NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIB)


 Thiếu tướng Phạm Văn Phú từ lâu là một viên tướng được Thiệu ưa thích. Binh nh́ trong quân đội Pháp, ông ta đă chiến đấu trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất ở Đông Dương. Bị bắt ở Điện Biên Phủ với quân Pháp, ông ta bị giam trong trại tù binh của Việt Minh…. Phú tự nhận thấy ḿnh chưa xứng đáng để nhận chức vụ tư lệnh Quan Khu II…thay Tướng Toàn, cựu tư lệnh Quân khu II là một tên quân phiệt phong kiến, chiếm đất làm ấp, ăn của đút lót, yêu thích ai th́ cho người ấy chỗ làm việc tốt. Nay ông ta là tư lệnh Quân khu III…và ông ta có một nhược điểm lớn là rất sợ phải chiến đấu tại chỗ và bị địch bắt….

 

Buôn Mê Thuột mất lúc 10 giờ 30 phút ngày 11 tháng 3 năm 1975…. Sáng hôm sau, Thiệu họp hội đồng an ninh, phổ biến một quyết định c̣n quan trọng hơn….bỏ những vùng cằn cỗi của đất nước, một phần Quân khu I và Quân khu II để tập trung lực lượng vào những vùng quan trọng nhất: chung quanh Sài G̣n. Thiệu gọi chiến lược này là chiến lược cố thủ, quyết tâm giữ phần đất c̣n lại…. Ông ta đảo mắt nh́n chung quanh bàn họp, xem có ai phản ứng ǵ không. Không có. Tất cả, rất xu nịnh, đều đồng ư với ông ta

 

Gần một giờ sau, Tư lệnh Quân khu II dừng chân trước trụ sở chỉ huy nằm giữa thị xă Pleiku, để lấy vali. Rồi cùng với một số cộng tác viên thân cận, ông ta bay đi Nha Trang, không nói rơ cho ai biết. Ông chỉ bảo một người ra tiễn rằng ông ta ra bờ biển để chuẩn bị tốt cho việc tản cư. Những người dưới quyền ông ta, c̣n ở lại, khi biết ông đă đi rồi, đều quyết định không tuân lệnh ông ta nữa, ai cũng chỉ lo lấy thân ḿnh….

 

Suốt buổi chiều dài vô tận, quân của Phú rút chạy khỏi Pleiku và Kontum hết sức lộn xộn.… theo đường về 7B đến Phú Bổn và ra bờ biển… Do đó, lính và dân chen chúc, trộn lẫn với nhau c̣n xe tăng và xe bọc thép chở nặng th́ lại dẫn đầu… Chúng tôi được chứng kiến cuộc chạy trốn lộn xộn qua những tin tức radiô và báo cáo của máy bay trinh sát. Polgar kêu lên: “Đây là cuộc diễn hành của một đám xiếc phát điên! Voi đi trước, những người khác mặc sức lội trong bùn”….

 

Chiến lược cố thủ của Thiệu đă làm tan ră tháo chạy lộn xộn Quân khu II, kéo theo Quân khu I tan hàng tháo chạy tán loan….. Sư đoàn 1 đă hoàn toàn tan ră, hàng ngh́n binh lính vứt vũ khí đi để chạy thoát thân ra bờ biển cùng với gia đ́nh…. một số lính bỏ giầy, lội xuống nước, ven bờ biển như người đi tắm chiều thứ bảy. Nhưng gần một giờ sau, tin họ chạy trốn lan truyền khắp thành phố. Nhiều người dân đánh họ…. Binh lính đánh lẫn nhau, binh lính vật lộn với dân thường để tranh xuống tàu trước. Mạnh ai nấy chạy....

 

Quân Bắc Việt Nam cũng tiến công phía Nam Đà Nẵng…. Nhân dân ở các nơi này cũng chạy như nhân dân thành phố Huế ra cảng Tân Mỹ, tranh nhau tiến ra bờ biển. Trong vài giờ, cả sư đoàn 2 quân Nam Việt Nam biến thành một ḍng lộn xộn, vô kỷ luật gồm mười ngh́n người, sĩ quan cũng như binh lính chỉ có một ư nghĩa trong đầu: cùng gia đ́nh chạy trốn….chấp nhận việc mất vĩnh viễn những vùng quan trọng ở Quân khu I và Quân khu II, nhưng họ lại viết rằng: quân đội chính phủ ở những vùng khác của nước này đủ mạnh để lập một pḥng tuyến bảo vệ phía Bắc Sài G̣n cho đến tháng 5, bắt đầu mùa mưa, một việc mà bộ tổng tư lệnh Nam Việt Nam đă tính đến….

 

Trong khi đó, ở Đà Nẵng, trên bờ biển phía Đông Việt Nam, quân đội Nam Việt Nam đi chân đất, không vũ khí, gào khóc ḥ hét giữa phố, bất chấp người đi lại. Chúng tập họp thành từng nhóm trên vỉa hè, cầm tay nhau. Nhân dân Đà Nẵng rất lo sợ ḿnh những kẻ thất trận mất tinh thần ấy. Chúng sẽ làm ǵ đây? Hăm hiếp, đốt, cướp, phá phách!

 

Cũng buổi tối hôm đó, tổng thống Thiệu xuất hiện trên máy vô tuyến truyền h́nh. Ông đọc một bài diễn văn trong năm phút. Ông hô hào “đồng bào chặn đứng cuộc tiến công của quân thù”. Việc Thiệu lại ra mắt trước công chúng có ư nghĩa như lời kêu gọi của ông, v́ hai tuần này, ông biệt tăm. Sau bài nói chuyện một lúc, Thiệu rời dinh độc lập, đi xe ḥm bọc thép đến một nơi ở bí mật, gần khách sạn Majestic, trông ra bờ sông. Thiệu hội đàm tới khuya với “cận thần”. Thiệu ít lo ngại về những tin xấu từ mặt trận gửi về mà sợ những tin đồn loan truyền rằng cuộc đảo chính của Kỳ sắp sửa nổ ra...Thật vậy,

 

Thủ tướng Ngụy Nguyễn Cao Kỳ nói rằng: "ông" Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất” V́ vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹchúng tôi là những kẻ đánh thuê.

 

 

HỘP ĐEN

 

Al Francis, người con đỡ đầu của Martin được bổ nhiệm làm Tổng lănh sự ở Đà Nẵng từ mùa Thu năm 1974. Đầu tiên ông ra lệnh xem kế hoạch tản cư của lănh sự quán. Viên chức chịu trách nhiệm việc này đưa ra một bản thuyết tŕnh 30 trang. Trong những giải pháp dự kiến, giải pháp cao nhất là xin một cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng, xuất phát từ sân bay, có lính Mỹ bảo vệ. Giải pháp này Al Francis không thể thực hiện được. Ông nói với tôi sau khi Sài g̣n thất thủ: Ông tưởng rằng người Mỹ có thể nhờ các nhà chức trách địa phương giúp đỡ, ngay cả khi phải tản cư triệt để!

 

Kế hoạch như thế phải xét lại hai lần trong những tháng sau.Francis vẫn chưa bằng ḷng - không thể dự kiến mọi điều được - nhưng ông cho là xét đi, xét lại sẽ làn cho nhân viên quan tâm đến vấn đề tản cư hơn. Tháng 1, lúc ông về nghỉ ở Hoa Thịnh Đốn, ông không hề nghĩ rằng phải sớm duyệt lại một lần nữa. Như ông tuyên bố với người nào muốn nghe ông, ông chắc là chính phủ Sài G̣n vẫn c̣n có thể sống sót được mặc dù viện trợ của Hoa Kỳ đă giảm đi.

 

Trong thời gian nghỉ, mỗi tuần, ông đến bộ ngoại giao hai, ba lần, đọc tin điện gửi về để nắm t́nh h́nh. Đầu tháng 2, lúc ông trở lại Sài G̣n, ông có vẻ biết rơ vấn đề và tỏ ra sốt ruột trước không khí làm việc uể oải. Nhưng hôm sau, ông mắc bệnh nặng phải đưa ngay về Hoa Thịnh Đốn bằng máy bay y tế. Một tháng sau, ông b́nh phục th́ Tây Nguyên đă mất, những (tr.141) đơn vị dù rút khỏi Quân khu I, và quân bảo vệ Huế bị đánh tan tác.

 

Giữa lúc ấy, bà Terry Tull, người phó của Francis ở Đà Nẵng, nữ viên chức cao cấp duy nhất của bộ ngoại giao ở nước này, đă bắt đầu cho rút nhiều nhân viên lănh sự quán ở Quân khu I. Quân đội Bắc Việt Nam tiến từng bước một đến các thị xă, bà chú ư t́m mọi cách để bảo vệ tính mạng, cho người Mỹ hay người Việt Nam do bà phụ trách.

 

Nhưng phải đối phó với một vấn đề chính trị quan trọng: Lehmann tiếp tục thay Martin ở Sài G̣n, chỉ thị cho bà không được làm ǵ có thể gây cảm tưởng rằng sự cam kết của người Mỹ đối với người Nam Việt Nam đă yếu đi. Nhận thấy một cuộc tản cư triệt để ở các tỉnh này sẽ gây cảm tưởng đó, bà đưa ra một quyết định nửa vời. Đáng lẽ đóng cửa hoàn toàn những lănh sự quán ở sát mặt trận th́ bà ra lệnh chỉ rút phần lớn nhân viên ở những nơi này; khi xảy ra cuộc tiến công, một, hai máy bay lên thẳng là có thể hoàn thành cuộc tản cư. Giữa tháng 3, bà khuyên các nhân viên CIA và bộ ngoại giao c̣n lại tại Huế đêm về ngủ ở Đà Nẵng, cách Huế 80 kilômét về phía Nam.

 

Nhiều đồng nghiệp của bà cũng vịn vào đó mà phê phán. Nhân viên CIA ở địa phương, một Hoa kiều đứng tuổi, tôi tạm gọi là Philip Custer, lên án bà là đi quá trớn!

 

Mùa hè trước, khi ông đến đây, Custer tỏ ra là một người hăng hái bảo vệ quân đội Nam Việt Nam - hăng đến mức ông ta tưởng bây giờ là người của quân đội. Khi Tull nêu ra việc giảm bớt nhân viên lănh sự quán, Custer tỏ ra không đồng ư. Ông nói với các người giúp việc: Tướng Tưởng sẽ giữ được vùng này rất vững.

 

Công bằng với Custer th́ phải nói rằng, những tin tức ông ta dựa vào để nhận định c̣n xa mới hoàn chỉnh. Không một ai trong chúng tôi biết rơ những lệnh khác nhau và mâu thuẫn nhau do tướng Tưởng nhận được từ Sài G̣n và ngay kẻ bi quan nhất cũng gặp khó khăn để dự đoán rằng lực lượng của Quân khu I sẽ tan tác trong hai tuần tới. Đối với người lạc (tr.142) quan như Custer, việc đó chỉ đơn giản là không thể tưởng tượng được.

 

Tuần thứ ba tháng ba, khi Francis trở lại Đà Nẵng, ông triệu tập sáu viên chức, ra lệnh cho họ, một lần nữa xem lại kế hoạch tản cư lănh sự quán. Ông gọi nhóm sáu người này là cái “hộp đen” nhỏ của ông (đen thay cho mật) và giao cho một nhân viên mới của CIA chịu trách nhiệm điều chỉnh lại kế hoạch cho hợp lư.

 

Nhân viên CIA này đủ sức làm việc đó. Ngoài 50 người Mỹ làm việc ở lănh sự quán - một nửa là của CIA - c̣n hàng trăm người Mỹ ở Đà Nẵng, từ những người làm việc có hợp đồng đến những lính Mỹ đào ngũ, phải đưa đi tản cư. Hơn một ngh́n nhân viên người địa phương cũng được ghi vào danh sách nhân viên lănh sự quán, cộng với gia đ́nh, bạn bè thân thiết và bố mẹ họ, như thế là đưa tổng số người phải tản cư lên đến ít nhất mười ngh́n người.

 

Mặc dù vấn đề lớn như vậy, chỉ một buổi chiều nhân viên CIA đă làm được một kế hoạch tản cư dài có hai trang rưỡi. Ông dự kiến tản cư làm nhiều giai đoạn, vừa bằng đường không, vừa bằng đường thuỷ. Thuyền máy và tàu nhỏ ngược sông Hàn đón những người tản cư ở những nơi đă qui định c̣n tàu lớn đón ở ven đê, ngoài thành phố, một số người khác sẽ đi bằng máy bay của hăng Hàng không Mỹ hoặc máy bay thuê, đổ xuống những băi ở phía Tây thành phố hay sân bay quân sự gần núi Ngũ Hành. Cuộc tản cư phải tiến hành từ từ và yên lặng trong khoảng ít nhất một tuần để người Việt Nam khỏi hoảng sợ.

 

Ư nghĩ thành lập “hộp đen”, cử những chuyên gia rỗi răi nghiên cứu một vấn đề cực kỳ phức tạp, có vẻ là một sáng kiến bậc thầy! Nhưng, giữa thời chiến, việc tản cư cả một lănh sự quán gặp nhiều khó khăn, không thể thực hiện được theo một giải pháp bàn giấy quan liêu, dù giải pháp ấy tốt đến mấy. Do đó dù Francis có cẩn thận đến đâu th́ những biện pháp ông đưa ra đều nhanh chóng thất bại.

 

Đầu tiên là người lính già nào trong số nhân viên của ông cũng muốn tham gia nhóm “hộp đen”. Chỉ một đêm, nhóm (tr.143) “hộp đen” chỉ có mấy người, trở thành một trung đội cồng kềnh gồm 25 người. Bản thân việc phân tích t́nh h́nh của Francis cũng là một trở ngại. Từ ngày ốm, ông biết rất ít tin tức, ông định hỏi ư kiến đại sứ về những vấn đề quan trọng. Dù Martin có khẳng định là người Nam Việt Nam vẫn có hy vọng th́ Francis cũng chỉ sẽ là người cuối cùng nói ngược lại.

 

Ngoài ra, cũng c̣n vấn đề chiến thuật nữa. Mấy ngày trước, Lehmann khuyên ông: “Đừng làm ǵ để người Việt Nam phải tức giận: Sự bền bĩ của người Mỹ phải là tấm gương cho họ”. Francis lấy đó làm châm ngôn và ông quyết định hành động theo yêu cầu của cấp trên.

 

Sau khi thành lập nhóm “hộp đen”, ông ngả theo chiều hướng để cho sự việc xảy ra. Ông không phải là người duy nhất như thế. Custer không bao giờ hoàn thành được việc làm kế hoạch tản cư nhân viên Việt Nam dưới quyền ông và cũng tỏ ra chậm chạp trong việc chuẩn bị cho nhân viên người Mỹ ra đi. Chỉ đến lúc kẻ thù đă ở bên hàng rào lănh sự quán rồi, người ta mới đốt hồ sơ mật!

 

Ngoài tinh thần thiếu trách nhiệm của những người phụ trách coi ư kiến của ḿnh là thực tế, c̣n một trở ngại nữa: sự tin cậy quá đáng vào quân đội Hoa Kỳ. Trước đó, một ê-kíp của hạm đội 7 đă đến Đà Nẵng để nghiên cứu kế hoạch tản cư. Hải quân Mỹ hứa sẽ cho một đoàn máy bay lên thẳng đến khi cần thiết. Nhưng mấy ngày sau, sau khi trao đổi điện với hải quân, Francis mới biết là không có chuyện ấy nữa. Ông phải giải quyết một ḿnh.

 

Người Bắc Việt Nam cũng có sự chậm chạp như người Mỹ, nhưng họ giải quyết nhanh. Mấy ngày trước khi nhân viên t́nh báo nằm trong giới thân cận trực tiếp với Thiệu gửi cho họ bản tin mới giật gân: toàn văn biên bản hội nghị bàn về chiếc lược mới “cố thủ” của chính phủ Nam Việt Nam. Họ phải thảo luận ngay những việc cần phải làm.

 

Ngày 20 tháng 3, Bộ chính trị gửi cho tướng Dũng bản nhận định t́nh h́nh như ông viết trong hồi kư thắng lợi to (tr.144) lớn của ta vừa qua có ư nghĩa chiến lược, đánh dấu một bước ngoặt mới trong cuộc chiến tranh ở miền Nam, đánh dấu sự phát triển rất mới trong cực diện chung, một bước suy sụp mới của Mỹ - Nguỵ. Địch đang có ư đồ thực hiện chiến lược co cụm qui mô lớn nhằm tập trung lực lượng ở vùng Sài G̣n và một phần đồng bằng sông Cửu Long, có thể ở Đà Nẵng và Cam Ranh nữa, ḥng tạo một thế tương đối vững để đi đến một giải pháp chính trị hoặc liên hiệp, hoặc chia cắt miền Nam. V́ vậy ta cần tranh thủ thời gian cao độ, hành động khẩn trương, hết sức bất ngờ về thời gian, phương hướng, lực lượng và táo bạo, đồng thời bảo đảm chắc thắng. Theo tinh thần đó, Bộ chính trị cân nhắc mọi mặt và thực hiện phương án giải phóng Sài G̣n sớm hơn dự kiến.

 

Polgar thấy sự lộn xộn ở Quân khu I, quyết định tự ḿnh đề ra những giải pháp để bảo đảm an ninh. Sáng ngày 22 tháng 3, ông cho một máy bay đặc biệt của hăng Hàng không Mỹ ra Đà Nẵng, chở nhiều ḥm và vật liệu đóng gói để Custer cho chuyển một phần hồ sơ của các nhân viên đi.

 

Francis, tiếp tục trấn an người Việt Nam, nói với những nhân vật chính trị địa phương và binh lính rằng quân đội có thể cầm cự được. Ông cũng cố làm cho giới báo chí hiểu như thế. Chiều 22, ông thân hành dẫn một đoàn gồm 12 nhà báo họp ở Đà Nẵng ra Huế. Ông nói: Huế vẫn là một nơi chắc chắn và cố thủ được, mặc dù có nhiều tin đồn ngược lại.

 

Sáng hôm sau, quân Bắc Việt Nam đánh ngay, cắt quốc lộ 1, ở phía Nam Huế, gần Phú Lộc. Chỉ một trận, họ đạt được mục tiêu: chặn sư đoàn 1 quân Nam Việt Nam không c̣n đường về Đà Nẵng. Trận đánh càng lớn, càng gieo rắc thêm sự sợ hăi trong những làn sóng người tị nạn rải khắp dọc đường. Trong vài giờ, hàng ngh́n người đổ ra bến nhỏ Tân Mỹ, nơi Trưởng định dùng để tản cư sư đoàn 1. Mọi con đường đi ra bến này đều đầy người đi lại. Tàu Việt Nam chờ dưới biển để chờ quân đội và súng ống, bắt đầu chở dân đang hoảng sợ, thay cho thiết bị quân sự. Đường chính bị cắt, bến không ra được. Máy bay lên thẳng Nam Việt Nam định hạ xuống cứu lính nhưng pháo binh Bắc Việt Nam rót xuống sân bay. (tr.145)

 

Gần một giờ sau, nổ ra sự rối loạn ở chợ Đông Ba giữa thành phố. Nhân dân quá sợ hăi tranh nhau giành xe tắc xi và xe lam để chạy ra bờ biển.

 

Quân Bắc Việt Nam cũng tiến công phía Nam Đà Nẵng, tiến gần đến Quảng Ngăi và căn cứ không quân Chu Lai. Họ bắn hàng loạt đạn rốc kết và đại bác. Nhân dân ở các nơi này cũng chạy như nhân dân thành phố Huế ra cảng Tân Mỹ, tranh nhau tiến ra bờ biển. Trong vài giờ, cả sư đoàn 2 quân Nam Việt Nam biến thành một ḍng lộn xộn, vô kỷ luật gồm mười ngh́n người, sĩ quan cũng như binh lính chỉ có một ư nghĩa trong đầu: cùng gia đ́nh chạy trốn.

 

Suốt buổi sáng, tướng Trưởng nói chuyện bằng radio với Thiệu báo tin thảm hại: Huế bị bao vây, sự đoàn 1 đang nguy khốn cực kỳ. Ông không c̣n lực lượng để mở đường trên quốc lộ số 1, phía Nam Huế, ở đây quân Bắc Việt Nam chắc chắn có hai sư đoàn. Ông phải bắt đầu cho tản cư ra bờ biển những người c̣n lại của sự đoàn 1. C̣n có thể giữ Huế một lúc nữa, nhưng với giá thật đắt. Phải hy sinh một phần sư đoàn 1, chỉ là để tranh thủ thời gian.

 

Thiệu không phản đối ǵ. Ông chỉ c̣n một biện pháp: cho sư đoàn dù ra tiếp viện nhưng c̣n an ninh của Sài G̣n nên ông ta để mặc Trưởng hành động.

 

Giữa lúc Trưởng nói với Thiệu th́ lực lượng của ông ta dùng để thực hiện kế hoạch đang tan ră. Giữa chiều, chỉ c̣n một đơn vị duy nhất, lữ 147 lính thuỷ đánh bộ, đóng tại một vị trí ở phía Bắc Huế. Trưởng không muốn hy sinh đơn vị này v́ đó là một đơn vị thiện chiến! Ông ta ra lệnh cho rút tất cả các đơn vị c̣n ở chung quanh Huế, lính thuỷ cũng như lính của sư đoàn 1 đang chạy rải rác.

 

V́ bến Tân Mỹ đă đầy ứ ngườ, Trưởng quyết định cho lính thuỷ và những lính chậm chạp khác chạy về phía Nam, dọc bán đảo Vĩnh Lộc, một dải cát song song với đất liền. Chạy lối này có thể vượt qua nơi quân Bắc Việt Nam đang chốt và tiến ra quốc lộ 1 bên trong đèo Hải Vân, rồi từ đó chạy thẳng về Đà Nẵng. Cản trở thiên nhiên duy nhất là một khoảng sông rộng (tr.146), từ đầu bán đảo vào đất liền. Công binh hải quân đang làm cầu bắc qua.

 

Nhưng ở Đà Nẵng, t́nh h́nh căng thẳng mỗi lúc một tăng, đă có hàng ngh́n người tị nạn khắp thành phố. Hăng Hàng không Việt Nam của chính phủ cho hay thêm nhiều chuyến để chở những người mới đến ra khỏi thành phố, trong khi đó, sứ quán Mỹ thuê máy bay tư của hăng Hàng không thế giới để làm việc này.

 

Đúng trưa ngày 23 tháng 3, Francis tuyên bố lănh sự quán phải sẵn sàng trở thành một vị trí chiến đấu: ông muốn đề pḥng cẩn thận trong trường hợp Đà Nẵng bị bao vây. Viên chức được ông giao cho sắp xếp kế hoạch là một thanh niên khoẻ mạnh của CIA, tôi đặt tên là “Ron Howard”. Anh là nhân viên chuyên môn về nhận định tin đầu tiên công tác ở nước ngoài. Anh muốn được ḷng cấp trên nên vui vẻ nhận nhiệm vụ này, chạy khắp lănh sự quán, cất giấu những khẩu phần thức ăn loại C vào những xó xỉnh không thể ngờ tới. Thí dụ trong đống lốp xe chất ngoài hành lang. Anh t́m thấy một lô đồ hộp cũ, đă gỉ, liền phân phát cho các nhân viên người Việt Nam trong lănh sự quán. Anh nghĩ rằng có thêm thức ăn họ sẽ bớt tức giận hơn khi biết tin thành phố bị bao vây. Các pḥng làm việc trở thành chỗ tạm trú của nhân viên người Việt Nam mới từ Huế và những vùng lân cận chạy đến, anh cố thu xếp cho họ có thêm tiện nghi. Anh biết rằng sự an toàn của bản thân anh phụ thuộc vào họ.

 

 

Betrayed & Abandoned

 

 

Sớm hôm sau, tướng Viên đến gặp Thiệu ở dinh tổng thống, báo cho Thiệu biết những tin cuối cùng về Huế. Sư đoàn 1 đă hoàn toàn tan ră, hàng ngh́n binh lính vứt vũ khí đi để chạy thoát thân ra bờ biển cùng với gia đ́nh. Một giờ sau. Trưởng công nhận sự thật ấy bằng radio. Ông nói thêm Huế không thể chống đỡ được quá một ngày. Để giảm bớt sự đổ máu, ông ta xin phép bỏ ngay thành phố.

 

Khi Thiệu nghe tin ấy, ông ta nổi giận lôi đ́nh hơn bao giờ hết. Đi lại trong pḥng làm việc, giữa các cố vấn, ông lên án tư lệnh Quân khu I là mang tư tưởng thất bại chủ nghĩa, phải chịu trách nhiệm về sự tan ră của sư đoàn 1, sẽ bị nghiêm (tr.147) phạt. Nhưng tất cả chuyện đó chỉ là đóng kịch. Thiệu biết rơ rằng, mặc dù ông ta hy vọng không xảy ra, phải bỏ Huế ngay tức khắc.

 

Sáng 24, pháo binh Bắc Việt Nam không ngừng tiến công vào ngoại ô Huế. Thoạt đầu, lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ số 147 và những lính sống sót của sư đoàn 1 chạy ra bán đảo Vĩnh Lộc. Đi từ sớm nên họ tránh được hàng ngh́n người tị nạn ở phía Đông Huế. Một số lính bỏ giầy, lội xuống nước, ven bờ biển như người đi tắm chiều thứ bảy. Nhưng gần một giờ sau, tin họ chạy trốn lan truyền khắp thành phố. Nhiều người dân đánh họ. Trong khi đó, lực lượng Bắc Việt nam kéo đến chặn đường. Khi quân thuỷ đánh bộ và một số binh lính sống sót của sư đoàn 1 tới cảng Tân An, gầm mỏm bán đảo th́ pháo binh Bắc Việt Nam bắn trúng chiếc cầu đang làm dở. Cầu tan tành thành từng mảnh. Bị bao vây, tiến thoái lưỡng nan, quân của Trưởng trở thành mục tiêu của pháo binh Bắc Việt Nam.

 

Nhận được lời kêu cứu đầu tiên, tướng Tưởng vội lệnh cho các tàu c̣n rỗi chạy tới băi biển đón binh lính thất trận. Trong khi những tàu nhỏ chở bọn này qua sông nước th́ những người c̣n lại trên băi, mặt cắt không c̣n giọt máu. Binh lính đánh lẫn nhau, binh lính vật lộn với dân thường để tranh xuống tàu trước. Mạnh ai nấy chạy.

 

Ở phía Nam, t́nh h́nh trên băi biển Quảng Ngăi và Chu Lai cũng thế. Binh lính sư đoàn 2 vật lộn với dân thường để tranh một chỗ hiếm hoi trên một vài tàu đánh cá chưa ra khơi. Quá trưa, thị xă Quảng Ngăi và căn cứ không quân Chu Lai không c̣n ǵ để bảo vệ.

 

Tin thảm hoạ trên càng lan rộng ra Đà Nẵng th́ ḷng tự tin của Francis càng xẹp. Tinh thần dân chúng căn thẳng một cách đáng sợ. Phải làm ǵ đây để trấn an. Đừng để cho sự căng thẳng này lan sang đám binh lính của Trưởng. Giữa buổi sáng, Francis gửi một điện về Sài G̣n đề nghị mở một cầu hàng không có thể chuyên chở 40000 người tị nạn.

 

Gần một giờ sau, chuyến máy bay đầu tiên của hăng Hàng không thế giới hạ cánh xuống sân bay chính. Hơn một trăm người tị nạn được chất lên và chở đi Cam Ranh, nơi được chọn làm nơi tập kết của họ. (tr.148)

 

Cùng lúc ấy, ở Sài G̣n, tướng Smith và các sĩ quan của ông cho tập trung những tàu kéo, ca nô để chở quân lính Nam Việt Nam và thiết bị quân sự ở Quân khu I. Ở sứ quán và ở Hoa Thịnh Đốn lúc bấy giờ c̣n căi nhau xem phái bộ quân sự có quyền hợp pháp tham gia việc cứu nguy cho quân đội Huế không. Sợ rằng hành động như thế sẽ vi phạm luật của quốc hội cấm quân đội Mỹ không được dính líu một lần nữa vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Để tránh khó khăn, họ quyết định chỉ sử dụng tàu nhỏ và máy bay dân sự.

 

Người Bắc Việt Nam cùng thảo luận nhưng họ nhất trí nhanh và đi đúng hướng. Như tướng Dũng viết trong hồi kư:

 

Ngày 25 tháng 3, Bộ chính trị lại họp. Phiên họp lịch sử ấy khẳng định: “Cuộc tổng tiến công chiến lược của ta đă bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên. Thời cơ chiến lược mới đă đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam, Bộ Chính trị chủ trương: tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Sài G̣n trước mùa mưa. Nắm thời cơ địch đang rút lui chiến lược, tiêu diệt và làm tan ră quân đoàn 1 nguỵ và đại bộ phận quân đoàn 2, không cho chúng rút về cụm lại chung quanh Sài g̣n”.

 

Nghị quyết tuyệt mật này đă được điện cho tướng Dũng, lúc bấy giờ sở chỉ huy vẫn c̣n ở gần Buôn Mê Thuột. Ban lănh đạo Hà Nội vừa thông qua nghị quyết quan trọng nhất trong thời kỳ chiến tranh. Nghị quyết này - chiến thắng hoàn toàn ngay năm 1975 - chưa hề được thảo luận trong các buổi họp tháng 12 năm 1974 và tháng 1 năm 1975 của Bộ Chính trị, nay có một mục tiêu cụ thể.

 

Nghị quyết này cũng gây ra nhiều chuyện phức tạp và quan trọng. Phải tiêu diệt quân đoàn 1 nguỵ, lại phải giải phóng ngay Đà Nẵng và Huế.

 

Ngày 24 tháng 3, khi Kissinger trở lại Hoa Thịnh Đốn, ông tỏ ra hết sức lạnh lùng. Chính sách của ông ở Trung Đông sa lầy, cuộc khủng hoảng ở Đông Dương ngày càng nghiêm trọng và Graham Martin, người được ông chọn để theo dơi sát t́nh h́nh, lại không có ở nơi cần có mặt, mà lại đang ở Mỹ để chữa răng! (tr.149) Nguy hơn nữa là Martin có vẻ không hiểu rơ những vấn đề xảy ra ở Việt Nam trong lúc ông vắng mặt. Ông chỉ đồng ư rời nhà ở Carolina Bắc, đến Hoa Thịnh Đốn sớm trước mấy ngày, mà ông đến đây chỉ là để bác bỏ những tin tức bi đát ở mặt trận. Ông tỏ vẻ không c̣n tin tưởng ǵ Francis, người con đỡ đầu nữa.

 

Sau khi đọc một bức điện đặc biệt buồn thảm từ Đà Nẵng gửi về, Martin nói không thương tiếc: “Bệnh của Francis lại tái phát và gây cho nó nhiều mắc mớ đấy!”

 

Ḷng tin của Martin đối với sự nghiệp của Mỹ ở Việt Nam chỉ do sự không hiểu của ông về những sự kiện đang xảy ra. Như ông vẫn nhắc lại với những người bi quan ở Hoa Thịnh Đốn, việc mất phần phía Bắc của Nam Việt Nam là một ơn của các đáng thiên thần. Về mặt kinh tế, phần đất ấy chưa bao giờ phát triển, trái lại đă giấu bao nhiêu của cải của chính phủ. Phần đất c̣n lại giàu có hơn rất nhiều, về mặt chính trị sống động hơn và cũng vững chắc hơn. Bảo vệ phần đất này sẽ dễ dàng hơn. Một số người thấy luận điểm của Martin rất chướng tai nhưng ông này cũng có nhiều đồng minh. Những người nhận định t́nh h́nh của CIA và Lầu Năm Góc vừa hoàn thành một bản báo cáo về t́nh h́nh Việt Nam mà ông có thể trở thành tác giả. Tuy chấp nhận việc mất vĩnh viễn những vùng quan trọng ở Quân khu I và Quân khu II, nhưng họ lại viết rằng: quân đội chính phủ ở những vùng khác của nước này đủ mạnh để lập một pḥng tuyến bảo vệ phía Bắc Sài G̣n cho đến tháng 5, bắt đầu mùa mưa, một việc mà bộ tổng tư lệnh Nam Việt Nam đă tính đến. Cuộc tiến công của quân Bắc Việt Nam chắc sẽ bị ngừng lại v́ thời tiết xấu và lúc bấy giờ chính phủ có thể có đủ thời gian để trang bị lại, tập trung quân đội, thậm chí nối lại cuộc đàm phán với tương quan lực lượng ngang nhau.

 

Trong số những người nhận định trẻ của CIA, có nhiều người muốn nhấn mạnh phía bi quan của bản báo cáo nhưng Polgar bác bỏ, gạch đít bằng bút ch́, những đoạn cuối.

 

Về phần bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger, ông đi đến kết luận rằng: một sự lạc quan như thế, dù có chừng mực (tr.150) đến mấy, cũng là một sự lố bịch. Đó là điều ông nói không úp mở với các đồng nghiệp. Việc ông muốn làm là chuẩn bị ngay để cho tản cư tập thể người Mỹ ở Việt Nam cũng như đang làm ở Campuchia. Nhưng trước đây, v́ ông thường phản đối Kissinger nên nay ít có hy vọng gây ảnh hưởng với Nhà Trắng để có quyết định trên.

 

Trong giới quân sự, một số người tỏ ra ít bi quan hơn. Phần đông quan chức cao cấp cơ quan t́nh báo quân đội đồng ư với Martin về sự sống động của phần Việt Nam c̣n lại. Trong khi đó, bên kia bờ sông Potomac, tệ quan liêu bàn giấy của bộ ngoại giao đă chơi cho Martin một vố. V́ không có ai được phép hành động thay Kissinger trong thời gian ông đi Trung Đông, nên những cơ quan phụ trách vấn đề Việt Nam đều không làm ǵ được.

 

Từ Phnôm Pênh, đại sứ Dean tiếp tục gửi về Hoa Thịnh Đốn cơ man nào tin tức khủng khiếp, so với những tin này th́ những bản báo cáo về Việt Nam quá tẻ nhạt. Trên chương tŕnh nói chuyện hàng ngày của bộ phận Viễn Đông, tin tức của Sài G̣n thường xếp ở hàng thứ hai hoặc thứ ba. Có một số chuyên gia ở bộ ngoại giao cho là người ta đă cố thu nhỏ vấn đề Việt Nam lại một cách nguy hiểm, nhưng họ chỉ là cán bộ cấp thấp trong bậc thang hành chính nên không ai nghe họ. Hoặc là họ giải thích, tŕnh bày chưa rơ ràng nên chưa thuyết phục được người nghe thấy nguy cơ đến nơi.

 

Một nhiệm vụ nặng nề chờ Kissinger ở Hoa Thịnh Đốn. Mấy giờ sau khi ông về, ông tỏ rơ ngay thế lực của ḿnh. Lầu Năm Góc báo tin, một tàu bay nữa sẽ đi theo chiếc Okinawa đang ở ngoài khơi biển Đông để tản cư người Mỹ đang làm việc ở những vùng cơ chiến sự.

 

Sáng ngày 25, chính phủ Nam Việt Nam báo tin Huế thất thủ. Quân cộng sản kéo cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời lên đỉnh Ngọ Môn hoàng thành cũ.

 

Mấy giờ trước khi thành phố thuộc về quân Bắc Việt Nam, hàng ngh́n người dân chạy ra bờ biển cách đó 16 kilômét. Một số đông bơi ra biển định lên tàu đang đón người tị nạn. Nhiều (tr.151) người bị sóng đánh ch́m hoặc sóng ngầm cuối đi. Sư đoàn 1 không c̣n nữa.

 

Dưới phía Nam, Chu Lai và Quảng Ngăi cũng thất thủ ngay buổi sáng. Sáu ngh́n lính sư đoàn 2 đào ngũ. Không c̣n kỷ luật, tinh thần ǵ nữa. Sư đoàn không c̣n có thể coi là một đơn vị chiến đấu.

 

Khi tướng Dũng được tin ấy, ông không nén được xúc động, ông viết trong hồi kư: “Tôi châm lửa vào điếu thuốc. Tôi đă “cai” thuốc từ lâu, nhưng mỗi lần giải quyết được một vấn đề ǵ gai góc, giành được một thắng lợi ǵ lớn, được tin một chiến thắng xuất sắc th́ hút một điếu cho vui”.

 

Sự vui mừng của ông không ngăn cản ông chuẩn bị cho cuộc tiến công mới: trận đánh Đà Nẵng. Ông ở quá xa mặt trận Quân khu I để có thể trực tiếp chỉ huy, nhưng ông có những ư kiến rơ ràng về cách điều khiển chiến dịch. Ông thiết tha đề nghị với Hà Nội để tướng Lê Trọng Tấn, tổng tham mưu phó quân đội Bắc Việt Nam làm tư lệnh mặt trận Đà Nẵng. Bộ Chính trị chấp nhận và trong vài ngày đă thành lập xong một bộ chỉ huy mới cho Quân khu I. Tướng Tấn rời Hà Nội bằng máy bay lên thẳng, đặt sở chỉ huy ở phía Tây Đà Nẵng.

 

Quân bảo vệ của chính phủ Thiệu tiếp tục tan ră. Chỉ mấy giờ sau khi Huế thất thủ, bạn tôi Joe Kingsley thảo một bức điện nói về việc tiến quân của lực lượng Bắc Việt Nam ở phía Tây Nha Trang, trong Quân khu II. Anh khẳng định rằng nơi đây đă bị uy hiếp nặng. Cách Sài G̣n 56 kilômét về phía Tây Bắc, quân Nam Việt Nam đă bỏ một huyện trong khi đó th́ ở tỉnh B́nh Long, xe tăng Bắc Việt Nam đă tiến đến Chơn Thành, vị trí của chính phủ ở phía Bắc Quân khu III.

 

Mấy giờ sau, Thiệu báo tin thay đổi nội các để - như ông ta nói - có thể nắm toàn quyền cai trị. Thực ra, không có ǵ thay đổi. Phần lớn những cánh hẩu của Thiệu, kể cả thủ tướng Khiêm, tướng Viên đều giữ chức vụ cũ, giữ nguyên quyền hạn.

 

Trong lúc đó, ở sân bay Tân Sơn Nhất, người Bắc Việt Nam, đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Uỷ ban hỗn hợp quân sự phải trả giá đắt về chiến thắng của họ: Buổi tối, đi tắm không có nước chảy. Thiệu đă ra lệnh cắt nước của họ để báo thù!

 

 

CHỈ NHỮNG NGƯỜI MỸ THÔI

 

Đà Nẵng, thành phố thứ hai của Nam Việt Nam, cách Sài g̣n sáu trăm kilômét về phía Đông Bắc, đang bị bao vây và bị bắn phá. Cuộc pháo kích bắt đầu sáng ngày 25 tháng 3. Mười bốn quả đạn rốc kết 122 milimét, rơi đúng trung tâm thành phố. Ḍng người tị nạn dài từ Huế, Quảng Ngăi kéo đến càng thêm hoảng sợ.

 

Sư đoàn 1 bị tiêu diệt, Trưởng không c̣n quân dự bị, chỉ c̣n 25000 binh lính để bảo vệ Đà Nẵng. Làm sao mà ông ta có thể chống cự lại được quân Bắc Việt Nam gồm hai sư đoàn, nhiều trung đoàn độc lập sẵn sàng tiến công. Lại c̣n hai sư đoàn nữa sắp rời Huế tiến vào trận đánh.

 

Ở phía Nam Đà Nẵng, Quảng Ngăi và Chu Lai thất thủ làm cho nhiều đơn vị Bắc Việt Nam rảnh tay, Trưởng chỉ c̣n một sư đoàn tồi nhất là sư đoàn thứ ba để ngăn chặn họ.

 

Trong 12 ngày qua, hơn 500.000 lính đào ngũ và người chạy trốn theo mọi con đường, tràn vào Đà Nẵng. Thành phố hiện có tới hai triệu dân. Lúc nào kỷ luật bị phá vở? Gánh nặng gia đ́nh đối với sĩ quan và binh lính ra sao? Trưởng không có cách ǵ biết được. Nhưng lần này, hắn hy vọng có thể tránh được thảm hoạ. Dù sao, Đà Nẵng không phải là Huế: Bến Cảng rất gần, hải quân có thể tản cư một phần nhân dân trước khi cuộc tiến công bắt đầu. Đó chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Quân Bắc Việt Nam chắc không để cho Trưởng có th́ giờ. Lúc này, thuyền tàu trên sông Hàn đầy người qua sông. Nhiều người phải trả một số tiền bằng 1.200 đôla cho những kẻ đục nước béo c̣ để được đi về phía Nam. Nếu quân Bắc Việt Nam bắt đầu tiến (tr.153) công từ ngoài biển vào th́ lối ra sẽ bị chặn và thành phố chắc chắn hoàn toàn bị bao vậy.

 

Thời gian là yếu tố quan trọng nhất. Ở Sài G̣n, một số người trong chúng tôi thấy rơ điều đó. Sáng 25, tướng Smith cho 5 tàu kéo rơ-moóc, sáu tàu chở khách và ba tàu chở hàng ra Đà Nẵng để giúp vào việc tản cư người tị nạn và vận chuyển thiết bị.

 

Trong cuộc họp buổi sáng, Al Francis ra lệnh cho mọi người chờ đợi: gia đ́nh các nhân viên lănh sự quán được tản cư ngay về Sài G̣n bằng máy bay, tiếp theo là người Mỹ làm theo hợp đồng. C̣n những người Mỹ ở rải rác trong thành phố, phải khuyên họ đi ngay lập tức.

 

Ai hỏi về kế hoạch tản cư, Francis đều trả lời bằng một từ: xong kế hoạch do nhân viên CIA thảo ra không thể thực hiện được, v́ thiếu máy bay. Chỉ trông chờ được vào hăng Hàng không Mỹ, hăng Hàng không thế giới và một phần vào hăng Hàng không Việt Nam và không quân Việt Nam có thể có.

 

Sau này, Francis thổ lộ: Tôi dùng hết cách để cho tản cư bằng máy bay càng được nhiều người càng tốt. Nếu có thể, tôi cho tản cư cả thành phố, nhưng việc đó không thể thực hiện được. Tôi quyết định khi thấy hàng ngh́n người tị nạn kéo tới làm mất tinh thần quân đội.

 

Francis nói: tôi biết từ ngày 25 rằng: sắp hết rồi: Thấy sự lộn xộn trong thành phố, tôi hiểu là nguy cơ xấu đây - và đó là ngày 29 tháng 3.

 

Các đồng nghiệp của ông không tán thành ư kiến của ông. Đại diện lâm thời Lehmann từ Sài G̣n, gọi ra trách ông đă gieo rắc hoang mang trong những bức điện radiô gửi cho tàu sân bay Okinawa và những căn cứ quân sự Mỹ khác. Nhưng Francis tiếp tục giữ sự bi quan của ḿnh và trả lời: tôi ở tại chỗ, tôi biết không c̣n thời gian nữa. Ông lấy tin ở đâu? Lần đầu tiên Lehmann không đáp lại.

 

Sau buổi họp. Custer gọi chi nhánh CIA ở Sài G̣n xin thêm máy bay của hăng Hàng không Mỹ để chở người Mỹ và gia đ́nh họ. Nhiều viên chức CIA khác, ngay buổi chiều, đă chuẩn bị (tr.154) vé máy bay thường lệ của hăng Hàng không Mỹ cho bạn bè người Việt Nam và những người giúp việc. Họ gọi chuyến bay ấy là chuyến tàu tự do.

 

Phần lớn những người Việt Nam chở ở sân bay chính Đà Nẵng đều kiên tŕ giữ kỹ luật, Họ hiểu rằng đời họ phụ thuộc vào những đức tính này. Nhưng cảnh đó làm thất vọng một số nhà báo nước ngoài đến Đà Nẵng với mục đích t́m những cảnh thương tâm hoặc những trận đánh đẫm máu. Một nhóm phóng viên vô tuyến truyền h́nh Anh cố ư gây ra những cảnh mà thời sự không có. Trước hàng rào sân bay, một nhân viên CIA đầm đ́a mồ hôi, cố ngăn cản mươi, mười hai người Việt Nam. Những nhà báo nói trên liền đẩy họ, chen lấn họ để họ tức giận, xô tới người Mỹ. Thật là những cảnh đẹp của vô tuyến truyền h́nh Anh quốc: Người xem sẽ thấy người Mỹ đang đánh những người Việt Nam khốn khổ muốn lên máy bay tản cư.

 

Xế chiều, gia đ́nh trưởng ban tác chiến của tướng Trưởng được tản cư bằng máy bay đặc biệt của phái bộ quân sự cùng với vợ Custer và bà Terry  Tull, phó lănh sự mà mới hôm qua đây c̣n bị coi là người quá bi quan. Brinson Mc Kinley, nhân viên mới đến của lănh sự quán, ở lại làm phó Francis. Tối hôm đó, bà Custer, nóng giận và bơ phờ, đến sứ quán gặp Polgar. Bà bảo Polgar: “Để đồ đạc lại, chở người từ Đà Nẵng về ngay”.

 

Polgar gật đầu và hứa sẽ làm. Nhưng thực tế, ông không có ư định ǵ cả. Sau này ông giải thích: “Tôi không muốn thay những người có trách nhiệm tại chỗ. Những viên chức ở Đà Nẵng có quyền quyết định những việc cần làm v́ họ là những người duy nhất đứng trước t́nh h́nh đang diễn biến”.

 

Ngày 25 tháng 3 tôi làm cho Polgar một bản báo cáo, trong đó tôi gắng tả cuộc rút lui chiến lược hỗn loạn bằng những từ dễ hiểu. Tôi viết: Tám tỉnh đă mất trong ba tuần qua bốn tỉnh khác đang bị uy hiếp. Hơn một triệu người không có nhà ở. Họ trở thành một gánh nặng không tính nổi cho nền kinh tế. (tr.155)

 

Những cuộc rút chạy chiến lược ở phái Tây Nguyên và phía Bắc Quân khu I quá hấp tấp và lộn xộn không hy vọng c̣n lại ǵ. Bỏ lại cơ man nào kho vũ khí, đạn dược nặng. Những người ở Kontum và Pleiku sống sót c̣n lại bị mắc nghẽn bên bờ một con sông cách bờ biển 32 kilômét. Họ ít hy vọng tới được đây. Sư đoàn dù được đưa từ Quân khu I về để bảo vệ Sài G̣n, bị xé lẻ giữa Quân khu II và Quân khu III, một lữ đoàn phải đi pḥng thủ Nha Trang.

 

Ở phía Bắc, lơm cuối cùng của chính phủ là Đà Nẵng. Ở Quân khu II, bốn hay năm sư đoàn quân Bắc Việt Nam hành quân cấp tốc ra bờ biển chiếm vị trí then chốt ở Qui Nhơn. Tuy Hoà và Nha Trang. Chỉ có một lữ đoàn dù và hai trung đoàn thuộc sư đoàn số 22 Nam Việt Nam trên đường họ hành quân.

 

Ở Quân khu III, ba hay bốn sư đoàn Bắc Việt Nam nhanh chóng bao vây Tây Ninh và vùng phụ cận. Hai sư đoàn khác định kéo xuống khu tam giáp sắt ở phía Bắc và phía Đông Sài G̣n. Hai sư đoàn khác, sau khi tiêu diệt tất cả các vị trí của quân chính phủ - trừ Xuân Lộc - hành quân qua tỉnh Long Khánh. Từ nay, Xuân Lộc là nơi trở ngại duy nhất đối với cộng sản trên con đường quen thuộc họ tiến về Biên Hoà, trung tâm quân sự của Sài G̣n. Ở vùng đồng bằng, quân cộng sản buộc ba sư đoàn quân chính phủ ở vào thế pḥng thủ và họ uy hiếp nặng Cần Thơ và Mỹ Tho.

 

V́ quân chính phủ gần như bị dụp đổ hoàn toàn ở nữa phía Bắc nước này nên quân Bắc Việt Nam mạnh hơn bao giờ hết. Họ kiểm soát hầu hết những con đường chính ở Quân khu I và Quân khu II, nay có thể gửi thêm quân tiếp viện cho vùng Sài G̣n và vùng đồng bằng rất nhanh chóng và có hiệu lực chưa lúc nào bằng.

 

“Căn cứ vào sự thiệt hại mới đây về thiết bị và sự uy hiếp thường xuyên của quân Bắc Việt Nam trên khắp các mặt trận th́ quân chính phủ trong thời gian trước mắt, không thể nào phục hồi lại được. Thật vậy, những ǵ gây ra cuộc khủng hoảng này không hề thay đổi dù ở Sài G̣n, Hà Nội hay Hoa Thịnh Đốn. (tr.156) Chiến tranh Việt Nam đă hoàn toàn đảo ngược trong mấy tuần lễ. Một thảm hại quân sự là chắc chắn”.Đó là những nhận định của chi nhánh CIA ở Sài G̣n gửi về cho Hoa Thịnh Đốn cuối tháng 3.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn người ta đau ḷng chấp nhận sự nghiêm trọng của t́nh h́nh. Nhưng làm ǵ đây? Các giới chính trị tự do, mỗi giới thận trọng đưa ra một giải pháp. Trong một cuộc họp báo, Kissinger nói những lời hoa mỹ: “Hoà b́nh không thể chia cắt. Hoa kỳ không thể có một chính sách không nhất quán. Chúng ta không thể bỏ những người bạn của chúng ta ở vùng này của thế giới mà không làm cho nền an ninh của những người bạn ở vùng khác bị uy hiếp”. Có nghĩa là không có vấn đề bỏ rơi Sài G̣n nếu chúng ta muốn tiếp tục chơi tṛ cân bằng giữa Ixraen và các nước A rập. Kissinger ra sức đ̣i không được giảm viện trợ tài chính cho Nam Việt Nam. Trái lại phải chi thêm ba trăm triệu đôla nữa. Nhưng người đối thủ cứng đầu của ông trong chính phủ là bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger, đă bí mật cho giới báo chí biết số tiền Mỹ mới cấp cho Sài G̣n - bảy trăm triệu đôla - hoặc chưa dùng đến hoặc đă tiêu phí hết rồi. Trong khi đó, ở Đà Nẵng, trên bờ biển phía Đông Việt Nam, quân đội Nam Việt Nam đi chân đất, không vũ khí, gào khóc ḥ hét giữa phố, bất chấp người đi lại. Chúng tập họp thành từng nhóm trên vỉa hè, cầm tay nhau. Nhân dân Đà Nẵng rất lo sợ nh́n những kẻ thất trận mất tinh thần ấy. Chúng sẽ làm ǵ đây? Hăm hiếp, đốt, cướp, phá phách!

 

Ngày 26, hàng trăm sĩ quan Việt Nam xông vào những sứ quán, đ̣i giúp đỡ gia đ́nh họ tản cư. Nhiều người Mỹ buộc phải đẩy vợ con họ trà trộn với những người giúp việc sắp đi Cam Ranh hay Sài G̣n. Francis cũng phải nhận cho tản cư gia đ́nh nhiều sĩ quan cao cấp của không quân với điều kiện những sĩ quan này bảo đảm sự an toàn của hai sân bay ở Đà Nẵng.

 

Thoạt đầu, cầu hàng không hoạt động b́nh thường. Máy bay 727 của hăng Hàng không thế giới, máy bay lên thẳng và (tr.157) máy bay vận tải C-47 của hăng Hàng không Mỹ bay đi, bay về cả ngày. Mỗi lần cầu thang hạ xuống, hàng trăm người Việt Nam xô tới, một tay cầm tấm vé quí giá, tay kia dắt con, bế lợn, ôm gà.

 

Giữa trưa, đại tá Garwin Mc Curdy từ Sài G̣n đáp máy bay tới giúp Francis tổ chức cầu hàng không. Vừa bước xuống đất, theo yêu cầu của Francis, ông phải trở lại Sài G̣n để xin thêm máy bay lên thẳng của không quân Mỹ.

 

Xế chiều, Mc Curdy về tới sứ quán. Khi ông gọi tới bộ tổng tư lệnh nhóm cố vấn Mỹ đặc biệt ở phía Bắc Thái Lan, hỏi xin hai máy bay lên thẳng để tản cư những người ở Đà Nẵng th́ được người chỉ huy trả lời là không thể được. Toàn bộ máy bay lên thẳng ở đây đang chờ bay đi Phnôm Pênh để tản cư những người Mỹ ở đấy. Không có Hoa Thịnh Đốn duyệt th́ không thể cho máy bay đi đâu cả. Xin duyệt lại mất rất nhiều th́ giờ.

 

Trong lúc cuộc tản cư ở Đà Nẵng tiếp diễn th́ các vị trí của quân chính phủ ở Quân khi II bị tiêu diệt trong chớp mắt. Sáng 26, một thị trấn nhỏ ở tỉnh B́nh Định, bên bờ biển, rơi vào tay địch. Sư đoàn 3 quân Bắc Việt Nam tiến thẳng về Qui Nhơn, thành phố quan trọng thứ ba của Nam Việt Nam. Nhiều đơn vị quân đội cộng sản khác chặn đánh tàu chở quân của sư đoàn 22 quân Nam Việt Nam chạy tan tác ở phía Tây thành phố. Cùng lúc đó, hàng ngh́n người dân ở Qui Nhơn và Tuy Hoà bỏ nhà cửa chạy trốn dọc bờ biển về Nha Trang. Nhiều người đi chân đất theo đường số 1, nhiều người đi bằng thuyền đánh cá, chạy qua nhiều vùng nguy hiểm.

 

Khoảng 12 viên chức bộ ngoại giao, cơ quan thông tin và Chi nhánh CIA làm việc trong lănh sự quán Mỹ ở Tuy Hoà cũng đi ngay.

 

Sáng 26, họ được CIA báo cho biết quân đặc công cộng sản chuẩn bị đánh phá trụ sở của họ. Họ thu xếp hành lư trong vài giờ và bay đi Nha Trang. Trong Quân khu II, người Mỹ (tr.158) chỉ c̣n có tổng lănh sự và mấy lănh sự quán nhỏ ở Phan Thiết và Đà Lạt.

 

Tất cả phần phía Bắc nước này nhanh chóng rơi vào tay kẻ địch. Nhưng tai hoạ của Thiệu không dừng ở đấy. Ngày 26, đối thủ lớn của Thiệu, cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ mời nhiều bạn thân cũ có cảm t́nh đến ăn cơm ở Tân Sơn Nhất.

 

Sau một bài nói chuyện dài và uống cạn nhiều chai sâm banh. Kỳ thuyết phục bạn bè cùng ông ta đ̣i lập một chế độ giao thời có thể tập hợp được quân đội và đàm phán trên thế mạnh.

 

Đúng lúc ấy, làn sóng nhân viên lănh sự quán Mỹ ở Quân khu I về tới Sài G̣n, làm tăng thêm số dân Mỹ và sự lo sợ của họ. Đáng lẽ nghỉ ngơi th́ họ lại tới các ba, các tiệm ăn ưa thích, hết đêm này sang đêm khác, kể những chuyện kinh khủng ngoài chiến trường và đoán chắc rằng thảm hoạ đến nơi rồi.

 

Lo rằng sự hoang mang lây sang người khác, các quan chức cao cấp sứ quán nhanh chóng đề ra biện pháp đối phó. Họ buộc thủ tướng và phó thủ tướng các cơ quan phải giữ bí mật, không nói rơ sự thật cho giới thân cận, vợ con, thư kư hay cộng tác viên. Ngoài ra, Lehmann vẫn đứng đầu sư quán v́ Martin c̣n vắng mặt, chặn tất cả những nguồn “tin xấu”, nhất là của đài tiếng nói Hoa Kỳ, đài phát thanh nói tiếng Anh do phái bộ quân sự đài thọ. Một cộng tác viên của ông, hàng giờ, kiểm duyệt những điện từ Mỹ đánh sang và xoá bỏ tất cả những ǵ có thể làm rối ruột các vị “phu nhân” nằm dài bên bờ bể tắm, nghe đài bán dẫn. Báo Bưu điện Sài G̣n, tờ báo hàng ngày duy nhất của thủ đô, bằng tiếng Anh, do CIA kiểm soát, cũng bắt đầu thu nhỏ những thất bại gần đây của chính phủ.

 

Ở Đà Nẵng, sự mất ổn định và căng thẳng này diễn ra suốt ngày nên một phần nhân dân quên đi, đâm ra coi thường. Trưa 27, nhiều chợ và cửa hàng thực phẩm lại mở, giá cả không thay đổi.

 

Trong các pḥng làm việc của CIA, gần lănh sự quán, ḍng người Việt Nam chờ tản cư tăng lên hoặc giảm đi theo từng (tr.159) giờ, giống như một máy tăng điện tự động. Mỗi máy bay có thể chở ba trăm người nhưng cùng lúc ấy th́ ba trăm người khác đă vượt rào vào, chờ đến lượt ḿnh. Họ cố đem theo số của cải ít ỏi, mong mỏi kỳ tài của người Mỹ cứu họ. Ron Howard, phụ trách hậu cần của CIA, từ cửa sổ pḥng làm việc, nh́n xuống triều người dâng lên, rút đi rồi lại dâng lên: Có đến ba ngh́n người Việt Nam giúp việc cho lănh sứ quán và người Mỹ, lại c̣n những người quen của họ. Họ đến ngày càng đông, giận dữ như anh.

 

Khi thấy một đoàn xe gíp và xe tải chạy vào cửa chính, Howard len lỏi ra sân, xem xem có thể giúp một tay vào việc bốc hàng lên không. Anh không bằng ḷng về cách chọn lựa người đi đang được thực hiện. Nhân viên CIA phụ trách việc này cũng là một người tị nạn. Ông ta có xu hướng dành ưu tiên cho những người bạn Việt Nam và đồng nghiệp cùng ông ta vừa chạy tới Đà Nẵng. Ông ta bỏ rơi những nhân viên của Howard. Trong buổi sáng, hai lần, Howard phải gọi radiô cho nhân viên thường trực của CIA ở lănh sự quán, đề nghị lựa chọn người tản cư một cách công bằng, nhưng viên chức này chỉ trả lời rất đơn giản: “Chúng tôi cố gắng làm hết sức ḿnh”.

 

Đoàn xe đi. Howard ngồi một ḿnh trong pḥng. Không xa lắm, dưới mắt anh, người Việt Nam phá cửa một nhà kho, đạp nát hàng hoá, đồ đạc trong đó. Họ uất ức quá như anh!

 

Quá trưa, nhiều tin mới loan truyền trong thành phố: quân Bắc Việt Nam tiến công đến nơi rồi. Nhân dân lại hoảng sợ. Hàng trăm người mặt tái mét, vội vàng chạy vào sân bay. Họ chen chúc, xô đẩy nhau mỗi khi có một máy bay tới.

 

Khoảng hơn 2 giờ chiều, Francis đi xe gíp tới sân bay. Ông vừa mệt, vừa nhức đầu v́ thiếu ngủ trong những đêm vừa qua ông không thể chịu nổi cái cảnh hai nhân viên CIA điều khiển người Việt Nam tản cư. Ông vội vàng đảm nhiệm việc ấy. Nhưng mấy phút sau, một máy bay hạ cánh, ḍng người xô ra đường băng, đẩy ngă Francis, dẫm cả lên người ông. Ông vội đứng dậy, lấy dùi cui đánh người Việt Nam và kêu lên. “Gọi thị trưởng cho tôi! Gọi thị trưởng cho tôi!” (tr.160)

 

Thị trưởng Đà Nẵng ở cuối ḍng người. Ông ta có vẻ không muốn ra mặt. Một nhân viên CIA nắm lấy ông ta, kéo đến chỗ Francis, Francis cố gắng mang hết sức lực yếu ớt c̣n lại thét lên: “Trời ơi, giúp chúng tôi một tay chứ. Những người này là những người của các ông!” Vừa thét xong, tổng lănh sự Hoa Kỳ ngă vật xuống đất, không c̣n biết ǵ nữa.

 

Mỗi giờ qua đi th́ sự hoảng loạn càng tăng, tăng nhan hơn là dự kiến. Trong khi những tị nạn chạy đi, chạy lại trên sân bay th́ những máy bay lên thẳng của hăng Hàng không Mỹ bắt đầu đỗ xuống một băi nhỏ hơn, gần núi Ngũ Hành ở phía Đông thành phố, để đón những người chạy trốn khác. Những máy bay tham gia cầu hàng không cũng đỗ xuống sân này. Tám giờ tối, Francis đă tỉnh, ra lệnh tạm thời ngừng những chuyến bay của hăng Hàng không Mỹ ở sân bay chính v́ quá lộn xộn và ồn ào. Trong số người Mỹ c̣n lại, mấy người được chở bằng máy bay lên thẳng đến sân bay ở gần núi Ngũ Hành, c̣n số đông trở lại thành phố, tạm trú rất kịp thời ở một ngôi nhà gọi là “Alamô”.

 

Đêm xuống. Hơn ba mươi viên chức lănh sự quán c̣n kẹt lại trong thành phố, cũng như mấy ngh́n người Việt Nam giúp việc. Nhiều người tụ tập chung quanh trụ sở của CIA.

 

Tin tức radiô từ Sài G̣n đánh ra, được nhận ở pḥng radiô cấp cứu đặt ngoài hành lang, gần pḥng làm việc của Custer, John Pittman, phó của Polgar, luôn luôn đ̣i hỏi Custer và nhân viên của anh rời Đà Nẵng ngay. Polgar không muốn một ai hy sinh vô ích tính mạng ḿnh.

 

Custer cố làm ông yên ḷng, nói rằng anh cũng thấy rơ sự nguy hiểm và đă có đủ sự đề pḥng cần thiết. Khi bức điện được đánh đi, anh yên trí Pittman và Sài G̣n sẽ để anh yên.

 

Khoảng 10 giờ đêm, một phó của Francis đến gặp những người Mỹ tạm trú ở Alamo. Anh b́nh tĩnh bảo họ thu xếp hành lư đi ngay đến nhà Francis ở gần đấy. Anh nhấn mạnh: “Chỉ những người Mỹ thôi! Không nói ǵ với nhân viên người Việt Nam”.

 

Ron Howard lại cầu cứu Custer bằng radiô: Người Việt Nam tụ tập ở ngoài sân bắt đầu chửi anh kết tội người Mỹ (tr.161) đă phản bội họ. “Phải giúp ngay tôi, giúp ngay, giúp nhiều nếu không họ sữ đánh tôi và đập phá hết” điều mà suốt ngày đó, anh từng lo sợ. Nhưng, radio câm như hến. Cũng buổi tối hôm đó, tổng thống Thiệu xuất hiện trên máy vô tuyến truyền h́nh. Ông đọc một bài diễn văn trong năm phút. Ông hô hào “đồng bào chặn đứng cuộc tiến công của quân thù”. Việc Thiệu lại ra mắt trước công chúng có ư nghĩa như lời kêu gọi của ông, v́ hai tuần này, ông biệt tăm. Sau bài nói chuyện một lúc, Thiệu rời dinh độc lập, đi xe ḥm bọc thép đến một nơi ở bí mật, gần khách sạn Majestic, trông ra bờ sông. Thiệu hội đàm tới khuya với “cận thần”. Thiệu ít lo ngại về những tin xấu từ mặt trận gửi về mà sợ những tin đồn loan truyền rằng cuộc đảo chính của Kỳ sắp sửa nổ ra. Buổi sáng hôm ấy, Kỳ lại ra một lời kêu gọi nữa, đ̣i Thiệu phải từ chức. Nhưng Thiệu đă chuẩn bị đối phó. Ngay giờ sau, cảnh sát an ninh quốc gia, vũ trang đầy đủ đến bắt nhiều người đáng nghi, ba nhà báo và bốn “chính trị gia”, hạng nh́, v́ tội định làm đảo chính lật đổ chính phủ. Không có một nhân vật tai to mặt lớn nào trong giới thân cận Kỳ bị động đến. Ít nhất, lúc này.

 

Gần nữa đêm, George Jacobson, cố vấn đặc biệt của đại sứ, gọi đại tá Mc Curdy ở tổng hành dinh yêu cầu xin ngay một số máy bay lên thẳng của lực lượng đặc biệt đóng ở Thái Lan. Khi đại tá nói chuyện được với tư lệnh không quân thứ bảy, bằng dây nói an ninh th́ cũng được trả lời như lần trước: “Không c̣n máy bay rồi, cần cấp trên chuẩn y, tất cả dành cho chiến dịch “Phượng hoàng ra đi” ở Campuchia”.

 

Màn đêm trùm lên Đà Nẵng, tiếng vang của trận đánh bất ngờ im ắng. Chỉ c̣n lời nhắc nhở khó nghe, qua loa phóng thanh của chính quyền: chiến tranh đang tiếp diễn ngoài kia trong bóng tôi đêm cuối cùng này! Nhưng sự yên tĩnh chỉ là ảo tưởng. Ba mươi lăm ngh́n binh lính Bắc Việt Nam đă ở ngoại ô Đà Nẵng, vừa quyết định tạm dừng lại, để gây hoang mang. Sau này, chung quanh Sài G̣n, họ cũng dùng chiến thuật ấy, để tiến đánh trận cuối cùng.

 

Khoảng một giờ rưỡi sáng ngày 28 tháng 3, Ron Howard cuối cùng đă nói chuyện được bằng radiô với Custer. Howard (tr.162) cố giữ b́nh tĩnh để tŕnh bày rơ t́nh h́nh: Người Việt Nam phá xe, cướp của cải, đốt kho v.v...Anh nghe thấy tiếng nói của Custer giật giọng như tiếng gươm: “Nên b́nh tĩnh. Rời trụ sở, ra bờ biển, cho canô xuống nước. Chúng ta đi tất cả”. Howard vừa khóc vừa cố làm cho Custer hiểu: anh không ra được, đang bị bao vây. Custer nhắc lại lệnh và cắt đứt cuộc nói chuyện.

 

Howard ngồi trong pḥng làm việc, đầu rối tịnh. Lănh sự quán có năm chiếc xuồng máy. Đó là những phương tiện duy nhất có thể cứu anh. Những giữa lúc xuồng máy và anh, c̣n có ba ngh́n nhân viên người Việt Nam và cơ man nào nhân dân thành phố đang coi anh như một “con tin” để được tản cư theo. Họ không để cho anh ra, nếu anh không thu xếp hoặc không giả vờ thu xếp một cái ǵ đó cho họ đi. Anh phải nghĩ một mẹo mới được. Ở sở chỉ huy, trên đường ra biển, tướng Trưởng lần cuối cùng, tập họp được bộ tham mưu. Với giọng buồn thiu, ông ta giải thích: ít nhất phải mất 45 ngày mới thu thập được binh lính, ổn định t́nh h́nh nhân dân và đưa họ đi tản cư. Nhưng, ông ta kết luận, may ra, chúng ta chỉ c̣n một hay hai ngày thôi!”

 

THOÁT KHỎI ĐỊA NGỤC

 

Ngày 28 tháng 3, mới trước b́nh minh nhưng ở Đà Nẵng, ngoài bến tàu, ḍng người sợ hăi đă đông nghịt. Nhưng tấm gỗ xám, lâu đời kêu răng rắc dưới sức nặng của hàng ngh́n người Việt Nam. Họ chen lấn, xô đẩy nhau. Đây là chuyến đi cuối cùng. Chung quanh mỗi cột cầu tàu, thuyền và tàu kéo đậu thành ba hàng, chở người tị nạn đứng ngồi như nhét khoai tây. (tr.163)

 

Trong lúc đó, ở phía Tây thành phố, dưới tầm súng của lính bắn tỉa Bắc Việt Nam, nhiều người tị nạn thất vọng, chiếm vọng kiểm soát của sân bay chính, ngăn cản mọi chuyến bay. Một lúc sau, khoảng 4 giờ sáng, Francis, sau khi đi thăm thành phố trở về nhà, người mệt lử. Ông báo cho nhóm 30 người Mỹ, những người Việt Nam và người nước ngoài khác đang chờ ông biết rằng t́nh h́nh rất xấu, buộc ông phải ra lệnh cho tản cư ngay lập tức toàn bộ những người ông chịu trách nhiệm.

 

Một số người trong nhóm đi lẫn lộn vào đám đông, tới sân bay nhỏ ở bên kia đường dành cho máy bay lên thẳng của Ủy ban quốc tế kiểm soát. Lúc đó những máy bay đầu tiên của hăng Hàng không Mỹ bay tới. Những người c̣n lại của nhóm tiến ra bến ở bên kia lănh sự quán, ở đấy có một xuồng máy vừa từ cảng chạy tới. Họ vừa mới xuống xuồng th́ hàng trăm người Việt Nam đă xô ra cầu tàu. Trong không đầy 20 phút, hơn bốn ngh́n người đứng trên đó, nặng gấp hai lần sức chở b́nh thường. Custer, từ kho nh́n ra, thấy ḿnh bất lực, không thể nào cho tản cư được nhân viên của anh.

 

Giữa lúc rối ren ấy, Francis gọi một sĩ quan của phái bộ quân sự và hai nhân viên CIA theo ông. Ông vất cho một người khẩu súng M-16 và nói: “Có khi phải sử dụng đến. Đừng chần chừ ǵ mà không sử dụng”. Ông vội đi đến lănh sự quán, ở bên kia đường. Một nhóm người đi xe Honda bắt đầu bao vây ông.

 

Sau khi nhanh chóng vào trụ sở, lấy máy radiô cực mật của CIA, ông lên một xe vận tải nhỏ, đi ra bến. Giữa sự chen lấn của những người tị nạn, ông đưa được máy radiô xuống một xuồng máy.

 

Trong khi đó, lính Nùng của Thiệu, xông vào trụ sở, t́m kiếm vơ vét những ǵ CIA để lại. Khi họ hiểu rằng người chủ Mỹ đă bỏ rơi họ, họ lập tức đập phá và đốt những ngôi nhà. Hai nhân viên CIA xuất hiện, họ lia súng buộc hai người phải chạy trốn qua cửa ra vào. (tr.164)

 

C̣n Ron Howard, anh không tự hào chút nào về mưu mẹo của ḿnh. Anh gọi riêng mấy nhân viên người Việt Nam, nhanh chóng cho họ ư kiến, đánh xe vận tải lại, cho ba ngh́n người tị nạn nhanh chóng lên xe, chở ra trung tâm thành phố, ở đấy sẽ có máy bay lên thẳng đến đón!

 

Lệnh của anh được chấp hành ngay. Howard cũng giúp phụ nữ và trẻ em trèo lên xe. Rồi từng chiếc một, những xe vận tải chở 2,5 tấn nặng nề chạy qua cửa sắt, đi về phía địa điểm tập kết ma. Rơ ràng mưu mẹo này không cao. Việc ngần ấy người lên xe phải mất hơn một giờ đồng hồ. Khi chiếc xe cuối cùng đi được th́ những chiếc xe đầu tiên đă quay về, người trên xe giận dữ tưởng phát điên. Họ sẵn sàng giết người. Họ đă chờ đợi và nh́n về phía chân trời hết sức thất vọng. Đúng thế, chưa có một máy bay lên thẳng nào đến cả mặc dù người ta đă hứa hẹn!

 

Howard đóng và khoá được cửa sắt, nhưng hàng trăm người tị nạn nổi giận đă tập họp ngoài đường phố và xô tới cửa. Chợt Howard nghe thấy tiếng nói của Custer ở radiô để trong túi phát ra, giục anh mau mau ra cảng: mọi người đều đi! Run v́ sợ, Howard nghe lơm bơm lời giục giă. Trong bóng tối, anh nh́n đồng hồ: năm giờ rưỡi rồi. Lần này tính anh có thể nguy hiểm.

 

Anh không thể đi bằng bốn con đường được. Anh không có quyền lựa chọn. Anh bám lấy cổ áo một người Việt Nam, một người thợ có khi rất quen. Anh thề với người này sẽ bảo đảm mọi thứ quư giá cho anh ta và gia đ́nh, chỗ trên máy bay hoặc trên tàu nếu anh này nhận giúp anh trốn thoát. Người Việt Nam có vẻ không tin nhưng anh cũng chẳng c̣n cách nào khác. Anh nhận lời. Trong khi hơn một chục người tị nạn đột nhập được trụ sở, đốt ṿi bơm dầu xăng, cướp phá tự do th́ Howard và người thợ, cùng gia đ́nh lặng lẽ ṿng ra đằng sau nhà, lên một xe vận tải bỏ không. Người Việt Nam cần lái (Howard ngồi xổm bên cạnh) cho xe đâm vào đám người tụ tập, những người này tản ra; mấy phút sau, xe đi được tới cảng (tr.165)

 

Cầu hàng không lại có, đúng lúc b́nh minh ở sân bay chính. Lúc những máy bay 727 đầu tiên của hăng Hàng không thế giới hạ cánh, một đoàn xe quân sự chở gia đ́nh binh lính Việt Nam đến đỗ ở đường băng và bắt đầu cho người xuống. Tức th́, năm ngh́n người Việt Nam khác, kiến nhăn chờ ngoài cửa, chạy ập tới máy bay, dẫm cả lên đàn bà, trẻ con. Lính gác Mỹ ra oai. Nhưng không có kết quả. Người lái máy bay khởi động, bắt đầu cho máy bay lăn bánh. Rất nhiều tay người c̣n bám lấy cửa máy bay chưa đóng. Hàng chục người c̣n bị treo lơ lửng khi máy bay rời đường băng:

 

Ron Howard lái ṃ trong sương mù dày đặc. Trong ánh sáng mờ, tiếng kêu cầu cứu của người Việt Nam át cả tiếng sóng vỗ.

 

Howard t́m thấy Custer và 16 người Mỹ khác đang chờ anh bên bờ biển. Máy canô đă khởi động, không ngoái cổ lại một lần, họ ra khơi. Howard ngồi đằng trước, lái ca-nô. Bên anh là Custer, Brunson Mc Kinley và ba người Mỹ khác. Người thợ cơ khí Việt Nam và gia đ́nh bị nhét ở phía sau. Bên phải, hai chiếc xuồng máy khác của lănh sự quán vừa kêu vừa chạy qua những con sông lớn.

 

Howard chưa hiểu sẽ đi đâu. Anh cũng không quan tâm đến việc ấy nữa. Cái chính là thoát khỏi Đà Nẵng, được sống b́nh yên sau nhiều ngày khốn khổ. Lấy cái compa bỏ túi, anh lái canô đi về phía Đông Nam, tới một đảo nhỏ của những người đánh cá.

 

Custer, mệt mỏi, ngồi khuỵu bên anh. Sau cùng, mới ấp úng: “Một tàu LZ đón chúng ta”. Thật vậy chẳng mấy chốc, một ống khói đỏ, trắng xanh lơ và bóng xám một tàu chở hàng Mỹ xuất hiện giữa sương mù. Đó là tàu Pioneer Contender.

 

Ở Đà Nẵng, lúc Francis nghe nói có biểu t́nh ở sân bay chính, ông quyết định tất cả các máy bay của hăng Hàng không Mỹ đều đỗ xuống sân bay Ngũ Hành Sơn, để lại hơn mười ngh́n người Việt Nam ở sân bay chính. Trong những người này có nhân viên lănh sự quán với gia đ́nh họ. Francis đề nghị cho hai máy bay Huey đến chở “hành khách hợp pháp” này về (tr.166) sân bay “Ngũ Hành Sơn”. Nhưng hai máy bay vừa đỗ xuống th́ đám đông đă xô tới, một lần nữa, lại đánh nhau để lên.

 

Trên biển, những xuồng máy nhỏ đỗ dọc chiếc tàu Pioneer Contender, dưới tiếng kêu thét vui vẻ của Ron Howard và các bạn đồng nghiệp. Một người Việt Nam níu chặt lấy các thập tự nhỏ. Howard đứng dậy, lấy một thang dây trên tàu, quăng xuống cho anh ta và gọi Custer để cùng giúp người tị nạn leo lên tàu. Nhưng Custer vừa lắc đầu vừa xua tay và nói: Tôi không muốn ở trên tàu, tôi c̣n phải lo nhiều việc ở Đà Nẵng. T́m nhân viên quan trọng người Việt Nam bị bỏ sót lại. Có ai giúp tôi không?

 

Howard không tin ở tai ḿnh nữa. Anh nh́n những người khác ngồi trong tàu, không ai động đậy. Brunson Mc Kinley cuối cùng gật đầu và nói: Tôi đi. Anh là người duy nhất xung phong.

 

Custer chào vĩnh biệt những người trèo lên thang sau cùng. Gặp may mắn, giữ ǵn sức khoẻ. Chiếc xuồng máy quay lại, biến trong sương mù. Howard trông thấy anh lần cuối cùng trong lúc leo lên cầu giữa. Anh nói với người bạn Việt Nam leo trước anh: “Trời chứng giám, tôi không có t́nh cam đảm!”

 

Howard tự an ủi ḿnh quá sớm. T́nh h́nh trên tàu Contender cũng như giấc mộng khủng khiếp anh đă thấy ở Đà Nẵng: 15.000 lính Nam Việt Nam chen chúc trên boong, một số đánh nhau, một số bắn những người dân đứng lẩn với họ. Cách đó mười mét, một tên hiếp một phụ nữ trong khi đó một tên khác ǵ súng vào người chồng chị ta. 35 người tị nạn Mỹ th́ họp thành một nhóm rất nhỏ gần buồng lái.

 

Một người Mỹ nói to với Howard, tay chỉ một binh lính Nam Việt Nam cầm súng, đứng trên boong ở tầng trên: chúng muốn đi Philippin, và đă nhốt thuyền trưởng rồi.

 

Howard không cần phải suy nghĩ lâu mới biết nên làm ǵ. Anh ra hiệu cho mấy lính Mỹ cùng đi Đà Nẵng, tŕnh bày nhanh với họ kế hoạch của anh. Sau khi xem lại vũ khí, lính Mỹ đi lên boong trên. Bốn lính Nam Việt Nam đứng dựa vào (tr.167) thành tàu mải nói chuyện với nhau không hề biết ǵ. Howard và lính Mỹ đánh ngă ngay, chúng không kịp kêu. Họ phá khoá. Người thuyền trưởng, choáng váng, đi từ cabin ra, theo sau là mấy thuỷ thủ. Khi đă hoàn hồn, ông mới ồm ồm nói: “Các bạn biết không, chúng bảo với tôi từ Sài G̣n, chúng đến đây để lấy xe của Mỹ c̣n để lại. Tôi không ngờ lại xảy ra chuyện này”.

 

Ở Sài G̣n, không một ai trong chúng tôi có ư niệm ǵ về sự khổ cực của các đồng nghiệp ở Quân khu I. Tin tức sơ sài chúng tôi nhận được buổi sáng là một mớ phóng sự của các nhà báo và báo cáo của lái máy bay kèm theo ảnh chụp từ trên không. Kèm theo nữa là việc Custer tỏ ư với Polgar chưa vội về Sài G̣n, làm cho chúng tôi yên tâm. Chúng tôi lại nói với nhau để tự an ủi: người chịu trách nhiệm ở ngoài đấy nắm vững t́nh h́nh. Thế rồi chúng tôi b́nh tĩnh đi làm việc.

 

“Việc” này không chán như trước v́ ngày 28 Martin và người thân cận của Weyang đến Sài G̣n. Ngay lúc Ron Howard và các bạn anh ở lănh sự quán ngoài Quân khu I vật lộn để sống, th́ Pat, Joe và cả tôi nữa đang hối hả chuẩn bị những bản báo cáo để tŕnh bày với những nhân vật quan trọng về những sự kiện mà ngay bản thân chúng tôi cũng khó hiểu.

 

Mc Kinley ngồi bên cạnh Custer, trên guồng máy vượt sóng chạy vào bờ, kính đầy nước. Giữa đường, họ trông thấy một tàu kéo, chiếc Osela (Mc Kinley nghĩ: đúng là một từ Mỹ), họ cho xuồng chạy đến. Custer nói: có thể tàu có nhiều sàlan. Họ đang cần để chở người tị nạn.

 

Thực tế, không c̣n sàlan nào trống cả, chỉ có thể đứng được thôi. Hai người quyết định lấy hẳn chiếc Osela làm căn cứ.

 

Họ trông thấy AL Francis trên bến, mắt trũng, vẻ mệt mỏi. Nhưng Francis từ chối không chịu tản cư. Ông nói: tôi c̣n phải ở lại một lúc nữa để giữ t́nh thần người Việt Nam. Mc Kinley nói đùa một cách buồn bă: “Thế th́ ở lại nhé”, rồi đi với Custer. Đấy là lần cuối cùng họ trông thấy Francis ở Đà Nẵng. Mc Kinley từ biệt Custer ở bến bên kia lănh sự (tr.168) quán. Anh đi ngược phố đến biệt thự của Francis, liếc nh́n đám đông xem có mặt nào quen không. Bọn kẻ cướp đă phá cửa nhiều nhà, nhiều cửa hàng vắng chủ. Chúng gói của cải vào vải bạt, vác lên vai chạy vượt qua Kinley. Lửa cháy ở những phố gần đấy.

 

Trên tàu Pioneer Contender, Howard và các bạn Mỹ quan sát một cách bực ḿnh hàng ngh́n lính Việt Nam cùng đứng trên boong. Họ đă lên tàu gần một giờ, đă giải phóng thuyền trưởng và ổn định tư tưởng của thuỷ thủ bất b́nh nhưng chung quanh họ vẫn là hỗn độn và bạo lực. Lính Nam Việt Nam giết những người nghi là Việt cộng! Thực tế đó là lính và dân đánh nhau đến chết để tranh một chỗ ở boong dưới. Thế rồi có tin loan truyền người nhái cộng sản sắp đánh đắm tàu. Một lính Mỹ nêu ư kiến đuổi những người Việt Nam ở boong trên xuống, lấy dày bao quanh họ, pḥng khi họ quay lại tiến công người Mỹ th́ dễ bảo vệ hơn. Đuổi họ khỏi boong trên không phải là chuyện dễ: có đến gần một ngh́n lính Nam Việt Nam phần lớn có vũ khí. Đuổi họ đi sẽ gây chuyện đánh nhau ngay. Nhưng nên chọn cách nào? Howard và mấy người nữa hỏi thuyền trưởng. Ông chấp nhận. Cong việc được tiến hành ngay. Howard cầm súng, tiến đến nhóm lính gần nhất, yêu cầu gọi sĩ quan đến nói chuyện. Anh chững chạc bảo họ: tàu không thể chạy được nếu trên boong này c̣n cảnh hỗn loạn. Suốt buổi sáng và cả trưa nữa. Howard và bạn anh lần lượt đi nói với các nhóm lính như thế. Đồng thời họ tước vũ khí của lính và đẩy họ dần dần về phía sau, nhất là đối với những tên cứng cổ.

 

Ở trên bờ, Mc Kinley phải len lỏi mới ra được bến cùng với mấy người cộng sự Việt Nam. Được Custer giúp đỡ, anh đẩy những người bạn này lên một xuồng máy. Mất 45 phút mới ra tới tàu Oseola và 5 phút mới lên được tàu. Custer quay mũi xuồng vào bờ.

 

Trong khi đó, tài Oseola kéo theo nhiều Sàlan tiến về nơi hẹn trước bằng radiô với tàu Pioneer Contender sẵn sàng chở người tị nạn. (tr.169)

 

Suốt buổi sáng, hai máy bay lên thẳng của hăng Hàng không Mỹ bay đi bay lại giữa sân bay nhỏ của Ủy ban quốc tế kiểm soát ở gần nhà Francis và đường băng ở núi Ngũ Hành. Đến trưa, cả hai máy bay đều sắp cạn dầu. Phi công báo cho Francis, họ phải đến một đảo nhỏ cách bờ khoảng một trăm kilômét để lấy nhiên liệu. Không để mất một phút, Francis gọi đến sở chỉ huy của Trưởng yêu cầu cho một máy bay lên thẳng đến chở người tị nạn từ sân bay nọ đến sân bay kia. Trưởng nhận lời, cho hẳn máy bay lên thẳng và phi công riêng của ông đến.

 

Có thêm máy bay, Francis cho chở được hết khách ở sân bay của Ủy ban quốc tế kiểm soát trước ba giờ chiều. Khi người tị nạn cuối cùng lên máy bay, Francis ra lệnh cho người lái bay đi, không chờ ông, Francis muốn quay lại lănh sự quán xem c̣n ai không.

 

Mười phút sau, người lái máy bay của Trưởng đỗ xuống phía Đông sân bay núi Ngũ Hành và cho người xuống. Nhưng anh ta không biết rằng những người kiểm soát của hănh Hàng không Mỹ vừa chọn một nơi khác để máy bay đỗ nên nhóm người tị nạn này bị bỏ lại.

 

Xế chiều, Francis đến núi Ngũ hành kiểm tra lần cuối, ông thấy những người tị nạn rét run, ôm lấy nhau như đám gà con sợ hăi, ông gọi radiô cho hănh Hàng không Mỹ xin một chuyến bay nữa nhưng binh lính Nam Việt Nam đă đặt pháo binh sẵn sàng nhả đạn vào đường băng. Francis đến thảo luận với họ, họ đồng ư hoăn việc phá đường băng để máy bay đỗ với điều kiện chở một số sĩ quan và binh lính đi tản cư. Do đó trong số 93 người đi trên chiếc C-47 cuối cùng, một nữa là binh lính Nam việt Nam.

 

Nhưng cả sự nhượng bộ ấy cũng không ích ǵ. Máy bay vừa lăn bánh trên đường băng, hàng trăm binh lính khác đỗ xô đến, bám lấy cánh, lấy càng như họ muốn giữ máy bay lại để báo thù. Francis chạy đến, thét mắng, chửi bới, thậm chí đánh những người lính. Sự khiêu khích có hiệu quả ngay: Lính quay lại đánh ông, máy bay cất cánh ngay, Francis có thể (tr.170) bị giết nhưng ông nhanh trí, giả vờ chết. Bọn lính sợ hăi lùi lại, rồi trở về với đại bác của họ. Một người Đức, hai người Anh giúp việc cho một tổ chức từ thiện, đứng xa chứng kiến cảnh này. Họ vội vàng chạy đến nâng ông tổng lănh sự dậy. Tuy bị đánh và ngất đi nhưng ông không đau lắm. Chỉ bị thương ở cổ. Tuy vậy, Sài G̣n thất thủ hai năm rồi, ông vẫn c̣n khó chịu.

 

Quá trưa ngày 28 tháng 3, sư đoàn 3 Nam Việt Nam đóng ở phía Tây Nam Đà Nẵng không c̣n nữa: Vừa bị pháo binh cộng sản bắn, vừa bị gánh nặng gia đ́nh thôi thúc sư đoàn tan ră nhanh. Một số lính thuỷ ở phái Bắc thành phố lùi ra bở biển v́ trước chúng, lực lượng Bắc Việt Nam rất đông sắp đè bẹp chúng. Tin thất trận bay về bộ tư lệnh tướng Trưởng. Trưởng gọi cho Thiệu ở Sài G̣n đề nghị dành cho ông ta một sự “linh động” nào đó. Thiệu không thèm hỏi ǵ v́ biết rằng linh động có nghĩa là tản cư ngay và triệt để bằng đường biển!

 

C̣n Francis và trưởng chi nhánh CIA ở Đà Nẵng có vẻ tranh nhau tỏ rơ cho đồng nghiệp đă xuống tàu, ḿnh có vinh dự là người Mỹ cuối cùng rời thành phố! Tổng lănh sự vừa thoát chết ở sân bay Ngũ Hành Sơn. Cùng với mấy người Anh, đi máy bay lên thẳng đến sở chỉ huy của Trưởng nói là để giúp ông ta. Custer dành cả buổi chiều để đi đi lại lại giữa tàu Oseola và bến sông Hàn. Trước tối, xuồng máy anh ta hết dầu, cách lănh sự quán không xa lắm. Anh cùng với người lái dùng một xuồng khác đi ra tàu kéo.

 

Chiều xuống, sương mù toả ra. Nh́n xa được đến đâu th́ thấy mặt nước biển ở đấy đầy những thứ thành phố vứt đi. Tàu, thuyền bè đánh cá, phà nhấp nhô trên sóng. Trên tàu Pioncer Contender, Ron Howard và các bạn đă đuổi được phần lớn binh lính Việt Nam xuống dưới. Nhưng ở giữa tàu chật như nêm cối. Những người Mỹ thấy rằng họ khong thể giữ riêng cho họ bong trên.

 

Suốt buổi chiều, tàu Contender vẫn tiếp nhận người tản cư. Nhưng thuyền, cuồng áp mạn tàu đến đâu th́ trên tàu lại thả thang và cho cầu xuống đến đấy. Những người tị nạn mạo hiểm trèo lên boong. Nhiều người, nhất là người già và trẻ em, (tr.171) trượt chân, ngă xuống biển, bị thuyền buồm nhận ch́m hoặc sóng cuốn đi. Thuyền, xuồng cũng bị sóng vỗ va vào tàu. Đến tối, Ron Howard thôi không đếm số người chết nữa. Anh đă trông thấy hơn một ngh́n người xơi xuống nước rồi.

 

Ở sở chỉ huy của Trưởng, Francis và hai người Anh thấy ông ta đang hủy hồ sơ và bản đồ. Phần lớn bộ tham mưu của Trưởng đă đào ngũ. Ba người phương Tây giúp ông ta đốt tài liệu rồi cùng lên máy bay lên thẳng của Trưởng bay về bộ tư lệnh hải quân Việt Nam, đặt trên một bán đảo nhỏ gần bến lớn cảng Đà Nẵng. Đêm xuống, khi họ hạ cánh trước trụ sở có ánh đèn mờ. Dọc bến có nhiều xuồng chở đầy binh lính. Những người lính khác ngồi trên bến, chân tḥ xuống nước, Francis hỏi một sĩ quan mượn một chiếc xuồng để ngược sông đến lănh sự quán, anh này nhún vai.

 

Trong đêm, Ron Howard xem đồng hồ bỏ túi. Sắp mười giờ. Trong tám giờ trước đó, tàu Pioneer Contender chở được bảy ngh́n người tị nạn. Tiếp tục nghe thấy tiếng súng nổ ở boong dưới. Bọn lính Nam Việt Nam vẫn giết dân để chiếm chỗ, mỗi lúc một nhiều hơn. Mấy người Mỹ định can thiệp nhưng nhiều người khác không muốn có một cuộc đụng độ với lính. Cuối cùng, quyết định không chở thêm người nào nữa.

 

Giữa lúc đó, ba sà lan lớn đến gần tàu Contender, chở khoảng ba ngh́n người. Một trọng lượng quá sức chứa của tàu. Sà lan thứ nhất cho người lên. Những người Mỹ đứng trên boong trên bắn một tràng đạn trước mũi sà lan thứ hai để cảnh cáo. Một tàu kéo chạy sau sà lan lập tức quay mũi. Trên tàu lấp lánh dưới ánh sáng một đèn chiếu: Oseola, chiếc tàu Mỹ khác!

 

Khuya rồi mà máy bay từ Đà Nẵng vẫn tiếp tục hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài G̣n. Người Việt Nam và người Mỹ bước xuống đường băng, đầy nước mắt. Nhiều viên chức của chi nhanh quốc tế “cho sự phát triển” và của cơ quan hành chính sứ quán tổ chức một cuộc phân loại. Người Mỹ được phân loại nhanh chóng đi các khách sạn hay những biệt thự công của sứ quán. Nhưng không ai sắp xếp chỗ ăn, ở cho người Việt Nam, phần đông chưa ra khỏi Đà Nẵng, bao (tr.172) giờ. Những cơ sở tiếp nhận họ ở Cam Ranh và vùng đồng bằng chưa chuẩn bị xong.

 

Đêm ấy, tôi đi lang thang giữa những người Việt Nam. Họ im tiếng, ngồi yên trên nền xi măng, khuỷu tay đặt trên va ly, nh́n đăm đăm, khó chịu. Nhân viên sứ quán và bộ ngoại giao phân phát cho họ nước chè và bánh săng-uưch.

 

Một số nhân viên CIA vừa đi máy bay từ Đà Nẵng đến, cố lấy lại tinh thần bằng cách đến “ba” ở khách sạn Duc. Nhưng chỉ được một lúc, phần đông đi nằm.Một viên chức già khuỵu xuống, khóc trước mặt vợ. Mặc dù không muốn, ông thuật lại quá tŕnh ông đưa bạn bè và cộng tác viên người Việt Nam vượt qua bao nhiêu chuồng sắt đặt ở núi Ngũ Hành để bao vây họ. Đó là kỷ niệm đau buồn nhất của ông trong những ngày cuối cùng ở Việt Nam: sau những chuồng ấy là những khuôn mặt điên dại, những cặp mắt hoảng sợ và những trẻ con khóc hết hơi.

 

Đến 12 giờ, Custer ở trên tàu Oseola, b́nh yên, cùng với nhiều đồng nghiệp CIA. Anh đă từ bỏ ư định một ḿnh cứu Đà Nẵng. Anh nằm dài trên boong, nghỉ ngơi. Trong đêm, tiếng đại bác nổ, những tiếng kêu của người hấp hối làm anh không thể nào ngủ được. Từ buồng lái, thuyền trưởng có thể trông rơ ở xa xa, ánh sáng tàu Pioneer Contender. Nhưng nay, ông quyết định không cho tàu ḿnh tới gần nó, nhất là vừa rồi lại có những viên đạn nhằm vào tàu Oseola. Chắc là tàu Contender không muốn cho thêm người lên nữa, nay ông phải t́m cách xa ĺa hàng ngh́n người tị nạn chất trên sà lan do tàu ông kéo. Một nhân viên CIA, đánh radiô cầu cứu (SOS) tất cả các tàu ở phía Nam biển Đông.

 

Quá nửa đêm, một quả đạn đại bác nổ sau sở chỉ huy. Quả thứ hai nổ đằng trước mặt. Quả thứ ba, trúng giữa, quả thứ tư, trúng một sà lan giết khoảng trăm người. Những cơ sở của hải quân đặt trên một bán đảo nhỏ, bên ngoài Đà Nẵng, căn cứ cuối cùng của tướng Trưởng, đang bị pháo binh cộng sản bắn phá dữ dội. (tr.173)

 

Lúc trận pháo kích bắt đầu, Francis đang đi dọc bến, t́m một sà lan máy để ngược ḍng sông. Trong lúc hoảng sợ, ông tưởng những tiếng nổ đầu tiên do đạn rốc kết 122 milimét, và ông rất yên trí v́ súng rốc kết này bắn thiếu chính xác. chắc cộng sản gặp may nếu họ trúng mục tiêu! Nhưng họ bắn mỗi lúc thêm chính xác, ông hiểu rằng có người chỉ mục tiêu ở gần đâu đây và không phải đạn rốc kết mà là đạn đại bác 105 milimét họ chiếm được của quân Nam Việt Nam. Cùng với hai người bạn người Anh, Francis vắt chân lên cổ chạy xuống băi biển và những xuống nước. Bơi khỏi tầm súng, họ nghe thấy tiếng máy nổ của một tàu tuần tra ven sông đang từ từ quay lại. Họ bơi đến và lên tàu. Ba người ở cách bờ biển khoảng hơn một ngh́n mét.

 

Họ được chuyển sang một tàu HQ5, tàu tuần tra ven biển. Francis rất bằng ḷng thấy binh lính trên tàu có kỷ luật v́ có sĩ quan chỉ huy cùng đi với họ. Thuyền trưởng báo cho Francis biết ông phải ở trên tàu cho đến khi xong việc tản cư. Nhờ vậy, thuyền trưởng chắc chắn được người Mỹ giúp đỡ.

 

Đài radiô tàu HQ5 không thể liên lạc trên sông với các tàu dân sự chạy quanh khu vực ấy. Francis buộc phải đánh một điện về bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam ở Sài G̣n đề nghị chuyển cho những tàu đang tuần tra gần tàu HQ5 biết tin ông. Nhờ đó Custer và các bạn anh mới rơ Francis đă thoát được.

 

Suốt đêm ấy, những người Mỹ trên tàu Oseola thay nhau gác. Thỉnh thoảng họ phải bắn chỉ thiên để đuổi những tàu đánh cá và cuồng chở đầy người chạy đến gần. Radiô của sứ quán Sài G̣n đều đều ra chỉ thị và động viên họ.

 

Quá nửa đêm, người trên tàu Oseola thấy ánh đèn tàu Pioneer Contender xa dần. Tàu này chạy đi Cam Ranh. Phải mất 15 giờ mới tới. Có đủ thức ăn trong bếp cho thuỷ thủ, 40 người Mỹ và khoảng một trăm người phương Tây khác nhưng không có ǵ cho đám đông người Việt Nam đang ở trên boong chính. Ron Howard và các bạn anh dùng một ṿi chữa cháy cố phân phối nước cho họ. Nhưng mỗi lần anh cầm lấy ṿi th́ đằng sau, binh lính Việt Nam lại cắt ṿi. Người thầy thuốc duy nhất trên tàu (tr.174) là một ông già di cư, ông đặt trạm xá trong bếp. trên tàu, Howard giúp ông đỡ đẻ cho một phụ nữ Việt Nam sinh con trai.

 

Sáng 29, trời mưa và rất lạnh. Biển động hơn hôm trước. Lúc trời rạng đông, một nhân viên CIA ở tàu Oseola trèo lên đài quan sát. Anh nh́n rơ nhiều sà lan đang rập ŕnh chung quanh, chở hàng ngh́n người, trong đó có nhiều người chết. Xác để lẫn giữa người sống, không thể vất được xuống biển.

 

Mấy sà lan bị bỏ lại, đang trôi, người đi trên những sà lan này, đă được chuyển lên tàu Pioneer Contender đêm trước. Trên sà lan, đầy rác rưởi. Khi sương tan, nhân viên CIA nhận ra giữa những đống quần áo, hành lư, đồ đạc, không phải là những mẩu gỗ mà là chân, tay con người.

 

Sáng 20 tháng 3, không rơ giờ nào, tướng Ngô Quang Trưởng, từng được coi là sĩ quan ưu tú nhất của quân đội Nam Việt Nam đang bơi và trôi giữa những con sóng nguy hiểm ở ngoài khơi Đà Nẵng. Ông không phải là người bơi giỏi, người ta phải vớt ông ta đưa lên tàu tuần tra Việt Nam đang đón.

 

Trưởng ở trên tàu trong những ngày sau đó. Đằng xa, lính c̣n lại của những sư đoàn mà ông từng tự hào, đang cướp phá, đốt thành phố thứ hai của Nam Việt Nam.

 

Trong số hai triệu người c̣n lại ở Đà Nẵng, một trăm ngh́n người là binh lính đào ngũ thuộc các sư đoàn thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba và sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, tất cả đều bị bao vây như đàn chuột. Chúng sẵn sàng phản bội, ăn cướp, giết người để khỏi sa vào vực thẳm và cứu gia đ́nh.

 

Ở Sài G̣n, Polgar đọc những bản báo cáo “hoạt động ở Quân khu I, với sự lo lắng mỗi lúc một tăng. Đúng ngày lănh sự quán Đà Nẵng đóng cửa, ngày hôm trước, ông đă ra lệnh một lần cho Custer rời ngay Đà Nẵng về Sài G̣n. Nhưng trưởng chi nhánh Đà Nẵng, quyết chơi tṛ anh hùng cho đến chót, đă làm như không biết có lệnh ấy. Do đó, lúc này, anh đang ngồi ở cảng Đà Nẵng, từ chối không chịu kéo neo. Sau này, anh nói rằng anh ở lại để góp sức vào việc tản cư những người khác, nhận thêm tin mới và bảo vệ an ninh cho Francis. (tr.175) Nhưng Polgar cho là Custer quá mạo hiểm vô ích và khi ông gọi radiô được cho Custer đang ở trên tàu Oseola, ông báo thẳng anh như thế.

 

Ngày 29 tháng 3, tổng thống Ford chuẩn bị rời Hoa Thịnh Đốn đi nghỉ lễ Phục sinh ở Palm Springs, California. Ông báo cho Quốc hội biết bốn tàu vận tải của hải quân Mỹ và nhiều tàu đi thuê khác đang tiến về vùng biển Nam Việt Nam để tham gia vào việc tản cư nhân dân những cảng bị bao vây. Daniel Parker, giam đốc chi nhánh quốc tế phát triển chịu trách nhiệm điều hoà công việc đón nhận những người tị nạn, do chi nhánh của ông đài thọ. Bộ Hải quan cũng chi tiền cho việc tản cư.

 

Ford coi công việc bày hoàn toàn có “tính nhân đạo”. Tàu đậu bên ngoài khu vực có những trận đánh. Ở Sài G̣n, sứ quán cũng đồng thời báo tin tổ chức một cầu hàng không cấp tốc, bằng những máy bay mới chở dụng cụ y tế và thiết bị quân sự từ Mỹ sang.

 

Không để phí th́ giờ, Bắc Việt Nam công khai tố cáo ngay những biện pháp do tổng thống Ford đưa ra, coi đó là một sự vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris. Và họ tăng thêm cường độ bắn phá Đà Nẵng.

 

Suốt buổi sáng 29, radiô Sài G̣n cố gắng làm yên ḷng những người trên tàu Oseola. Tàu của hải quân Nam Việt Nam đến cứu họ. Qua màn mưa, chỉ thấy người tị nạn ở Đà Nẵng xỉu đi.

 

Nóng ruột, Mel Chatman nói: Tôi phải trở lại để t́m một vài người của tôi. Bạn anh cố khuyên anh đừng đi nhưng Chatman, một nhân viên người da đen của chi nhánh quốc tế phát triển không nghe. Anh bước xuống một xuồng máy đi vào bờ. Mấy giờ sau anh trở ra thất vọng, không đón được ai. Anh nói: “Thành phố rất lộn rộn, tôi không dám bước lên bờ”.

 

Mel Chatman không phải là người Mỹ duy nhất định trở lại Đà Nẵng buổi sáng ấy. Edward Daly, giám đốc kiên quyết của hăng Hàng không thế giới cũng đến xem tại chỗ. Sứ quán (tr.176) Mỹ suốt đêm trước, đă cô khuyên ông không nên đi, nhưng ông không nghe, nhắc lại rằng: những máy bay của ông là hy vọng cuối cùng của hàng ngh́n người tị nạn bị nghẽn lại trong thành phố. Ông bay từ Tân Sơn Nhất lúc b́nh minh với hai phi cơ 727, ông ngồi trong phi cơ đi trước. Lúc chiếc máy bay này hạ cánh, trên đường băng này đă có hàng ngh́n lính vũ trang và dân thường. Khi thang mấy bay hạ xuống. Daly bắn chỉ thiên mấy phát súng để mong chúng ngừng lại nhưng vô ích. Một nhóm vô tuyến truyền h́nh người anh, vừa đến quay phim, bị chúng xô ngă, dẫm lên. Phải cho một máy bay lên thẳng của hăng Hàng không Mỹ đến cứu họ.

 

Không đầy mười phút, hơn 270 người, hầu hết là lính (v́ chỉ có hai phụ nữ và một trẻ em) đă ngồi đứng chật cả máy bay của Daly. Lúc chiếc máy bay phản lực lớn lăn bánh, một binh sĩ v́ không được đi, chạy theo máy bay, ném một quả lựu đạn, làm hỏng sân bay. Quân Bắc Việt Nam nă đạn rốc kết vào đầu đường băng. Chiếc máy bay 727 thứ hai không dám đỗ xuống nữa.

 

Một nhà báo Mỹ ngồi trên chiếc 727 thứ nhất gọi chuyến bay này là “Thoát khỏi địa ngục”. Hàng chục người c̣n bám vào cánh máy bay hoặc ở trên đường băng lúc máy bay lăn bánh, do đó nhiều người bị chết hoặc rơi xuống đất khi máy bay cất cánh. Người ta c̣n t́m thấy nhiều xác chết trong hộp cánh máy bay. Lối đi giữa cabin đầy máu. Chiếc máy bay Mỹ cuối cùng rời Đà Nẵng trong t́nh thế đó.

 

Gần trưa, mười máy bay lên thẳng nhỏ Nam Việt Nam bay từ sân bay chính. Trên mỗi chiếc có 20 người lính, tăng gấp đôi sức chở b́nh thường. V́ sân ở núi Ngũ Hành bị uy hiếp nặng, những máy bay này không thể đổ xuống được. Một người lái không biết Chu Lai đă thất thủ, cho máy bay hạ cánh xuống đấy, anh bị bắt ngay làm tù binh. Trong số chín máy bay c̣n lại, bốn chiếc bị bắn rơi, một chiếc bay ra một đảo ở phía Đông Nam Đà Nẵng, những chiếc kia mất tích, không c̣n một dấu vết (tr.177)

 

Trên cầu tàu Oseola, Brunson Mc Kinley quan sát những sà lan và tàu đánh cá đậu chung quanh. Anh ước tính số người đi, lên tới mười ngh́n, mười ngh́n người Việt Nam đủ lứa tuổi, thuộc mọi tầng lớp. Những người khoẻ và những người ốm. Th́ giờ trôi qua, số lượng giảm dần; người già và người tàn tật gục xuống v́ phải nhịn ăn, v́ mưa lạnh trút xuống không thương tiếc. Suốt buổi sáng, những người Mỹ gọi Sài G̣n thả dù nước uống xuống. Họ đă phân phát một lần nước uống cho những người trên sà lan đậu gần bằng ṿi chữa cháy nhưng họ vẫn c̣n cần nước uống nữa.

 

Sứ quán Sài G̣n ở trong t́nh trạng rất bối rối. Martin đă ngồi ở pḥng làm việc, bảo những nhân viên của chi nhánh quốc tế phát triển (USAID) t́m thực phẩm, nhất là nước uống, đem cho người tị nạn trên tàu. Người phụ trách USAID ở địa phương trả lời ông: mọi việc sẽ làm xong trong bốn hay năm ngày. Martin phản ứng: không phải như thế. Rồi ông quay lại nói với Polgar. Mấy giờ sau, máy bay của hăng Hàng không Mỹ do CIA thuê từ Nha Trang, bay lên phía Bắc, chở đầy thực phẩm và nước uống. Tất nhiên, thực phẩm ấy chỉ dành cho binh lính Nam Việt Nam và những người cộng sự của sứ quán hoặc của CIA.

 

Buổi tối ngớt mưa. Mc Kinley lên cầu tàu Oseola nh́n về Đà Nẵng lần cuối cùng. Nghe thấy tiếng đạn rốc kết và đạn đại bác nổ. Những ánh lửa đạn xé những đám mây dày đang từ núi bay xuống thành phố. Bỗng chốc, anh chú ư đến một tiếng nổ giống như tiếng súng. Hai tàu nhỏ vừa đâm vào nhau. Một tàu đang bị nguy. Lính trên tàu này định cướp tàu kia nhưng ở đấy cũng có lính. Thế là hai bên bắn nhau. Mc Kinley chứng kiến đầy đủ. Anh có cảm tưởng đứng trước một cuộc chiến đấu giữa những người săn ḅ tót nhưng anh không thể can thiệp được. Người trên tàu Oseola, không dám xem, ngồi nấp sau be tàu. Tàu nhỏ thứ nhất đắm, một người ở trên đó ném một quả lựu đạn sang tàu nhỏ thứ hai.

 

Không đầy năm phút, người trên hai tàu nhỏ đều rơi xuống nước. Nhiều người đă chết, nhiều người vật lộn lâu với sóng. (tr.178) Trên cầu tàu kéo, những người Mỹ đang nh́n, sợ hăi và bất lực.

 

Những sư đoàn quân Bắc Việt Nam của tướng Lê Trọng Tấn lúc này ở cách Đà Nẵng 3 kilômét. Thành phố đă bị bắn phá dữ dội. Mấy giờ trước họ đă chiếm Hội An, cách bờ biển 24 kilômét. Đó là thị xă thứ 13 quân cộng sản chiếm được từ ngày họ mở chiến dịch Đông-Xuân.

 

Buổi tối hôm ấy, tàu Pioneer Contender, bỏ neo ở Cam Ranh. Một máy bay của hăng Hàng không Mỹ đến đón Ron Howard và những nhân viên CIA khác trở về Sài G̣n. Một giờ sau, lúc họ tới Tân Sơn Nhất, những người lính gác CIA bắt họ đeo súng. Howard tỏ vẻ sung sướng về sự cẩn thận này. Anh nói: Tôi sẽ có cái để trị những viên chức tồi tàn của sứ quán.

 

Một máy bay của hăng Hàng không Mỹ bay thấp trong bóng tối. Một nhân viên radiô của CIA trên tàu Oseola, hướng dẫn người lái thả hàng xuống. Thùng nước đầu tiên nặng 25 kilôgam vỡ tung đầy mũi tàu. Nhân viên radiô điều chỉnh lại điểm thả. Thùng thứ hai rơi như một ḥn đá xuống vọng kiểm soát. Những mảnh plastique vỡ tung, làm bị thương một người Việt Nam và làm găy cần ăng ten radiô. Người Việt Nam bị thủng hai mắt c̣n nhân viên radiô của CIA phải mất ba giờ mới làm được ăng ten mới. Trong lúc ấy, Custer và những người khác đẩy những thùng nước xuống biển cho những sà lan và tàu nhỏ đậu đằng sau. Tối muộn hôm ấy, điện radiô của Francis gửi cho họ do Sài G̣n chuyển, báo tin ông đă thoát nạn.

 

Hôm sau, ngày 30 tháng 3 là ngày chủ nhật, lễ phục sinh. Ở Sài G̣n, Phan Quang Đán, phó thủ tướng chính thức báo tin: quân cộng sản đă chiếm Đà Nẵng. Ở Palm Springs, California, tổng thống Ford tuyên bố: “việc mất thành phố này là một thảm kịch lớn của loài người”.

 

Trưa ngày 30 tháng 3, nhiều tàu lớn chạy ra vùng biển Quân khu I: tàu Nhật Bản, tàu Việt Nam, tàu Mỹ và nhiều tàu kéo khác, tất cả 20 chiếc. Trong mấy giờ, những tàu này chở (tr.179) hết những thuyền, sà lan, xuồng đậu gần đấy. Một buổi chiều, những tàu tuần tra nhỏ của Nam Việt Nam chạy dưới làn đạn pháo binh cộng sản để cứu những người tị nạn c̣n chờ trên băi biển. Quân Bắc Việt Nam tiếp tục nă pháo vào thành phố nhưng không bắn vào những người tị nạn và những tàu tuần tra này. Nhờ đó, khi họ nắm chính quyền, họ dễ được ḷng tin.

 

Trong khi đó, những người ở trên tài Oseola được chuyển sang những tàu Mỹ và buổi chiều th́ rời cảng Đà Nẵng. Đến đêm, nhiều tàu, sà lan, tàu kéo hợp thành một đội tàu chở tới 50 ngh́n người tị nạn, vượt quá sức chở rất nhiều. Do đó, ngừng việc cho người lên tàu.

 

Mười hai giờ sau, những tàu chưa chạy đi Cam Ranh chỉ c̣n có tàu của hải quân Nam Việt Nam. Giữa sự lộn xộn ấy, đô đốc Cang đang ở Sài G̣n, quên không ra lệnh cho họ rút đi. Cuối cùng là Francis lúc ấy ở trên tàu HQ-5 phải đề nghị bằng radiô với tướng Smith ở Sài G̣n nhắc Cang đă đến lúc phải cho hạm đội nhổ neo.

 

Có rất ít nước và thực phẩm cho các tàu chở người tị nạn. Càng không có trạm cứu thương trong trạm xá. Tất cả những khách trên tàu, dù Mỹ hay Việt Nam đều phải tự xoay sở trong chuyến đi về phía Nam. Một thầy thuốc Việt Nam đỡ bốn em bé vừa ra đời dưới một lều vải trên boong tàu USS Miller. Bốn công dân Mỹ mới. V́ các em sinh trên một tàu Mỹ chạy ở hải phận quốc tế.

 

Chiều ngày 31, sáu tàu Việt Nam và Mỹ lại quay lại Đà Nẵng để đón người tị nạn. Hôm sau, nhà chức trách Sài G̣n đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp với Bắc Việt Nam cho những người tị nạn c̣n ở lại trong vùng họ kiểm soát, nhận thực phẩm và viện trợ. Nhưng tại Hà Nội, ngày 24 đă báo tin, chính quyền liên hợp đă được thành lập ở Đà Nẵng. Thật ra, tướng Tấn làm chủ tịch và chịu trách nhiệm ổn định lại trật tự. Nhiều viên chức cao cấp của các ngành cảnh sát và hành chính bị bắt. Thông điệp cuối cùng thật ngộ nghĩnh của tổng thống Thiệu trong thảm kịch này là: ông ra lệnh cho tướng Trưởng chiếm một đầu cầu trên một đảo gần bờ biển Quân khu I, để chuẩn bị phản công lấy lại cả quân khu! Trưởng được bữa cười mũi vỡ bụng. (tr.180)

 

Thất bại ở Quân khu I làm chính phủ thiệt hại rất nặng. Trong số ba triệu dân, không đầy 60 ngh́n người chạy thoát phần lớn bằng đường biển. 16 ngh́n lính trốn được nhưng bốn sư đoàn trong đó có sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, sư đoàn thiện chíên nhất của Trưởng, không c̣n là đơn vị chiến đấu nữa.

 

Lănh sự quán không có thể làm ǵ hơn. Mấy tháng sau, Francis phải nhận là trong số năm trăm người Việt Nam giúp việc, không biết có bao nhiêu người tản cư được. C̣n Custer công nhận là chỉ có một nữa số năm trăm nhân viên t́nh báo có tên trong danh sách CIA là chạy thoát với người phụ hoặc không có người phụ việc.

 

Chính quyền Ford đổ trách nhiệm về thảm hại này là do thiếu ngân sách tài chính cho Việt Nam. Nhưng những kẻ lỗi lầm chính là những viên tướng bất lực, nhất là những tướng của Sài G̣n. Sau khi hứa với Trưởng là không rút nhanh sư đoàn dù, Thiệu đă thay đổi như chong chóng trong một đêm. Không dành cho tên tướng của ông ta th́ giờ để tổ chức lại việc pḥng thủ; ít nhất hai lần. Thiệu đă thay đổi ư kiến về việc bảo vệ Huế. Ngoài ra, ông c̣n từ chối không cho nhiều tự lệnh và bạn đồng minh biết dự định của ḿnh, t́nh h́nh này không cho phép giải quyết tốt những sự kiện xảy ra.

 

Thiệu không phải là người duy nhất tỏ ra bất lực trước cuộc khủng hoảng. Ngay sau khi Huế thất thủ, sứ quán Mỹ cũng bất lực trong việc điều khiển các nhân viên ở vùng có chiến sự. Francis tỏ ra hết sức chậm chạp, cứ đinh ninh như đă hứa rằng: quân đội Mỹ sẽ cho máy bay lên thẳng để cứu người tị nạn. Nhất là ông ta quá tin vào sức mạnh hăo huyền của quân đội Nam Việt Nam và uy tín mơ hồ của chính quyền Thiệu, những đức tính mà Martin cẩn thận giữ ǵn nhằm mục đích ủng hộ chính sách Nam Việt Nam của Kissinger và bảo vệ danh dự nước Mỹ trên phần c̣n lại của thế giới.

 

Việc thất thủ Đà Nẵng khẳng định Bắc Việt Nam đă có ư chí giành thắng lợi cuối cùng trước tháng tư. Tướng dũng nhận được lệnh mở ngay cuộc tiến công vào Sài G̣n. Một Ủy viên quan trọng của Bộ Chính trị vào chiến trường để duyệt kế hoạch quân sự. Đó  là ông Lê Đức Thọ, người đă kư năm (tr.181) 1973 với Kissinger hiệp định Paris. Lúc chúng tôi viết những trang phóng sự, những chuyện chi tiết về cuộc tản cư ở Đà Nẵng th́ quân Bắc Việt Nam tiến trên khắp các mặt trận, vượt qua những vùng đang tập trung người tị nạn. Các nhà chức trách Mỹ đắn đo, tránh né, cuối cùng bỏ rơi một số quan trọng những người Việt Nam giúp việc, mặc cho số phận.

 

Quân đội Nam Việt Nam tan ră. Số quân bị tiêu diệt trong giai đoạn này của cuộc chiến tranh lên tới 150.000 người. Phương tiện chiến tranh bị phá huỷ hay bị quân địch thu đáng giá một tỷ đôla.

 

Đầu tháng 4, lúc trận cuối cùng sắp diễn ra, trong một báo cáo gửi Hoa Thịnh Đốn, tôi ước tính quân Nam Việt Nam phải đánh một chọi ba hoặc bốn. Ngày 2 tháng 4, Colby, tổng giám đốc CIA, phải tự viết trong một báo cáo dành cho giới cao cấp nhất ở Hoa Thịnh Đốn: “Cán cân lực lượng ở Nam Việt Nam nghiêng rơ về phía cộng sản. Bạc nhược, thất bại chủ nghĩa đă hoành hành trong quân đội của Thiệu”. Ngày 3 tháng 4 trong một báo cáo mới: “Chúng tôi nghĩ rằng trong mấy tháng nữa, nếu không là mấy tuần nữa, Sài G̣n sẽ sụp đổ về mặt quân sự hay là một chính phủ mới sẽ được thành lập, chính phủ này sẽ chấp nhận giải pháp theo điều kiện của cộng sản”.

 

 

Phần IIB “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” từ tr 141 – tr 182

nhandanvietnam.org, ngày 11/8/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend