất cả mục tiêu. Sư đoàn 23, sư đoàn thiện chiến nhất của Nam Việt Nam bị phân tán quá mỏng. Hai trung đoàn đóng rải rác ở Kontum và Pleiku, trung đoàn thứ ba bị chia cắt trên mặt trận Buôn Mê Thuột - Quảng Đức. Để đối phó với cuộc tiến công vào Buôn Mê Thuột, tướng Phú cũng biết rằng phải gọi 2 trung đoàn về, có khi hơn thế, tuỳ theo lực lượng của địch. Nhưng vấn đề đối với ông ta là chỉ có thể giải phóng những đơn vị bổ sung khi ông ta bỏ việc bảo vệ Kontum và Pleiku, việc đó ông ta không dám làm. Hai tỉnh này rất quan trọng về mặt chiến lược. Không những nằm trên những đường chính theo đó, quân Bắc Việt Nam thâm nhập từ Lào và Campuchia về mà hai tỉnh đó c̣n là điểm tựa nhảy ra bờ biển. Con đường chính Đông-Tây của Quân khu II, là con đường số 19, nối Pleiku với Qui Nhơn. Nếu (tr.110) cộng sản định cắt nước này ra làm đôi như trước đây họ thường định làm nhưng thất bại, th́ con đường số 19 là mục tiêu lựa chọn. Do đó, chính phủ Nam Việt Nam ra lệnh phải giữ với bất cứ giá nào, con đường này - là đường nhánh đi về phía Tây đến Pleiku.

 

Trước những sự kiện tối cần thiết đó, những tin tức nghèo nàn của tỉnh Quảng Đức không thể giải thích cho một sự sắp xếp lại lực lượng quan trọng. Nếu sư đoàn 320 của quân đội Bắc Việt Nam thật sự đă từ Pleiku kéo đi Buôn Mê Thuột th́ quân của Phú cũng phải hướng theo đó.

 

Nếu như nguồn tin không chính xác và Phú lại chuyển lực lượng đi th́ coi như Pleiku và Kontum sẽ mất.

 

Phú giải thích: không, tôi không thể liều như thế được. Phải để quân đóng yên tại chỗ, giữ đại bộ phận trong đó có hầu hết sư đoàn 23, tập trung trên cao nguyên phía Bắc. Để bảo vệ quyết định của ḿnh, Phú nêu ra những tin tức thu được qua đài phát thanh của cộng sản. Những tin ấy có vẻ chỉ rằng sở chỉ huy của đoàn 320 vẫn đóng ở căn cứ cũ của họ, ở Đức Cơ, phía Tây Pleiku. Nếu đúng như thế th́ những tin tức t́nh báo làm cho người ta lầm lẫn và Buôn Mê Thuột không phải là mục tiêu của sư đoàn 320.

 

T́nh h́nh sau đó chứng tỏ Phú tin không đúng và nghi cũng không đúng. Để che giấu mục tiêu tiến công của họ trên Tây Nguyên, quân đội Bắc Việt Nam tổ chức một sở chỉ huy giả ở Đức Cơ và từ đó đánh điện đi các nơi để làm cho quân đội Nam Việt Nam tưởng lầm rằng sư đoàn 320 vẫn ở đấy. Mánh khoé này đă đánh lừa được cả chúng tôi. Nó gây ra hậu quả tai hại cho cho đế Sài G̣n.

 

Trong khi Phú đang t́m hiểu những mục tiêu của Bắc Việt Nam th́ họ tiếp tục chuẩn bị tiến công. Cuối tháng 2, Đại tướng Dũng đă hoàn thành công việc này và đặt sở chỉ huy ở phía Tây Buôn Mê Thuột.

 

Để giữ bí mật có mặt của ḿnh, ông không giao thiệp bằng radio, chỉ nói chuyện với Hà Nội bằng dây nói. Việc đó (tr.111) giảm nguy cơ bị khám phá nhưng có sự nguy hiểm riêng. Thiết bị cũ kỹ và điện chập, dây nói có thể gây ra cháy trong một vùng đất hanh khô. Ông viết trong hồi kư: “Sĩ quan thông tin liên lạc nhận một nhiệm vụ rất nặng. Mỗi khi có một đám cháy nhỏ đốt dây nói, binh sĩ của chúng ta phải chiến đấu dập tắt lửa, đến khi dập tắt được th́ người họ đen như những khai thác than”.

 

Đến được ít lâu th́ tướng Dũng và phó của ông, Trung tướng Hoàng Minh Thảo triệu tập các chỉ huy đơn vị để so sánh lực lượng. Họ kết luận rằng lực lượng đôi bên trên Tây Nguyên gần như ngang nhau, nhưng quân đội Bắc Việt Nam không có vùng đất cụ thể phải bảo vệ, có thể di chuyển và tiến công vào bất cứ hướng nào để làm chủ t́nh h́nh. Đó là ch́a khoá để tiến công Buôn Mê Thuột, chưa kể đến mưu lược và thời cơ bất ngờ. Họ vẫn tiếp tục làm cho Phú tưởng lầm rằng cuộc tiến công chủ yếu nhằm vào phía Bắc Tây Nguyên nên đă ngăn cản được Phú cho quân về giữ Buôn Mê Thuột. Tướng Dũng nói với bộ tham mưu rằng chiến dịch này được chia làm nhiều giai đoạn. Mới đầu, chặn tất cả các đường đi lên Tây Nguyên, tiếp sau là tiến công Buôn Mê Thuột. Có thể ồ ạt đánh chiếm thị xă nhưng ông đă đưa ra một kế hoạch gọi là “hoa sen nở”: quân đội bí mật triển khai trước đánh thẳng ngay vào trung tâm thị xă, nhanh chóng diệt đầu năo chỉ huy của địch rồi mới phát triển trở ra tiêu diệt địch bên ngoài thị xă.

 

Nhờ có nhiều nhân viên t́nh báo và bắt được thông điệp gửi radio của Phú, tướng dũng hiểu ngay rằng Phú gặp nhiều khó khăn trong việc chống đỡ với quân của ông. Không những bộ chỉ huy Nam Việt Nam mất dấu vết sư đoàn 320 Bắc Việt Nam mà c̣n chưa t́m thấy sư đoàn 10 đúng ra phải tiến về phía Kontum và Pleiku. Trên thực tế, sư đoàn này hành quân xuống phía Nam, hỗ trợ cho sư đoàn 320 ở Buôn Mê Thuột. Nhưng Phú không hề biết. Tướng Dũng quyết định làm tăng thêm mối do dự của ông ta. Ông ra lệnh cho những đơn vị c̣n lại ở Pleiku và Kontum mở những cuộc tiến công (tr.112) trong những vùng mà thường sư đoàn 10 vẫn hành quân để Phú tiếp tục đinh ninh rằng sư đoàn này vẫn c̣n ở đó.

 

Trong khi đó, sư đoàn 316 của Bắc Việt Nam đến phía Tây Buôn Mê Thuột, hỗ trợ cho trận đánh. Cũng như Tướng Dũng, sư đoàn này hành quân liền trong ba tuần, không dùng radio từ Bắc vào. Cuối tháng 2, ba sư đoàn Bắc Việt Nam sẵn sàng tiến công thị xă. Như thế tướng Dũng có lợi thế: năm chọi một. Cùng lúc ấy, sư đoàn khác, sư đoàn 968 từ Nam Lào tới, quấy rối vùng giữa Kontum và Pleiku.

 

Ở sứ quán Mỹ tại Sài G̣n, chúng tôi không hề biết Đại tướng Văn Tiến Dũng đang ở miền Nam Việt Nam. Lại cũng không biết việc ông đặt sở chỉ huy ở phía Tây Nam Buôn Mê Thuột, đang chuẩn bị tiến công thị xă. Quân tiếp viện Bắc Việt Nam kéo vào vừng này không hề ai biết và không có người nào trả tiền cho một vài người cung cấp tin nói về việc trên. Nếu đúng là cộng sản chuẩn bị mở một chiến dịch mùa khô mới th́ không một ai trong chúng tôi biết rơ mục tiêu chính của họ.

 

Chúng tôi cũng không biết ǵ hơn về dự án của Sài G̣n. Thiệu vẫn cho là không có lợi ǵ khi chúng tôi biết chủ trương rút sư đoàn dù khỏi Quân khu I - một chủ trương vừa tai hại đối với diễn biến cuộc chiến tranh hai tháng sau đó, vừa tai hại cho việc giữ Buôn Mê Thuột. Joe Kingsley, đồng nghiệp văn pḥng mới của tôi, chăm chú theo dơi t́nh h́nh Quân khu I. Trên tầng sáu của sứ quán, người ta chỉ dự kiến những thay đổi nhỏ trên pḥng tuyến quân đội Nam Việt Nam, trong những tuần sau.

 

Trong khi Joe và tôi trao đổi nhận định với nhau th́ bà Pat Johnson, nhân viên thứ ba trong ê líp phân tích tin nhỏ bé của chúng tôi, ngày càng phải chăm chú theo dơi t́nh h́nh ở Campuchia. Ở đây, cuộc khủng hoảng phát triển từng giờ.

 

Mọi công đường tiếp tế đều bị cắt đứt, Phnôm Pênh hoàn toàn tiếp tục phụ thuộc vào cầu hàng không Mỹ chở lương thực, thực phẩm và thiết bị quân sự đến. Quân Khmer đỏ đă nă rốc kết và đạn súng cối vào sân bay. Họ sử dụng cả một (tr.113) thứ vũ khí nặng và lợi hại: đại bác 105 milimét, loại vũ khí thu được của Mỹ, chắc chắn đây là quà của Bắc Việt Nam.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, bộ Ngoại giao tỏ ra hết sức lo lắng và báo tin rằng tàu sân bay Okinawa, chở hải quân và máy bay lên thẳng đang chạy về phía vịnh Thái Lan, để đón bốn trăm người Mỹ dân sự ở Campuchia di tản. Ít lâu sau, bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger, trước mặt các nhà báo, công nhận rằng có thể gửi hải quân đến Phnôm Pênh để cứu những người Mỹ nếu không c̣n cách nào khác để bảo vệ sự an ninh của họ. Nhiều người phát ngôn của chính phủ lập tức phải đính chính rằng: hải quân chỉ đến thay nhau bảo vệ sân bay Phnôm Pênh. Việc đó rất cần. Mặc dù hiến pháp cho phép tổng thống Ford dùng nhiều biện pháp để bảo vệ người Mỹ ở nước ngoài, nhưng người ta đặt câu hỏi tổng thống có thể đi đến dùng biện pháp ǵ ở Campuchia và Việt Nam. Luật được thông qua năm 1973 về quyền hạn lúc cấp thiết và việc chấm dứt ném bom ở Campuchia đă cấm tổng thống nhất thiết không được đưa quân đội đến Đông Dương nếu không có sự chuẩn y trước của quốc hội.

 

Trong khi quân Khmer đỏ khép chặt ṿng vây chung quanh Phnôm Pênh th́ một số cố gắng không đâu được diễn ra, gây thành một cuộc xung đột trên sân khấu chính trị. Ngày 3 tháng 3, Lon Nol đề nghị một cuộc xuống thang để đảm bảo ḥa b́nh như ông ta đă nói hồi tháng 7 và tháng 11 năm trước. Nhưng cũng như năm trước, việc đó không có kết quả. Quân Khmer đỏ đă gần thắng lợi hoàn toàn để có thể chấp nhận bất cứ việc ǵ.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, một số người ngày càng đông, nhất là trong quốc hội, tưởng ḿnh là chuyên gia về Đông Dương, cho rằng chính phủ Hoa Kỳ t́m giải pháp chưa đúng chỗ. Đáng lẽ phải nói chuyện với những người đang tiến công, họ lại muốn Kissinger nói với Liên Xô và Trung Quốc giúp Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Campuchia và Việt Nam. Quan chức Bộ Ngoại giao cho biết họ không tin vào giải pháp ấy, nhất là ở Campuchia, Lon Nol không c̣n ǵ trong tay để thương lượng. Nhân (tr.114) viên sứ quán Phnôm Pênh c̣n tỏ ra thật thà hơn! Đại sứ John Gunther Dean b́nh tĩnh nói với các nhà báo rằng, điều mong muốn tốt nhất là một cuộc đầu hàng có điều kiện.

 

Kissinger, về phía ông, lại muốn kiếm càng nhiều lời càng tốt trong một t́nh h́nh xấu. Không phải ông bất đồng với Dean. Nhưng đă nh́n thấy sự thất bại hoàn toàn, ông muốn hạn chế những hậu quả tai hại có thể có, đối với quyền lợi của Hoa Kỳ ở các nơi khác trên thế giới. Việc này đ̣i hỏi, theo ư ông, một sự độ lượng giả tạo của chính phủ Mỹ.

 

Trong những buổi họp mặt của Ủy ban đối ngoại thượng nghị viện, trong tuần đầu tháng ba, ông tŕnh bày chủ trương của ông. Nếu việc đó đúng th́ chính phủ Lon Nol sắp sụp đổ, nhưng nhất thiết Hoa Kỳ cứ tiếp tục viện trợ, để mọi người sau này, không có thể đổ cho Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về thảm hoạ ấy. Tổng thống Ford công khai tuyên bố theo hướng đó và giải thích với các nhà báo rằng: hoăn viện trợ cho Campuchia hay cho Việt Nam trong lúc nghiêm trọng như thế này sẽ làm cho người ta nghi ngờ sự ngay thẳng của Hoa Kỳ và khuyến khích sự xâm lược.

 

Một số đại biểu quốc hội cũng như các nhà báo nhận thấy trong những lời tuyên bố trên, có việc quay trở về thuyết đomino của Johnson, nhưng che giấu tồi. Nhưng trên thực tế Kissinger và tổng thống Ford có trong đầu một việc ǵ đó khẩn cấp hơn. Mấy ngày trước đó, tổng thống Ai Cập Anouar el Sadat đă bí mật báo cho các ông: ông ta nhận t́m những biện pháp thoả hiệp mới ở Trung Đông. V́ vậy, sự bảo đảm và cam kết của Hoa Kỳ cần cho công việc ấy.

 

Trước khi đi Trung Đông ngày 7 tháng 3, để nối lại cuộc đàm phán ngoại giao, Kissinger chỉ thị cho các công tác viên: các ông hăy làm hết mức có thể có để quốc hội đồng ư viện trợ cho Campuchia và Việt Nam - làm việc ấy không phải v́ có thể cứu văn được hai nước ấy mà là v́ không thể cứu văn được!

 

Trong khi Kissinger chú trọng đến nơi khác th́ mây mù nhanh chóng bao phủ lên Việt Nam. Cuối tuần đầu tháng 3, (tr.115) quân đội Bắc Việt Nam mở rộng việc tuyển và rèn luyện quân sự. Trong sáu tháng gần đây, số quân thâm nhập miền Nam lên tới hơn 63.000 người. Tăng gấp hai lần so với thời kỳ 1973-1974. Thâm nhập nhiều nhất là trong bốn tuần qua, kể cả việc tăng cường tiếp tế vào miền Nam.

 

Theo tin chúng tôi nhận được th́ hơn một nửa quân tiếp viện chúng tôi theo dơi được, đóng trong vùng Sài G̣n và cùng đồng bằng. Số c̣n lại đi Tây Nguyên và ra bờ biển. Đối với Joe Kingsley, bản thân tôi và các đồng nghiệp ở phái bộ quân sự th́ đó là chứng cớ chỉ rơ cuộc tiến công chính trong mấy tuần tới sẽ diễn ra ở nữa phía Nam nước này. Cái mà chúng tôi chắc không biết, là ngoài 63.000 quân, c̣n đầy đủ một sư đoàn, sư đoàn 316 đă vào miền Nam để tham gia cuộc tiến công thị xă Buôn Mê Thuột.

 

Các cơ quan t́nh báo của chúng tôi c̣n gửi nhiền tin khác lo ngại. Trong bốn tuần qua, lực lượng không quân Bắc Việt Nam bắt đầu chuẩn bị cho máy bay đi đánh những mục tiêu ở Quân khu I, nhiều máy bay Mig được gửi tới. Ngoài ra, một thứ trưởng ngoại giao Liên Xô cũng mới đến Hà Nội. Ở Sài G̣n, chúng tôi không thể nhận định được cái ǵ họ sẽ thảo luận với nhau, nhưng thấy viện trợ quân sự của Liên Xô cho Hà Nội ngày càng tăng, trong khi chúng tôi lại cho là có thể vị thứ trưởng này chỉ đến thăm xă giao Bộ Chính trị!

 

Quân đội Bắc Việt Nam mở đầu cuộc tiến công Buôn Mê Thuột trên Tây Nguyên ngày 1 tháng 3, bằng việc đánh chiếm làng nhỏ Đức Lập, một đồn duy nhất của Nam Việt Nam đóng xa, giữa biên giới Campuchia và thị xă. Nhiều đơn vị quân đội Bắc Việt Nam đánh nhiều vị trí tiền tiêu dọc đường 19 giữa Pleiku và bờ biển, cắt hẳn con đường này. Ngày 4 tháng 3, việc duy nhất c̣n lại để hoàn thành giai đoạn đầu cuộc tiến công của ông Dũng, đó là việc đánh cắt đường số 14 giữa Pleiku và Buôn Mê Thuột. Nhưng ông Dũng muốn hoăn lại càng lâu càng tốt để không làm lộ lực lượng và nơi đóng quân. Một số phần tử quá sốt ruột của sư đoàn 320 quân đội Bắc Việt Nam chặn đánh (tr.116) một đoàn xe nhỏ trên đường ấy, thế là làm lộ nơi đóng quân.

 

Ở sở chỉ huy tướng Phú, tại Pleiku, trưởng ban t́nh báo nhanh chóng nói với Phú và nhận định rằng Buôn Mê Thuột sắp bị tiến công, Phú vẫn nghi ngờ, nhưng sau ông cũng quyết định gửi một trung đoàn đến làng Buôn Hồ, cách thị xă 40 kilômét về phía Bắc, để chặn một trung đoàn quân Bắc Việt Nam đă đóng ở đó.

 

T́nh h́nh này làm cho Dũng xét lại kế hoạch. Nếu để đơn vị Nam Việt Nam mới đến mở rộng cuộc đánh thăm ḍ th́ ông mất yếu tố bất ngờ. Như thế việc phải tiến công Buôn Mê Thuột chỉ c̣n là công việc trong 24 giờ.

 

Trong khi đó ở Sài G̣n, tôi làm xong một bản nhận định về chiến lược của quân đội Bắc Việt Nam cho Hoa Thịnh Đốn, trong đó tôi nêu rơ tất cả những ǵ chúng tôi biết về ư định của Bắc Việt Nam. Sau khi điểm lại cuộc leo thang vừa rồi về người và tiếp tế (trước chưa hề nhiều như thế) và giai đoạn đầu cuộc tiến công của cộng sản hồi tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm 1975 (mà phạm vi và mức độ vượt quá những trận đánh từ ngày ngừng bắn đến nay), tôi nhận dịnh cho một thời kỳ ngắn. Tôi dự kiến, ít nhất sẽ có bốn sư đoàn Bắc Việt Nam định cô lập Huế và Đà Nẵng trong những tuần tới, c̣n những đơn vị khác sẽ đánh lấn những vùng ở bờ biển phía Nam Quân khu I. Có thể đồng thời họ sẽ tiến công Quân khu II vào hệ thống đường sá ở phía Nam, phía Đông các thị xă Kontum Pleiku và chung quanh Buôn Mê Thuột.

 

Mặc dù rất thiếu tin về một số vấn đề quan trọng tôi cũng đă dự đoán được, trên nét lớn, những việc Bắc Việt Nam sẽ làm trong những tuần tới. Có một điểm quan trọng nhưng tôi không ṃ ra: tôi không dự kiến được cộng sản sẽ đánh vào nơi nào đầu tiên.

 

Tuy có chú ư đến những cuộc chuyển quân không b́nh thường ở phía Tây và phía Bắc Buôn Mê Thuột nhưng tôi nghĩ không nên vột kết luận một cách bi quan. Đáng lẽ nói là sẽ có cuộc tiến công vào thị xă, tôi dự đoán rằng cộng sản có ư định (tr.117) bao vây nó bằng cách cắt mọi đường giao thông trong vùng. Đó là một sai lầm lớn do sự dốt nát của tôi.

 

Khi định làm bản báo cáo, tôi nhận thấy có ít tin tức về ư định của Bắc Việt Nam ở Tây Nguyên so với những nơi khác. Một trong những nguyên nhân chính đẻ ra t́nh trạng này là do tham nhũng ngay trong hàng ngũ CIA. Mười tám tháng trước, chuyên gia kế toán chi nhánh Sài G̣n đă khám phá thấy một trong những viên chức chính ở chi nhánh Nha Trang đă “quản lư tồi” dùng để xây dựng mạng lưới trên cao nguyên và những vùng khác ở Quân khu II. Viên chức này chỉ bị phê b́nh và đuổi về Mỹ, nhưng việc “quản lư tồi” của ông ta không thể sữa chữa được và những người thay ông ta không bao giờ có một mạng lưới điệp viên làm được việc.

 

Mùa Hè 1974, trùm CIA ở Quân khu II quyết định một cách dễ dăi, đóng cửa chi nhánh Buôn Mê Thuột nói là để tiết kiệm. Điều đó giải thích v́ sao, lúc tôi bắt đầu nghiên cứu tỉ mỉ tin tức trong những tuần đầu tháng 3, tôi thấy tập hồ sơ về Tây Nguyên mỏng kinh khủng. Tôi chỉ c̣n biết làm một việc mà một người phân tích tin phải chịu trách nhiệm một ḿnh: dự đoán những ư định của kẻ thù. Và tôi đă hoàn toàn lầm lẫn.

 

Ngày 7 tháng 3, mấy giờ sau khi báo cáo của tôi được điện đi Hoa Thịnh Đốn, tôi bay đi Bangkok để gặp một số đồng nghiệp là chuyên gia về Bắc Việt Nam. Buổi chiều ấy, chúng tôi t́m hiểu ư đồ của Thiệu trước t́nh h́nh mỗi ngày một nguy ngập. Một đồng nghiệp muốn biết v́ sao Thiệu không tính đến việc bỏ đất đai, nhờ đó ông ta sẽ tranh thủ được thời gian và củng cố lực lượng. Tôi trả lời một cách tự nhiên: “quân đội của ông không chịu nổi sự khó chịu về một cuộc rút lui chiếc lược. Chúng rất vô kỷ luật và tan ră trong quá tŕnh rút lui”. Tôi c̣n ở xa sự thật quá nhiều.

 

Trong hai ngày nghỉ cuối tuần, tướng Dũng khoé chặt ṿng vây. Chiều 8 tháng 3, quân dội Nam Việt Nam hành quân chung quanh Buôn Hồ, phía Bắc Buôn Mê Thuột, để tiếp tục trinh sát. Tướng Dũng quyết định hành động không để cho địch phát hiện. Ông ra lệnh cho sư đoàn 320 triển khai cấp tốc đánh vào khu vực đường số 14 giữa Buôn Hồ và Pleiku. Vài giờ sau, đường bị cắt, quân đội Nam Việt Nam ở phía Nam Tây Nguyên bị tách rời khỏi lực lượng của Phú ở phía Bắc.

 

Lúc bấy giờ Phú mới hiểu ông phải làm ǵ. Ông ra lệnh đưa ngay cho một trung đoàn từ Pleiku xuống vùng Buôn Hồ - Buôn Mê Thuột. Nhưng chỉ c̣n một trong bốn máy bay lên thẳng khổng lồ CH-47 bay được. Ông ta xin Sài G̣n giúp đỡ. Không c̣n máy bay lên thẳng nào nữa. Sứ quán có lúc định huy động máy bay lên thẳng của hải quân Mỹ, nhưng hải quân không đồng ư, viện cớ như thế là vi phạm hiệp định Paris, hiệp định đă cấm mọi sự can thiệp mới của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh. Sáng ngày 9 tháng 3, tướng Dũng gửi một điện cho các đồng chí của ông ở Hà Nội, báo cáo kết quả chiến đấu giai đoạn một cửa chiến dịch đánh Buôn Mê Thuột. Phần cuối bưu điện viết: “Ngày 10 tháng 3, ta sẽ đánh Buôn Mê Thuột. Mọi điều kiện đều đầy đủ”.

 

Buổi trưa cùng ngày, lănh sự quán Nha Trang gọi Walt Martindale, đại diện tỉnh Quảng Đức, phía Nam Buôn Mê Thuột, ra lệnh cho ông này chuẩn bị rút lui. V́ chiến tranh diễn ra ác liệt giữa Quảng Đức và Buôn Mê Thuột nên lănh sự quán sợ Martindale sẽ bị bắt. Nhưng viên sĩ quan trẻ này từ chối v́ anh ta nói nếu anh rút th́ sẽ lôi cuốn theo cuộc rút chạy của quân Nam Việt Nam ở Quảng Đức.

 

Trên phía Bắc, ngay trong thị xă Buôn Mê Thuột, Paul Struharick, đại diện lănh sự quán ở đấy, vừa nghỉ hè về, anh cố gắng t́m hiểu t́nh h́nh quân sự. Chiều 9 tháng 3, anh gọi lănh sự quán Nha Trang và báo tin đi gặp tỉnh trưởng, cách chỗ anh mấy nhà, để kiểm tra lại những báo cáo mới nhất nói về cuộc chuyển quân của Bắc Việt Nam. Đó là cuộc nói chuyện cuối cùng của Struharick với lănh sự quán trước khi Bắc Việt Nam tiến công.

 

Buôn Mê Thuột và những đồi chung quanh trông như bức tranh của Donanier Rousseau. Bố cục và màu sắc y như bố cục và màu sắc của những bức tranh hồi thế kỷ thứ 19, từ màu đỏ đất sét cao nguyên đến màu xanh rực rỡ của cây cà phê và rừng rậm.(tr.119)

 

Vùng này từ lâu nổi tiếng yên tĩnh ở Việt Nam, sự yên tĩnh làm cho tôi ngạc nhiên. Chiến tranh không lan tới Buôn Mê Thuột từ năm 1968. Từ ngày ấy, hầu hết 150.000 dân trong tỉnh - nhưng người trông trọt Việt Nam, Trung Hoa, Pháp, Italia - đều thỏa hiệp được với cộng sản địa phương, để giữ ǵn hoà b́nh.

 

Một thú vui ở thị xă là đi thăm nhà sàn của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam. Đó là một cơ ngơi lớn bằng gỗ mái nhọn, trồng nhiều thông, giống như một quán rượu cổ xưa. Một nơi khác được nhiều khách đến là một ba lâu đời, cũ kỹ, ở giữa thị xă gọi là Bạch Thử. Chiều thứ bảy và sáng chủ nhật, những người trồng trọt đến đây uống một cốc bia trong khi đó vợ họ đi chợ ở trung tâm thị xă. Nếu bạn ở ba này ngày 9 tháng 3, th́ bạn sẽ nghe nói ngay đến việc chuyển quân của lực lượng công sản chung quanh thị xă. Nhưng những người trồng trọt chỉ nói chuyện với nhau, không nói với nhà chức trách Việt Nam ở địa phương. Họ sợ Việt cộng biết. Những điều họ biết không vượt ra ngoài đám người chung quanh “ba”.

 

Trước rạng đông 10 tháng 3, cộng sản tiến công thị xă, từ phía Bắc và phía Tây, tập trung đánh vào sân bay và kho để vũ khí. Lúc đó, quân đội Nam Việt Nam chỉ có hai tiểu đoàn, không đến 1.200 binh linh ở trung tâm thị xă và hai tiểu đoàn ở phía Bắc, cùng với gần một trung đoàn và một số đơn vị dân binh để tiếp viện. Trước đó, tướng Dũng hay động ba sư đoàn thiện chiến, 25.000 binh lính, trang bị đầy đủ, cả pháo binh. Trong những giờ đầu cuộc tiến công, máy bay Nam Việt Nam có đến yểm trợ cho những người bảo vệ thị xă. Nhưng, cũng như ở trận Phước Long, mấy tuần trước, những cuộc bắn phá của máy bay nguy hiểm đối với quân Nam Việt Nam hơn là đối với quân thù. Như thường lệ, bay cao 3.000 mét để tránh pháo pḥng không cộng sản, phi công ném bom vu vơ, trúng cả vào vị trí chỉ huy quân Nam Việt Nam ở trong thị xă. Sau đó, quân Nam Việt Nam tan ră. Lực lượng chính qui cũng như quân địa phương lần lượt bỏ vị trí. (tr.120)

 

Tướng Dũng viết trong hồi kư: “Năm giờ chiều ngày 10 tháng 3, chúng ta đă chiếm và khống chế được phần lớn thị xă và chuẩn bị tiến công sư đoàn bộ sư đoàn 23. Ngay từ đầu, pháo binh địch đă bị tê liệt, không quân không có hiệu lực.

 

Sau khi chiếm sở chỉ huy sư đoàn 23, ta tràn qua hậu cứ của trung đoàn 45. Tiếp đó, giải quyết xong các khu quân cảnh, cảnh sát, truyền tin, trường huấn luyện địa phương quân. Về cơ bản, ta đă giải quyết xong Buôn Mê Thuột lúc 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3 năm 1975. Chúng tôi mừng rỡ không sao kể xiết. Bộ đội hết sức phấn chấn. Một thị xă to như vậy mà đánh trong hơn 32 giờ đă xong. Đúng là sức mạnh của ta bây giờ quân địch không tài nào chống cự nổi...”

 

Trong khi trận đánh kết thúc th́ chính phủ Sài G̣n chưa có một ư niệm rơ ràng về những sự kiện đang xảy ra. Không phải là trước ngày 14 tháng 3, họ biết được tin thị xă Buôn Mê Thuột đă mất. Nguồn tin tức duy nhất họ biết là từ những bức ảnh do không quân Mỹ và do người Nam Việt Nam chụp. Những bức ảnh ấy gần như không nói với chúng tôi cái ǵ cả. Tôi nhớ có xem một vài tập ảnh một, hai ngày sau khi Bắc Việt Nam mở cuộc tiến công: thấy khói và đổ vỡ ở sân bay, phần c̣n lại trong thị xă có vẻ yên tĩnh, một vài xe tăng đổ ở chợ chính, gần “ba” Bạch Thử, một vài người từ từ đi xe đạp chung quanh. Từ những chứng cớ nghèo nàn ấy, chúng tôi cho rằng lực lượng chính phủ đă đẩy lùi được cuộc tiến công. Nhưng điều ngược lại mới là sự thật. Thị xă đă ở trong tay quân Bắc Việt Nam.

 

Do sự bất lực của chúng tôi trong việc theo dơi diễn biến của trận đánh nê chúng tôi đă khong cứu được những người phương Tây bị vây hăm trong thị xă: tâm mục sư Mỹ, một người Úc và Paul Struharick, đại diện lănh sự quán.

 

Khi tướng Dũng cho đoàn xe tằng đầu tiên vào Buôn Mê Thuột, những người phương Tây đều trú ẩn ở trụ sở của USAID và sở chỉ huy tỉnh, ở đây có nhiều lương thực dự (tr.121) trữ. Vào khoảng tâm giờ sáng hôm ấy, Struharick gửi một điện bằng radio cho lănh sự quán Nha Trang báo tin anh và các bạn anh bị xe tăng Bắc Việt Nam vây hăm. Lănh sự quán đă cho một máy bay lên thẳng đến cứu nhưng pháo pḥng không cộng sản không cho phép máy bay đỗ xuống. Khi quân của tướng Dũng chiếm được chiến luỹ cuối cùng th́ Struharick và những người trên bị bắt.

 

Bắc Việt Nam coi họ là những tư lệnh chiến tranh, giữ họ tám tháng, người ở Buôn Mê Thuột, người ở Pleiku trên phía Bắc. Struharick bị nghi là nhân viên t́nh báo CIA được giam riêng cẩn thận nhưng được đối đăi tử tế. Thức ăn c̣n hơn thức ăn của lính Bắc Việt Nam. Cuối cùng, đầu mùa Thu 1975, Bắc Việt Nam kết luận rằng mười tù binh của họ chỉ là những người khán giả vô thưởng cô phạt và thả họ ra cả.

 

 

 

Evacuation Evacuation 
Tiến Công Bộ đội Việt Nam và Ngụy VNCH Tháo Chạy Tán Loạn  Tây Nguyên

       

Khi tin Buôn Mê Thuột mất được chính thức công nhận th́ Kissinger đang bay từ Le Caire đến Tel Aviv. Ông vừa ngạc nhiên và bực ḿnh. Theo những cộng tác viên của ông, th́ ông không có vẻ ǵ cho đó là bước ngoặt không may của những sự kiện đưa đến một cuộc khủng hoảng trầm trọng của Nam Việt Nam. Theo ông, Buôn Mê Thuột không phải là quan trọng nhất đối với nền an ninh của nước này. Thị xă được rút bỏ có ư thức, theo một kế hoạch của chính phủ để chấn chỉnh lại mọi hoạt động sau này!

 

Trong khi những hậu quả chính trị của thất bại này làm rung chuyển Sài G̣n th́ Pat, Joe và tôi bắt đầu coi ḿnh như những người chạy trốn dưới làn đạn liên thanh. Một làn sóng tin tức tràn đến. Sau giờ làm việc, chúng tôi phải ở lại bàn giấy để chính đốn lại những bản đồ quân sự cho kịp thời và nhận định t́nh h́nh. Thật vậy, lúc tướng Dũng và quân của ông nhanh chóng đánh chiếm mục tiêu quan trọng nói trên th́ khắp nước này, bất th́nh ĺnh, chiến tranh lan rộng nhanh chóng. Ngày 8 tháng 3, quân du kích Việt cộng, đánh 15 ấp rải rác giữa Quảng Trị và Huế, ở Quân khu I. Ở phía Nam quân khu này, quân Bắc Việt Nam bao vây hai thị xă trong tỉnh Quảng Tín. Và trận tiến công dự kiến vào tỉnh Tây Ninh, phía (tr.122) Tây Bắc Sài G̣n, bất th́nh ĺnh nổ ra, trong khi đó những đơn vị cộng sản khác lại đánh chiếm một thị xă thứ ba, ở phía Đông thị xă Tây Ninh.

 

Như vậy, một, hai ngày sau cuộc tiến công Buôn Mê Thuột, quân chính phủ mất hết quyền chủ động trong cả nước và bộ tổng tư lệnh Sài G̣n rất bối rối trong việc t́m cách thoát ra khỏi t́nh h́nh. Sĩ quan duy nhất có ư kiến tốt tiếc thay lại đi vắng. Ngày 11 tháng 3, Tướng Đồng Văn Khuyên, tổng tham mưu trưởng quân đội - một người đặc biệt thân Mỹ - đi Nhật Bản thăm bố vừa phải mổ v́ ung thư. Khuyên đi vắng một tuần. Thế là không sử dụng được kinh nghiệm chiến đấu của ông và mối quan hệ tốt giữa ông ta với người Mỹ.

 

Sự vắng mặt của Khuyên không phải là việc duy nhất chính phủ phải giải quyết. Thiệu tự đặt cho ḿnh nhiều vấn đề. Bực ḿnh về cuộc tiến công bất giờ vào Buôn Mê Thuột, ông bắt đầu chửi rủa các sĩ quan t́nh báo, cho là họ đă đánh lừa ông ta, nhất là đối với Đại tá Lê Văn Lương, trưởng ban t́nh báo của bộ tổng tham mưu. Lương không có tội như phần lớn chúng tôi. Nhưng Thiệu cho là Lương bất lực. Thiệu mắng hẳn vào mặt Lương rồi không thêm nói ǵ với Lương nữa. Những người giúp việc Thiệu từ đấy mất ḷng tự tin và cơ quan t́nh báo của quân đội bị coi như không có trong những tuần cuối cùng cuộc chiến tranh.

 

 

CHIẾN LƯỢC "CỐ THỦ"

 

Mặc dù có những sai lầm về chiến thuật, Thiệu chưa hẳn là một gă giở người. Ông đă đọc chiến tranh nhân dân, đă chỉ huy quân đội đang đánh nhau. Với nhận thức của một cựu chiến binh, Thiệu biết rằng mục tiêu cuối cùng của những (tr.123) cuộc tiến công của cộng sản là cô lập Sài G̣n và phân tán quân đội Nam Việt Nam.

 

Bảo vệ Sài g̣n chỉ có ba sư đoàn trên pḥng tuyến thứ nhât, với hai lữ đoàn mới thành lập (một lữ đoàn lính thủy đánh bộ, một lữ dù) yểm hộ và một nhóm quân tuần tiễu. Rất ít, trước sáu sư đoàn hiện có của quân đội Bắc Việt Nam. Ngày 12 tháng 3, Thiệu đánh điện ra lệnh cho tướng Trưởng ở Đà Nẵng thay đổi kế hoạch và cho ngay một sư đoàn lính dù về Sài G̣n.

 

Sáng hôm sau, Thiệu họp hội đồng an ninh, phổ biến một quyết định c̣n quan trọng hơn. Sau mấy tháng thảo luận và từ chối, ông ta quyết định làm theo lời khuyên của nhiều cộng tác viên: bỏ những vùng cằn cỗi của đất nước, một phần Quân khu I và Quân khu II để tập trung lực lượng vào những vùng quan trọng nhất: chung quanh Sài G̣n. Thiệu gọi chiến lược này là chiến lược cố thủ, quyết tâm giữ phần đất c̣n lại.

 

Thủ tướng Khiêm và chuyên gia của ông ta nghiên cứu chiến lược này hai tuần nay. Thoạt tiên, chỉ là một cuột tập dượt để t́m giải pháp lâu dài và xem có những khó khăn rắc rối ǵ trong việc rút quân từ từ như tướng Trưởng đă làm ở Quân khu I.

 

Mấy ngày trước khi Buôn Mê Thuột thất thủ, bộ trưởng tài chính của Thiệu đă gặp Dan Ellerman, phụ trách tài chính ở sứ quán Mỹ. Ông đặt một số câu hỏi mà giới lân cận ông ta đang trao đổi: Martin có đồng ư rút bỏ một số đất đai không? Ở Hoa Thịnh Đốn đă thảo luận vấn đề này chưa? Ngày 11 tháng 3, trong khi Buôn Mê Thuột đang sống những giờ cuối cùng, Ellerman trả lời: Việc bỏ hay không một phần lănh thổ là việc của người Việt Nam tự giải quyết. Dù các ông làm việc ǵ, thế giới cũng phải tôn trọng cách giải quyết tốt của các ông.

 

Bức thư không chỉnh ấy, không cam kết một điều ǵ. Nhưng nó cho phép Thiệu quyết định dứt khoát. Nếu người Mỹ có thể hờ hững với một vấn đề quan trọng như vậy th́ việc ông làm sẽ không động chạm đến họ. Việc ǵ phải bám lấy (tr.124) mấy mảnh đất chỉ v́ một lư do đơn giản là để khỏi làm mất ḷng người Mỹ.

 

Do đó, Thiệu quyết định thay đổi chiến lược. Không cần phải giúp đỡ ǵ, đó là chiến lược “cố thủ”.

 

V́ thay đổi chủ trương quá nhanh, Thiệu không c̣n kịp nghĩ đến những hậu quả thực tế. Sáng 13 tháng 3, Thiệu phổ biến quyết định của ông ta làm cho ai cũng ngạc nhiên.

 

Khiêm và Viên thật ra muốn đặt một số câu hỏi thiết thực nhưng tiếc thay họ lại nghĩ rằng Thiệu đă chú ư đến quan điểm của họ và lúc này đây, không phải là lúc tranh luận.

 

Thiệu nói: Không có ai hỏi ǵ à? Thế th́ sang điểm khác của chương tŕnh họp: phản kích ngay ở Buôn Mê Thuột. Có vẻ, ông ta đă có dự kiến về vấn đề này. Trước hết phải xem có thật thị xă đă mất không (không một sĩ quan t́nh báo nào của ông có thể khẳng định việc này). Nếu thất thủ thật sự th́ làm mọi cách để giành lại. Ai giữ được Buôn Mê Thuột th́ đồng thời kiểm soát được đường vào phía Tây Sài G̣n.

 

Viên, khó chịu, ngồi không yên. Ông ta nói chắc chắn rằng là Buôn Mê Thuột có một tầm quan trọng lớn. Nhưng tướng Phú c̣n làm ǵ được nữa? Sư đoàn duy nhất không bị thương vong ở Tây Nguyên của Phú đă rải ra khắp nơi. Ở Buôn Mê Thuột, nhiều trung đoàn bị đánh tan tác coi như bị tiêu diệt. Có thể thả dù xuống hai trung đoàn để tiếp viện nhưng như thế th́ bỏ trống Pleiku và Kontum. Không c̣n quân trù bị để lấp lỗ trống.

 

Thiệu ngồi một lúc, hai tay chắp vào nhau, để dưới cằm Viêm nói đúng: không c̣n quân trù bị. Những đơn vị của Phú bị căng ra như mặt trống.

 

Ông ta đảo mắt nh́n chung quanh bàn họp, xem có ai phản ứng ǵ không. Không có. Tất cả, rất xu nịnh, đều đồng ư với ông ta. Ở bước ngoặt lịch sử của cuộc chiến tranh, ông ta cho tay vào túi, xoa cuống họng, và trong tiếng thở dài, tuyên bố quyết định. Ông ta nói: Phải bỏ Pleiku và Kontum thôi. Cuộc rút lui chiến lược bắt đầu từ hai tỉnh ấy. (tr.125)

 

Gian pḥng yên lặng. Thiện nói tiếp: một cuộc rút lui như thế rất hợp lư và cần thiết, sẽ giải phóng được lực lượng để cứu Buôn Mê Thuột. Ch́a khoá mọi cái nằm ở Buôn Mê Thuột.

 

Ngạc nhiên và lo sợ nhưng cộng tác viên của Thiệu không hề phản đối. Không có cả thảo luận. Cuối cùng Thiệu c̣n ra lệnh cho mọi người phải kín, không được nói cho ai biết kế hoạch mật này, nhất là không được nói với người Mỹ, họ có cơ hội để giúp ta, họ không làm, họ đă phản bội ta!

 

Xế chiều, Thiệu gặp Trưởng đi máy bay từ Đà Nẵng về. Ông ta tiếp Trưởng một cách lạnh nhạt v́ biết trước rằng viên tư lệnh Quân khu I chỉ về với mỗi một lư do: xin bỏ quyết định điều sư đoàn dù về Sài G̣n. Không thể được. Chiến lược mới “cố thủ” không cho phép làm việc ấy. Sư đoàn dù nhất thiết phải về ngay Sài g̣n.

 

Nhưng Trưởng rất lỳ. Hàng trăm lần, ông ta giải thích rằng quân của ông ta đang bị huy hiếp nặng. Vội vàng rút sư đoàn dù sẽ tạo nhiều lỗ hỏng trong pḥng tuyến bảo vệ của ông ta. Ông phải thay đổi, nói rơ hơn, sẽ phải bỏ thị xă Quảng Trị, chiến trường đẫm máu năm 1968, mất đi rồi giành lại năm 1972. Không thể điều sư đoàn lính thuỷ đánh bộ ra bảo vệ được, họ phải kéo về Huế và Đà Nẵng để thay sư đoàn dù.

 

Thiệu cúi đầu, có vẻ hiểu nhưng ông ta chỉ có một nhượng bộ. Ông ta nói: Việc rút sư đoàn dù có thể chậm lại những chỉ đến lúc Trưởng bố trí lại pḥng tuyến bảo vệ.

 

Trên cao nguyên ở phía Tây, trong sở chỉ huy của tướng Dũng, các sĩ quan và mọi người làm việc 24 giờ trên 24 giờ để báo cáo kịp thời mọi việc xảy ra trên khắp đất nước. Sau này, tướng Dũng viết: “Vẽ bản đồ không kịp bước quân đi. Bản đồ đầy những ṿng tṛn và dấu chữ thập đỏ đánh dấu những nơi đă tiêu diệt địch và những mục tiêu chiếm được. Chuông dây nối không ngừng kêu...các đồng chí công tác tại sở chỉ huy yên lặng làm việc và đi lại. Các đồng chí ấy phân phối thuốc lá hậu phương vừa gửi vào”.

 

Chỉ hai tuần trước đây, tướng Dũng được cử vào miền Nam với mục đích duy nhất: chỉ đạo trận tiến công Buôn Mê Thuột (tr.126). Nhưng nay, các pḥng tuyến của Nam Việt Nam đều vỡ. Tướng Dũng quyết định mở rộng các mục tiêu. Trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, thường những quyết định của vị tư lệnh này chỉ do một tin tốt của t́nh báo tạo nên. Trong những giờ cuối của trận tiến công Buôn Mê Thuột, quân của ông bắt sống được viên phó tư lệnh sư đoàn 23 Nam Việt Nam, một viên sĩ quan vừa nắm được t́nh h́nh vừa nói quá nhiều. Ông ta không trực tiếp biết chiến lược cố thủ, nhưng ông biết lôgic của vấn đề. Trong cuộc hỏi cung, ông đă nói rằng chắc chắn Thiệu phải bỏ Pleiku và Kontum đồng thời bỏ Qui Nhơn, thành phố ven biển. Lực lượng không quân đă tan ră và mất t́nh thần, nếu sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ thuộc Quân khu I bị đánh tan th́ đó là cả quân đội Nam Việt Nam đổ sụp.

 

Tướng Dũng rất mừng nên ngày 11 và 12 tháng 3 ông điện ra Hà Nội cho các đồng chí của ông những đề nghị táo bạo: không những giữ Buôn Mê Thuột với bất cứ giá nào mà c̣n mở rộng cuộc hành quân sang phía Đông Bắc Pleiku để cô lập Pleiku với Kuntom và chiếm lấy Tây Nguyên. Ông đề nghị đánh chiếm phía Bắc Huế, ở Quân khu I để Thiệu không thể điều sư đoàn dù và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ lên mặt trận Tây Nguyên.

 

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về những đề nghị của tướng Dũng. Như ông viết trong hồi kư, chỉ hai ngày sau có quyết định tập thể cuối cùng...

 

Theo kế hoạch mới, tướng Dũng phải hoàn thành việc tảo thanh chung quanh Buôn Mê Thuột, rồi đánh phía Bắc, cắt các đường giao thông quan trọng đồng thời đánh chiếm những thị xă có vị trí chiến lược. Theo dự kiến của Bộ Chính trị, Sài G̣n phải chọn giữa việc tập trung lực lượng ở Pleiku hay rút lui chiến lược và bỏ hoàn toàn Tây Nguyên, chắc là bỏ Tây Nguyên. Những đề nghị của tướng Dũng về việc phối hợp chiến trường cũng được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chuyển thành chỉ thị gửi đến các quân khu chấp hành. (tr.127)

 

Ít lâu sau thất bại Buôn Mê Thuột, một nhân viên t́nh báo của chúng tôi nghe lỏm được cuộc nói chuyện giữa hai sĩ quan quân đội Bắc Việt Nam. Một người hỏi: “Chúng ta tiếp tục tiến ra bờ biển hay dừng lại v́ mùa mưa? Người kia trả lời: Tiếp tục tiến ra bờ biển. Không thể dừng lại”. Đó là dấu hiệu báo tin quân đội Bắc Việt Nam sắp mở một cuộc tiến công rộng lớn.

 

Trong khi sứ quán phân tích tin mới này th́ người Mỹ sống và làm việc ở Tây Nguyên, gần chiến tuyến t́m nơi trú ẩn. Ngày 12 tháng 3, hai ngày sau cuộc tiến công Buôn Mê Thuột, Walt Martindale, đại diện lănh sự quán ở phía Nam tỉnh Quảng Đức, nhận được lệnh bỏ hết để rút nhanh. Viên chức lănh sự quán Pleiku cũng chuẩn bị ra đi. Lúc biết tin cuộc tiến công ồ ạt vào Buôn Mê Thuột, Earl Thieme, một viên chức 50 tuổi phụ trách cơ quan USAID ở địa phương, vội vàng nghiên cứu lại kế hoạch tản cư mà ông thấy chưa ổn. Ông không dự kiến được nhân dân địa phương có thể không tuân lệnh mà ở Pleiku có tới 60.000 dân, một nửa là người Kinh, một nửa là người Thượng, thị xă này giống như một thùng thuốc súng. Trong khi đó sĩ quan quân đội và không quân Nam Việt Nam đă vội vàng cho vợ con chạy ra khỏi thị xă, càng nhanh càng tốt.

 

Ngày 12 tháng 3, Thieme và một số nhân viên họp bàn để hoàn thành kế hoạch tản cư mới cho phù hợp với t́nh h́nh nóng bỏng lúc bấy giờ. Xế chiều, một nhân viên bay về Nha Trang đưa kế hoạch cho lănh sự quán.

 

Sáng hôm sau, một viên chức CIA gọi dây nói cho thủ trưởng là Howard Archer, trùm CIA ở Quân khu II. Ông này cho biết: Pleiku đă nhanh chóng biến thành một thị xă ma, cần cấp tốc tản cư người Mỹ. Archer đề nghị báo ngay cho tổng lănh sự.

 

Tổng lănh sự là Moncrieff Spear, một người mảnh, cao, kiêu ngạo, vẽ mơ màng, không thuộc loại viên chức cần được quân sự hoá mà t́nh h́nh nghiêm trọng ở Quân khu II lúc ấy đ̣i hỏi. Ông không thích Việt Nam mà cũng chẳng ưa cuộc chiến tranh kéo dài này. Thực tế, ông không muốn đến đây (tr.128). Trong 18 tháng ở Nha Trang ông không tỏ ra có một năng lực ǵ để điều khiển công việc. Đại sứ không dành cho ông khả năng phát huy sáng kiến. Ít lâu sau khi đến đây, Spear đă phạm sai lầm là lưu ư sứ quán đến t́nh h́nh mất an ninh ở Tây Nguyên. Martin đă nhắc nhở ông và cho rằng ông quá bi quan. Từ đó, Spear chấp hành nghiêm chỉnh mọi ư kiến của đại sứ.

 

Tuy vậy, cuộc tiến công Buôn Mê Thuột cũng bất ngờ đối với ông. Khi biết rơ tin Struharick và những người Mỹ khác đă đi khỏi rồi, Spear mới tự đặt cho ḿnh nhiều câu hỏi hắc búa. Tiếp tục xem t́nh h́nh một cách b́nh tĩnh và khôn ngoan như ư ông Martin hay đă đến lúc phải có sáng kiến riêng? Ngày 13 tháng 3, sau khi nghe Archer và nhân viên CIA ở Pleiku nói, Spear mới thấy rằng khôn ngoan th́ đi theo câu thứ hai. Vừa nói chuyện xong, ông quyết định cho tản cư ngay những nhân viên không cần thiết.

 

Sáng hôm sau, Spear và cộng tác viên của ông được nguồn tin Nam Việt Nam báo cho biết con đường chính ra khỏi Tây Nguyên về phía Nam đă bị cắt và hàng ngh́n người tỵ nạn đang chen chúc trên những con đường phụ đi ra bờ biển. Mấy giờ sau Archer báo cho sứ quán ở Sài G̣n, ông cho một máy bay lên thẳng và một đoàn phi hành đến Phước An, phía Đông Buôn Mê Thuột, để xem t́nh h́nh cuộc rút chạy. Những kẻ quá hăng trong chi nhánh CIA Sài G̣n khen ngợi hành vi dũng cảm ấy, đúng là truyền thống của ngành ḿnh. Khi John Pittman, phó của Polgar hỏi ư kiến tôi, tôi không giấu được vẻ ngạc nhiên . Tôi trả lời lực lượng Bắc Việt Nam tiến rất nhanh mà tin tức của chúng ta th́ thường không kịp thời, không hiểu lúc này Phước An có c̣n ở trong tay quân Nam Việt Nam không? Cuối cùng Pittman đồng ư với tôi và cấm Archer cho máy bay lên thẳng đi. Thật đúng lúc, v́ mấy giờ sau, Phước An bị bắn phá dữ dội và bị bao vây chặt.

 

Sáng 14, trời nóng và hanh, rơ là mùa khô. Từ Sài G̣n, nếu bay đi vịnh Cam Ranh, trên bờ biển miền Trung, mất gần một giờ. Qua cửa máy bay có thể nh́n rơ mặt trời chiếu xuống biển Đông như tấm mi ca đặt trên đá xám. (tr.129)

 

Tổng thống Thiệu, một ḿnh đọc những bản báo cáo từ mặt trận mới gửi về trong suốt cuộc hành tŕnh. Thủ tướng Khiêm, tướng Quang và tướng Viên b́nh tĩnh nói chuyện với nhau ở bên kia hành lang. Thiệu quyết định đi Cam Ranh để báo cho Phú, tư lệnh Quân khu II, chiến lược mới “cố thủ”.

 

Thiếu tướng Phạm Văn Phú từ lâu là một viên tướng được Thiệu ưa thích. Binh nh́ trong quân đội Pháp, ông ta đă chiến đấu trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất ở Đông Dương. Bị bắt ở Điện Biên Phủ với quân Pháp, ông ta bị giam trong trại tù binh của Việt Minh. Ở đây, theo nhận xét của cộng tác viên của ông ta, ông ta bị yếu đi và mất vẻ b́nh tỉnh (bị ho lao). Những năm sau, ông ta làm việc bên cạnh Thiệu, cùng với Thiệu tiến lên trong quân đội Sài G̣n do người Pháp huấn luyện và được người Mỹ bảo trợ. Trở thành tổng thống, Thiệu giao cho người bạn cũ, những nhiệm vụ quan trọng trước khi bổ nhiệm ông ta làm tư lệnh Quân khu II, thay Nguyễn Văn Toàn vào mùa Thu 1974.

 

Phú tự nhận thấy ḿnh chưa xứng đáng để nhận chức vụ ấy. Ông ta không phải là cán bộ tham mưu. Được đi huấn luyện hay được đi tập trận ngắn ngày th́ thấy dễ chịu hơn là phải ngồi nghiên cứu tính toán kế hoạch chiến lược. Những người biết ông ta từ lâu nói rằng ông ta có một nhược điểm lớn là rất sợ phải chiến đấu tại chỗ và bị địch bắt...

 

Tướng Toàn, cựu tư lệnh Quân khu II là một tên quân phiệt phong kiến, chiếm đất làm ấp, ăn của đút lót, yêu thích ai th́ cho người ấy chỗ làm việc tốt. Nay ông ta là tư lệnh Quân khu III. Phú do đó, có dưới quyền những sĩ quan bất lực, không chăm sóc binh lính, không dấu được vẻ khinh bỉ đối với người Thượng chiếm số đông trong quân đội Sài G̣n ở Tây Nguyên. Những thiếu sót về cán bộ, cộng với những nhược điểm của Phú, đương nhiên, chỉ đưa đến thảm hoạ.

 

Ở Cam Ranh, Phú cố t́nh tŕnh bày t́nh h́nh với chiến hữu cũ. Ông ta nói với Thiệu: lực lượng địch gồm bốn sư đoàn nay đang tỏa khắp vùng từ Pleiku đến Buôn Mê Thuột. Mọi đường đi ra bờ biển đều bị cắt. Với lực lượng ông ta có trong tay (tr.130), ông chỉ giữ được Tây Nguyên trong một, hai tháng với điều kiện được không quân yểm trợ tối đa, tiếp tế bằng không vận đầy đủ nhu cầu về vật liệu, vũ khí, đạn dược, bổ sung quân số đủ bù số thiệt hại nặng vừa qua.

Nghe những ư kiến ấy Thiệu tối mắt, như nằm trong mộng. Sau đó, ông ta nh́n Phú và lắc đầu: Không có ǵ hết, không có người, không có thiết bị để cung cấp cho anh. Quân đội đang bị phân tán một cách nguy hiểm ra khắp đất nước, lực lượng dự trữ cần được đưa về giữ những vùng cần bảo vệ. Không có phương tiện ǵ để tiếp viện cho việc bảo vệ Kontum và Pleiku cho nên phải rút khỏi hai tỉnh ấy, để bảo toàn lực lượng, lấy quân đưa về giữ đồng bằng ven biển, tiếp tế thuận lợi hơn và từ đó phản công lấy lại Buôn Mê Thuột.

 

Phú không tỏ ra phản ứng ǵ. Có lẽ hơi gật đầu, thế thôi. Cũng như trước, ông ta là chiến hữu của Thiệu, tận tuỵ và vâng lời.

 

Thấy Phú đă hiểu, Thiệu hỏi tiếp một vấn đề quan trọng: rút bằng đường nào? Đường 19 chạy giữa Tây Nguyên và đường 14 đi xuống Quân khu II đều bị chặn nhưng có thể phá được. Giữa hai đường, Phú chọn đường nào? Đến đây, Viên nói xen vào: Không đường nào quân đội của Phú có thể giải toả được. Chỉ c̣n đường 7B, một con đường cũ của sơn tràng đi về phía Đông, qua cái rón của vùng này là tỉnh Phú Bổn. Viên hỏi Phú về khả năng rút theo đường đó. Tư lệnh Quân khu II, một lần nữa, lại sẽ gật đầu.

 

Hội nghị sắp bế mạc, Phú hỏi bao giờ phải rút. Thiệu tránh không trả lời. Ông chỉ nói: Việc đó do Phú quyết định. Thiệu chỉ yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật quyết định cuối cùng. Không lực lượng địa phương nào, không người Thượng nào ở Kontum và Pleiku được biết. Sẽ có nhiều nguy hiểm. Họ sẽ phản bội.

 

Diễn biến của buổi họp, những vấn đề đưa ra thảo luận hết sức nông cạn và qua loa, và được giải quyết, đánh dấu bước ngoặt của lịch sử chiến tranh. Bản thân Thiệu đă nêu ra ư kiến này và ông dễ dàng bỏ qua một việc quan trọng là (tr.131) định ngày rút lui và quên hẳn số phận người Thượng là xương sống của quân đội Phú. C̣n tướng Viên, v́ sao không nêu ra những thiếu sót trong lập luận sai lầm của Thiệu?

 

Dù sao, Viên cũng đánh một đ̣n hiểm vào kế hoạch rút chạy khi ông ta chọn c̣n đường 7B mà chưa hiểu rơ đường ấy có c̣n đi được hay không. Đường ấy chắc chắn đă đưa quân của Phú đến chỗ bị tiêu diệt.

 

Hội nghị Cam Ranh vừa họp xong th́ sĩ quan tham mưu của Phú lại họp để làm kế hoạch rút lui. Họ quyết định để lại một phần sở chỉ huy ở Pleiku. Trong khi đó lănh sự quán Mỹ vội vàng chuẩn bị cho tản cư nhân viên người Mỹ và nhiều nhà kinh doanh Pháp, một nhóm thầy thuốc Niu-Dilơn và khoảng năm trăm người Việt Nam làm việc trực tiếp với người Mỹ. Tổng lănh sự Spear đồng ư lấy máy bay chở thư hàng ngày để chở người tản cư.

 

Ở Sài G̣n, tướng Homer Smith, tuỳ viên quân sự, như thường lệ, chiều thứ sau đến thăm tướng Viên vừa từ Cam Ranh về. Viên, tươi cười và lạc quan, không hề nói ǵ về quyết định mới này.

 

Buổi tối, tướng Phú trở lại Pleiku, họp ngay với các chỉ huy đơn vị, phổ biến nhiệm vụ mới. Ông rất xúc động và chỉ nói những nét lớn. Việc duy nhất ông ta quyết định là giao cho thiếu tướng Phạm Duy Tất điều khiển cuộc rút lui. Ông ta bảo Tất ra lệnh cho tất cả các đơn vị chính qui (chứ không phải là lực lượng không chính qui và dân vệ) chuẩn bị rút ngay lập tức. Nhưng ông ta cho hoăn về sau việc đốt những kho nhiên liệu sợ gây hoang mang trong nhân dân địa phương. Ông nói rơ rằng: “Ngay người Mỹ cũng không được biết tin này”. Sau đó, ông về nhà, chuẩn bị hành lư.

 

Hôm sau, sáng thứ bảy, một buổi sáng như thường lệ ở sứ quán, chúng tôi đến làm việc sớm chỉ v́ làm nửa ngày, chúng tôi mong trời đủ nắng để có thể ở bên bể bơi cả buổi chiều. Đại diện lâm thời Lehmann, thay Martin đi gặp Thiệu ở dinh tổng thống một buổi sáng. Họ trao đổi với nhau những chuyện không đáng kể. (tr. 132)

 

Trong lúc ấy, Polgar gặp tướng Quang một lúc ở phủ đầu rồng. Một buổi gặp b́nh thường. Quang nói về sự lo lắng của ḿnh đối với trận Buôn Mê Thuột, nhưng không hề nhắc đến những kế hoạch của chính phủ về lănh thổ c̣n lại ở Tây Nguyên. Polgar không có cớ ǵ để nghĩ rằng viên tướng này giấu ông một điểm ǵ đó. Ông trở về sứ quán vào khoảng chín giờ rưỡi, chắc chắn rằng đă hoàn thành nhiệm vụ trong ngày.

 

Tại sở chỉ huy của Phú ở Pleiku, cuộc trao đổi buổi sáng diễn ra như thường lệ. Cũng như mọi khi, một nhân viên t́nh báo CIA dự buổi trao đổi. Anh ghi những lời phát biểu ư kiến. Không có lúc nào, người phát ngôn Việt Nam nêu một điểm ǵ để làm cho người nghe có thể nghĩ đến cuộc rút lui hoàn toàn quân đội sẽ diễn ra trong mấy giờ tới.

 

Một lúc sau, Thieme đến sở chỉ huy Phú, báo cho ông ta biết những người Mỹ mà sự có mặt ở đây không có ích ǵ, sắp ra đi. Bực ḿnh, tức giận, Phú không phản đối và cũng không nói ǵ về kế hoạch rút lui của ông ta.

 

Gần một giờ sau, Tư lệnh Quân khu II dừng chân trước trụ sở chỉ huy nằm giữa thị xă Pleiku, để lấy vali. Rồi cùng với một số cộng tác viên lân cận, ông ta bay đi Nha Trang, không nói rơ cho ai biết. Ông chỉ bảo một người ra tiễn rằng ông ta ra bờ biển để chuẩn bị tốt cho việc tản cư. Những người dưới quyền ông ta, c̣n ở lại, khi biết ông đă đi rồi, đều quyết định không tuân lệnh ông ta nữa, ai cũng chỉ lo lấy thân ḿnh.

 

Trong lúc đó, sự thật đáng buồn là những quyết định ở Cam Ranh hôm trước bắt đầu lộ ra ngoài. Sau cuộc họp buổi sáng, một nhân viên của chúng tôi nằm ở bộ phận tham mưu của Phú báo cho sĩ quan chúng tôi ở địa phương biết cuộc rút bỏ hoàn toàn Tây Nguyên. Anh này ngạc nhiên quá, đến mức quên cả báo cáo lại với Thieme hay một đồng nghiệp khác của ông. Đáng lẽ làm như thế, anh lại báo cho Archer ở Nha Trang. Trong điện, anh kể rơ mọi chi tiết và đệ nghị giải thích.

 

Đến mười giờ sáng, tôi đến gặp Polgar ở pḥng làm việc. Ông đang nói chuyện với một quan chức bộ ngoại giao mới (tr.133) đến Sài G̣n. Tôi ở đây được mười phút th́ một nữ thư kư của chúng tôi bước vào pḥng, để một bản tin trước mặt Polgar. Đó là bản sao bức điện của nhân viên CIA ở Pleiku. Chỉ mới đọc qua đoạn đầu, mặt Polgar vốn nâu hồng đă tái lại. Tất cả lực lượng Nam Việt Nam trên phía Bắc Tây Nguyên, có khoảng hai sư đoàn, chuẩn bị rút lui hoàn toàn.

 

Polgar nhảy lên. Ông vội chạy lên pḥng đại sứ, ở gác ba, để báo cho Lehmann. Nhưng đại biểu đi đến phủ tổng thống chưa về. Polgar gọi Nha Trang hỏi lại. Archer không có ǵ để nói thêm. Polgar đ̣i nói chuyện với Tổng lănh sự.

 

Khi Spear đến nghe dây nói, Polgar bảo đảm với ông rằng nhân viên t́nh báo ở Pleiku rất đáng tin cậy, ông nên cho tản cư ngay những người Mỹ. Spear khôn khéo hỏi lại: Đây có phải là mệnh lệnh không? Spear biết rằng chỉ có Lehmann có quyền cho phép tản cư tất cả nhân viên ở một tỉnh. Polgar vội vàng dịu giọng trả lời: “Không, chắc chắn không phải là mệnh lệnh, tôi chỉ muốn làm cho anh hiểu là nếu không sớm đưa nhân viên tản cư th́ sẽ mất họ. Trong trường hợp gay go th́ chỉ mấy giờ nữa, đường bay không c̣n dùng được”.

 

Một lúc sau, Lehmann trở về sứ quán. Nhưng cũng như Spear, ông không muốn ra lệnh rút hoàn toàn. Ông c̣n nghi ngờ tin mới nhận được nhất là Thiệu mà ông vừa từ biệt không nói ǵ với ông.

 

Cuối cùng, đến trưa, Polgar mất hết kiên nhẫn. Ông lấy một máy bay của hăng Hàng không Mỹ và ra lệnh cho Archer cho rút tất cả nhân viên CIA ở Pleiku, và một lần nữa ông đề nghị Lehmann cho tản cư tất cả người Mỹ. Viên đại diện c̣n trù trừ nhưng cuối cùng chấp nhận ư kiến của Polgar. Ông gọi người thư kư, đọc cho anh này một bức điện gửi Spear, trong đó, ông đ̣i chấm dứt ngay hoạt động trên Tây Nguyên.

 

Lúc tin rút chạy của Phú tới Hoa Thịnh Đốn, những người chịu trách nhiệm ở Lần Năm Góc và bộ ngoại giao gọi dây nói khắp thủ đô để t́m đại sứ Martin. Họ hy vọng ông sẽ cho họ biết cụ thể về sự kiện quan trọng này. Nhưng Martin không có ở máy nói nào cả. Ông vừa chữa răng và về nghỉ tại nhà ở thành phố Carolina Bắc.(tr.134). Sau cùng, bộ trưởng bộ quốc pḥng Schlesinger, gọi dây nói được cho Martin. Sau khi Schlesinger cho Martin biết mọi chi tíêt, đại sứ trả lời: “chắc chắn, tôi biết rơ những việc ấy. Từ lâu rồi, Phú định rút một phần bộ phận tham mưu khỏi Tây Nguyên. Ngoài ra, không có ǵ khác”. Mặc dù đă hết sức cố gắng, Schlesinger cũng không thuyết phục được Martin để đại sứ tin rằng t́nh h́nh nghiêm trọng hơn nhiều. Bộ trưởng quốc pḥng cũng không buộc được Martin về ngay Hoa Thịnh Đốn để theo dơi “một vấn đề không nghĩa lư ǵ” ấy.

 

Quá trưa ngày 15 tháng 3, t́nh h́nh Pleiku nguy ngập Quân trinh sát Bắc Việt Nam đă chắn đường đi lại ở các ngă tư phía Bắc và phía Tây thị xă. Đạn rốc kết rơi gần sân bay. Quân của Phú chuẩn bị rút. Nhân dân địa phương cũng làm như vậy.

 

Buổi trưa, Thieme từ sở chỉ huy của Phú, quay về pḥng làm việc. Ông cho gọi ba đại diện của phái bộ quân sự công tác dưới quyền ông - Mike Chilton, John Good và Nelson Kief - vào pḥng. V́ ba người đă từng chiến đấu, chắc chắn họ có thể giữ b́nh tĩnh và sáng suốt trong những giờ khó khăn đang đợi họ. Ông đặt một trạm chỉ huy tạm thời trong pḥng tiếp khách gồm có máy radiô và dây nói đặc biệt và bắt đầu gọi các nhân viên người Việt Nam, bảo họ chuẩn bị rút đu ngay. Ông đọc đến tên người thứ ba, thứ tư ǵ đó th́ ba đại diện nói trên đến. Họ tổ chức nhiều đoàn xe gíp và xe tải, cho đi khắp thị xă để nhặt người tản cư.

 

Đă có lệnh cấm dân Việt Nam không được vào sân bay. Thieme hoặc ba đại diện phái bộ quân sự phải đi  kèm đưa từng xe một đến cổng vào và cho tiền người lính gác, xe mới được đi qua.

 

Cũng như tất cả các viên chức Mỹ ở Pleiku, ba nhân viên trẻ của chi nhánh CIA địa phương (người thứ tư ở Nha Trang với Archer) phụ thuộc vào Thieme, đại diện cao nhất của người Mỹ ở đây. Nhưng, lúc bắt đầu cuộc tản cư. Archer ra lệnh cho họ bằng radiô phải đi ngay Sài G̣n theo chỉ thị cấp bách của Polgar. Archer nói: Họ là những nhân viên t́nh báo (tr.135) chứ không phải là viên chức lănh sự. Họ không phải giúp đỡ Thieme cho tản cư người Việt Nam làm việc với USAID hay giúp bất cứ ai.

 

Mấy phút sau, nhân viên CIA t́m Thieme và nói cho ông biết cụ thể. Họ rất bực ḿnh và hết sức mệt nên quên không báo cáo với Thieme về tin mới nhận được của một nhân viên t́nh báo cho hay quân của Phú đă rút chạy rồi. Thieme chỉ biết tin này khi đến Nha Trang vào buổi xế chiều.

 

Ở pḥng làm việc của Thieme ra, mấy nhân viên CIA đi xe hơi về bàn giấy của ḿnh. Họ báo cho cộng tác viên người Việt Nam biết họ rút đi và giục họ cũng rời ngay thị xă đi ra bờ biển bằng bất cứ phương tiện nào họ có, bằng bất cứ đường nào có thể đi được. Rồi họ vội vàng ra sân bay, xách theo thiết bị radiô cực kỳ mật. Họ đi được chuyến bay đầu tiên của hăng Hàng không Mỹ.

 

Khổ sở thay, trong lúc vội vàng để tự cứu, ba người đă mắc một sai lầm có thể làm hại bất cứ nhân viên t́nh báo nào. Không những họ bỏ rơi các bạn đồng nghiệp Mỹ, nhiều nhân viên người Việt Nam, mà họ c̣n quên cả việc bảo vệ tính mạng cho nhân viên CIA kỳ cựu nằm trong những người thân cận của Phú. Hơn nữa, họ quên huỷ hồ sơ. Đến phút cuối, thật ra, họ có nhờ một cộng tác viên địa phương kiểm tra lại bàn giấy nhưng không chắc nhân viên này t́m thấy hồ sơ và huỷ bỏ đi. Suốt buổi chiều, làn sóng máy bay vận tải hai động cơ C-46 và C.47 của hăng Hàng không Mỹ liên tiếp đỗ xuống sân bay Pleiku, bốc đi mỗi chuyến tới sáu, bảy mươi người. Đạt được kết quả này là nhờ công sức không mệt mỏi của Thieme và ba viên chức phái bộ quân sự. Trong khi đó, một máy bay lên thẳng của hăng Hàng không Mỹ bay đi Kontum để đón một nhóm người Mỹ và mấy người nước ngoài.

 

Bốn giờ rưỡi chiều, Spear hết sức bực ḿnh, từ Nha Trang gởi một thông điệp radiô cho Thieme, ra lệnh ngừng ngay cầu hàng không. Ông nói: Đây là chuyến bay cuối cùng mà trong chuyến này phải có cả Thieme. Ông này nh́n lại (tr.136) danh sách người Việt Nam đang chờ tản cư. Một máy bay không đủ khả năng chở. Ông trả lời Spear: Ông không thể đi trước khi có ít nhất là hai máy bay. Spear, tuy bực ḿnh về điều kiện ấy, cũng phải cố gắng thu xếp.

 

Một giờ sau, khi Thieme lên máy bay, cổng sắt của sân bay bị găy  v́ đám đông ở ngoài trèo qua. Bên đường bay, lính đánh nhau. Nhưng trong lúc máy bay cất cánh, và lượn trên đầu đám lộn xộn ấy, Thieme và các bạn đồng nghiệp trong phái bộ quân sự có đủ lư do để bằng ḷng với ḿnh. Trong bốn giờ rưỡi, họ đă cứu được hơn 450 người, trong đó có nhiều nhân viên người Việt Nam làm việc cho USAID và đưa họ đi Nha Trang.

 

Suốt buổi chiều dài vô tận, quân của Phú rút chạy khỏi Pleiku và Kontum hết sức lộn xộn. Bản thân cuộc rút chạy như một tṛ trẻ con. Các đơn vị phải đi theo quốc lộ số 14, phía Nam Thành An, ở đấy, rẽ về phía Đông, đi theo đường về 7B đến Phú Bổn và ra bờ biển. Nhưng tướng Tất, người điều khiển cuộc rút chạy, gây rối ren thêm cho một việc đơn giản. Ông quên cả việc chuẩn bị sơ đẳng nhất. Không có ai đi điều tra t́nh h́nh đường 7B. Không có phương tiện ǵ để chuyên chở hàng ngh́n người dân chắc chắn sẽ kéo theo quân đội. Do đó, lính và dân chen chúc, trộn lẫn với nhau c̣n xe tăng và xe bọc thép chở nặng th́ lại dẫn đầu. Không chịu nổi sức nặng, đường bộ lún, bị phá. Một đoàn gồm hai ngh́n xe hơi, xe gíp, xe vận tải nhanh chóng ngập trong một con sông bùn. Về phía không quân th́ chỉ nghĩ đến chức vụ và quyền lợi. Về phía không quân cao cấp th́ chỉ nghĩ đến vị trí độc lập của ḿnh, từ chối không đáp ứng những lời kêu gọi khẩn cấp của y tế hay không trả lời những tiếng kêu xin yểm trợ của các đại úy hay trung úy lục quân.

 

Về phần chúng tôi, suốt buổi chiều, chúng tôi ở trong pḥng Polgar theo dơi cuộc rút quân. Chúng tôi được chứng kiến cuộc chạy trốn lộn xộn qua những tin tức radiô và báo cáo của máy bay trinh sát. Polgar kêu lên: “Đây là cuộc diễn hành của một đám xiếc phát điên! Voi đi trước, những người khác mặc sức lội trong bùn”. H́nh ảnh rất đúng.(tr.137)

 

Tôi đến, Thiệu mệt mỏi và chán nản, nghĩ đến việc t́m những con vật hy sinh. Phú không hiểu ông ta. Những người Thượng ở Buôn Mê Thuột phản lại ông ta. Thiệu làm bản cáo trạng dựa vào một bản báo cáo vừa nhận được nói rằng quân địa phương (người Thượng) đă bỏ vị trí ngay ngày đầu cuộc tiến công Buôn Mê Thuột để bảo vệ nhà riêng chống lại lính Nam Việt Nam đào ngũ đi cướp bóc. Thiệu khẳng định đó là nguyên nhân chính gây ra t́nh h́nh bi đát ở Tây Nguyên. Tối đến, khi rời dinh độc lập, Thiệu ra lệnh cho thuộc hạ t́m mọi cách làm rơ chuyện phản bội của người Thượng.

 

Một lúc sau, cảnh sát bắt một nhà báo Pháp tên là Paul Leandri v́ anh đă viết trong một bài rằng: thực tế, người Thượng đă tham gia tiến công Buôn Mê Thuột. Leandri, một người Coóc lùn, từ chối không trả lời các câu hỏi, ngay cả khi anh được dẫn tới sở chỉ huy cảnh sát quốc gia, ở giữa thành phố. Trái lại, anh c̣n chửi mắng cảnh sát. Tiếp đó, anh phạm một sai lầm nghiêm trọng là chạy ra cửa ngôi nhà. Khi anh sắp mở cửa xe th́ một cảnh sát đă hạ anh bằng một phát đạn vào đầu.

 

Đại sứ Pháp nổi giận lôi đ́nh khi được tin sự việc này và chính Polgar nửa đêm về sáng, được gọi đến sứ quán để hoà giải giữa người Pháp và cảnh sát.

 

Sáng hôm sau, Thiệu c̣n nhiều việc để làm hơn là nghĩ đến cái chết của Leandri hay sự phản đối của sứ quán Pháp. Ḍng người tản cư ở Pleiku và Kontum bị chặn lại phía Tây Phú Bổn. T́nh h́nh cũng tồi tệ ở những vùng khác. Phía Tây tỉnh B́nh Định, ở giữa ven biển, quân địch liên tiếp đánh thắng quân chính phủ. Trong đêm, chiến tranh lan tới tỉnh Tây Ninh, phía Tây Bắc Sài G̣n, và nhiều đơn vị khác của quân đội Bắc Việt Nam uy hiếp mạnh con đường nối Sài G̣n với Đà Lạt, phía Nam Quân khu II.

 

Để bảo vệ miền phụ cận Sài g̣n, Thiệu ra lệnh cho không quân ném bom những nơi tập trung quân và thiết bị của Bắc Việt Nam ở biên giới Campuchia, phía Bắc Sài G̣n. Ông cũng điện (tr.138) cho tướng Trưởng, tư lệnh Quân khu I, bắt đầu chuyển sư đoàn dù về, đưa ngay cả sư đoàn tới Sài G̣n.

 

Sớm ngày 16 tháng 3, Earl Thieme uống tách cà phê thứ hai và xin một máy bay lên thẳng đi Pleiku, ông ngủ đêm tại sân bay của hăng Hàng không Mỹ ở Nha Trang, để gọi dây nói cho những người c̣n ở lại Pleiku.

 

Ở Pleiku, cảnh tượng không ngờ diễn ra trước mắt Thieme và phi công. Đường phố chính là một ḍng sông đầy người sợ hăi và khi bay trên thị xă, họ có cảm giác là hàng ngh́n con mắt chăm chú theo dơi chiếc máy bay nhỏ bé UH-I của hăng Hàng không Mỹ.

 

Hơn hai trăm người Việt Nam đứng chung quanh bàn giấy của Thieme sau khi máy bay lên thẳng hạ xuống sân. Thieme nhanh chóng lọc những nhân viên của ḿnh ra, giơ súng tự động lên để đuổi những người c̣n lại. Ông gọi radio về Nha Trang xin máy bay, cho nhân viên lên xe vận tải và cố mở một đường qua thị xă đầy người chạy trốn đi về phía sân bay. Một máy bay vận tải C-46 của hăng Hàng không Mỹ vừa hạ cánh một cách nặng nề. Nó đang lướt trên đường băng đầy lính và dân. Cho rằng đây là chiếc máy bay ông vừa xin, Thieme vội nhảy ra và nắm lấy đấm cửa máy bay. Người phi công giảm tốc độ, lợi dụng đường băng, đỗ xuống sân bay quân sự. Thieme tức giận gọi radiô cho Nha Trang đ̣i giải thích. Họ trả lời ông: chiếc máy bay C-46 này đặc biệt dành riêng để chở một sĩ quan cao cấp Nam Việt Nam. Đó là nhân viên t́nh báo CIA nằm ở bộ tham mưu của Phú mà hôm trước đă bỏ quên lại.

 

Một lúc lâu sau, một máy bay vận tải khác của hăng Hàng không Mỹ tới để chở Thieme và những người giúp việc ông. Ông vừa chạy đến th́ lính Việt Nam vũ trang đă bao vây ông. Viên phi công gọi về Nha Trang, báo tin phải chở nhiều người v́ lính giơ súng ra doạ. Thieme hiểu ngay rằng không thể lên máy bay này được. Liền vội chạy đến một máy bay lên thẳng của hăng Hàng không Mỹ đậu ở xa. Được viên phi công giúp, ông kéo được mấy nhân viên thân cận lên máy bay trước khi đám người đến uy hiếp. (tr.139)

 

B́nh thường, chủ nhật là một ngày nghỉ, kể cả ở sứ quán. Nhưng v́ t́nh h́nh phát triển nghiêm trọng cả nước nên Polgar ra lệnh tất cả nhân viên đều phải đến làm việc, ít nhất là buổi sáng.

 

Khi soạn những tin nhận ban đêm, ông đọc được một bản làm ông buồn cười hết sức. Báo chí Hoa Thịnh Đốn viết rằng bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger công khai tuyên bố không có khủng hoảng ở Việt Nam. Polgar chế giễu cái mà bộ trưởng quốc pḥng gọi là khủng hoảng bằng những lời không thể viết ra được.

 

Những tin tức đáng chú ư nhất không phải từ Hoa Thịnh Đốn hay Nam Việt Nam mà từ Campuchia, bên kia biên giới theo một tin tức của sứ quán Phnôm Pênh tên đại sứ Dean vừa quyết định tản cư nhân viên không cần thiết. Tin này nói rơ hơn bất cứ tin nào khác, sự yếu kém của chúng ta và của chính sách đối ngoại Mỹ.

 

Buổi chiều, tôi dự thảo cho Polgar một bản tường tŕnh về hậu quả của việc rút bỏ Tây Nguyên. Về mặt lịch sử, cuộc rút chạy này không để lại một điều ǵ tốt. Nó làm nhớ lại cuộc rút lui của quân Pháp khỏi Kontum năm 1954 đánh dấu bước đầu việc chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở phần phía Nam nước Việt Nam, cũng như chiến thắng của cộng sản ở Điện Biên Phủ, mấy tháng sau, mở đầu cho sự cáo chung này ở phía Bắc. Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, nhà chiến lược bậc thầy của Việt Minh, trước đây đă viết rằng: người nào kiểm soát được Tây Nguyên th́ nắm được ch́a khoá của Đông Dương. Ư kiến này được thực hiện. Thật vậy, hệ thống đường sá ở vùng này là những con đường lư tưởng cho việc đi lại giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, đồng thời vùng này cũng là một bậc nhảy hoàn hảo cho một cuộc chiến tranh chớp nhoáng tiến ra bờ biển.

 

Tuy nhiên, như mọi người ở sứ quán, tôi muốn tỏ ra là vẫn c̣n một hy vọng. Trong bản tường tŕnh tôi viết rằng nếu một trong sáu sư đoàn chạy từ Kontum và Pleiku tới được bờ biển mà không gặp tai nạn nào th́ Sài G̣n có thể biến cuộc rút lui này thành một chiến thắng có thể so sánh với chiến thắng Dunkerque.(tr.140)

 

Polgar lắc đầu khi đọc đến đoạn này: “Anh cố pha li-mô-nát với chanh. Để chờ xem những đội quân ấy ra sao đă trước khi đi đến chỗ lạc quan”. Sự khôn ngoan của ông đúng.

 

 

 

Phần IIA “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” từ tr 89 – tr 141

nhandanvietnam.org, ngày 5/8/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend