NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

TẬN TÍN THƯ BẤT NHƯ VÔ THƯ Về Cuốn Triumph Forsaken: The Vietnam War 1945-1965


Triumph Forsaken : The Vietnam War, 1954-1965

 

TẬN TÍN THƯ BẤT NHƯ VÔ THƯ

 

Về Cuốn

 

Triumph Forsaken : The Vietnam War 1945-1965

 

Của Mark Moyar

 

[Cuốn “Thánh Thư” Của Minh Vơ Và Tôn Thất Thiện]

 

Trần Chung Ngọc

 

 Vài Lời Nói Đầu:

  Cuộc chiến Việt Nam đă chấm dứt hơn 32 năm rồi, nhưng “hội chứng Việt Nam” vẫn c̣n tiếp tục ray rứt cho đến ngày nay với người Mỹ [số cựu quân nhân Mỹ tự tử đă lên tới số tử vong ở Việt Nam, cả triệu cựu quân nhân bị nhiễm độc Agent Orange, khoảng 30000 cựu quân nhân đang ngồi tù] và lẽ dĩ nhiên, một số người Mỹ vẫn không thể chấp nhận cuộc chiến bại ở Việt Nam, do đó, từ cả thập niên nay, có một số thuộc trường phái xét lại (revisionism) vẫn cố gắng viết lại lịch sử để biện minh cho cuộc can thiệp và xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam là chính đáng.   Những cuốn sách viết về cuộc chiến Mỹ-Việt thuộc loại này thật sự chỉ là một thiểu thiểu số thuộc phe bảo thủ cực hữu, và lẽ dĩ nhiên sẽ được một thiểu thiểu số thuộc loại “phi dân tộc” tán thưởng.  Tuyệt đại đa số những tác phẩm viết nghiêm chỉnh về cuộc chiến ở Việt Nam đều viết bởi các tác giả có uy tín trong xă hội như học giả, giáo sư đại học, bộ trưởng, cựu tướng lănh, chính trị gia v..v.., những người đặt sự lương thiện trí thức lên hàng đầu.  Kết luận của trường phái này là cuộc can thiệp (intervention) hay xâm lăng (invasion) của Mỹ vào Việt Nam là bất chính và là một sự sai lầm lớn lao.  Đại cương th́ những người thuộc phái xét lại tập trung những luận cứ của ḿnh trên sự diễn giải những sự kiện lịch sử theo thiên kiến và hiểu biết riêng thường là rất giới hạn của ḿnh, và không cần đến bằng chứng.  C̣n phe đa số th́ thường sử dụng những sự kiện lịch sử một cách trung thực hơn và tŕnh bày chúng đơn giản chỉ là những sự kiện.  Để so sánh, chúng ta có thể nói, đứng trước trường phái “chính thống” th́ trường phái “xét lại” cũng giống như là trường phái “thiết kế thông minh” (sic) đứng trước những bằng chứng tràn ngập của “thuyết Tiến Hóa”.

 

    Lẽ dĩ nhiên, phe thiểu thiểu số bảo thủ được thiểu thiểu số người Việt di cư ủng hộ và tận t́nh khai thác.  Trong thiểu thiểu số người Việt di cư này, đa số thuộc thế lực đen, vẫn c̣n ấm ức v́ mất đi những quyền lợi mà thực dân Pháp, và sau đó là Mỹ, ban cho.  Cho nên thật là dễ hiểu, số người này không ngừng năng nổ chống Cộng và chống tất cả những ai không đồng ư với họ.  Qua bao năm qua, họ đă không ngừng mở những chiến dịch bôi nhọ Phật Giáo đồng thời cố sức “phục hồi tinh thần Tam Đại Việt Gian” [xin đọc bức thư của TGM Ngô Đ́nh Thục gửi Toàn Quyền Decoux] của Ngô Đ́nh Diệm.  Họ thường chụp mũ Phật Giáo là thân Cộng, làm như thân Cộng Việt th́ có tội, c̣n thân Pháp, thân Mỹ để nô lệ hóa đất nước, để tàn phá đất nước th́ là một danh dự, giống như danh dự của những người tự nhận là “tôi tớ hầu việc Chúa”..  Họ lạm dụng danh từ một cách đần độn, gọi những người mà họ cho là thân Cộng là Việt Gian, không hề hiểu từ Việt Gian chỉ có thể áp dụng cho những kẻ làm tay sai cho ngoại bang, phản bội dân tộc, chứ không phải là làm tay sai cho người Việt, trừ phi người Việt này lại chính là Việt Gian. 

 

    Tất cả những mưu toan của thế lực đen ở hải ngoại đánh bóng cá nhân Ngô Đ́nh Diệm và đổ tội cho Phật Giáo làm “mất nước” [sic] đă sụp đổ trước những bằng chứng lịch sử hiển nhiên, và ngày nay, ngay cả giới trẻ cũng đă đánh giá chính xác những sự kiện lịch sử này.  Những mưu toan trên nhằm hai mục đích:  thứ nhất, ca tụng Ngô Đ́nh Diệm là người yêu nước, là chí sĩ v..v.. để xóa bỏ h́nh ảnh một giáo hội đă làm tay sai cho thực dân Pháp từ ngày đầu đến ngày cuối, đồng thời mở chiến dịch “No Hồ” để hạ uy tín của Hồ Chí Minh.  Nhưng giới trí thức hiểu biết cũng như tuyệt đại đa số người dân thường, th́ không có ai đần độn đến độ không biết rằng “Cụ Diệm” là một người thuộc ḍng họ “tam đại Việt Gian” [xin đọc bức thư của TGM Ngô Đ́nh Thục gửi Toàn Quyền Decoux], nằm trong các nhà Ḍng Công giáo ở ngoại quốc trong suốt thời kháng chiến chống Pháp, và cũng trong thời gian này, “Cụ Hồ” sống trong rừng, trong hang, và đă chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thành công, chấm dứt chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam: [Xin đọc “Vài Nét Về Cụ Hồ”“Vài Nét Về Cụ Diệm” trên giaodiemonline.com, dongduongthoibao.net, sachhiem.net,  nhandanvietnam.org].  Đây là những sự kiện lịch sử, ai không đồng ư xin mời lên tiếng.  Và thứ nh́, đổ tội cho Phật giáo làm mất nước là để chạy tội cho hai chính quyền Công Giáo ở miền Nam: Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Văn Thiệu.  Thay v́ sám hối, xưng tội với dân tộc th́ tập đoàn “Việt gian chính cống” này, tập đoàn của những kẻ nô lệ thần quyền ngoại bang, dựa hơi ngoại bang, lănh tiền của ngoại bang để phục vụ cho ngoại bang v..v.. lại vẫn năng nổ xuyên tạc lịch sử, lạc dẫn quần chúng.  Nhưng quần chúng Việt Nam đâu có c̣n là quần chúng sống trong những “ốc đảo ngu dốt” [từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh] nữa.  Giới trẻ ngày nay có đủ phương tiện để t́m hiểu lịch sử một cách nghiêm chỉnh, không dễ ǵ mà mê hoặc đầu óc của họ được.

 

    Một cơ hội đă đến với những người xuyên tạc lịch sử cho mục đích cá nhân và phe phái.  Gần đây họ vớ được một cuốn sách và vài bài viết của Mark Moyar, một sử gia hạng ba, mà nội dung rất hợp với đầu óc thuộc loại ḿ ăn liền của họ, và ra công khai thác.  Đàn Chim Việt, Tiếng Nói Giáo Dân, Vietcatholic đồng thanh lên tiếng khai thác, với những tên tuổi nổi tiếng (tiếng ǵ?) như Minh Vơ, Tôn Thất Thiện, Trần Hải, dùng những tài liệu hạng hai, hạng ba này, coi đó như là một cuốn “Thánh Thư” về chiến tranh Việt Nam, nhưng thực ra chỉ là rác rưởi, theo một nhận định trên Internet.  Bài viết này không ngoài mục đích chứng minh nhận định trên về tác phẩm của Mark Moyar, đồng thời chứng minh rằng những người đang ra công khai thác Mark Moyar thực sự đă khai thác những tác phẩm vô giá trị.

 

* * *

      Năm ngoái, 2006, một sử gia trẻ, Mark Moyar, sinh năm 1971, đă nghiên cứu một số lớn tài liệu về cuộc chiến của cả hai phe, tư bản và cộng sản, để viết và xuất bản cuốn Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1945-1965 mà Minh Vơ dịch là “Chiến Thắng Bỏ Lỡ” và đưa lên Đàn Chim Việt như là một cuốn sử vô cùng giá trị để chúng ta phải tin theo tất cả những ǵ Mark Moyar viết trong cuốn sách.  Bài của Minh Vơ không phải là bài phê b́nh hay điểm sách, v́ Minh Vơ không có khả năng này, mà chỉ là “mẹ hát con khen hay”, đưa ra những quan điểm trong sách hợp với kiến thức rất giới hạn của ḿnh, bất kể đến những sự thực lịch sử, và cho đó là những “lời mạc khải không thể sai lầm” của Moyar. Có vẻ như vốn liếng tiếng Anh của Minh Vơ là một dấu hỏi lớn.  V́ trong phần dịch đoạn đầu Lời Tựa của Mark Moyar, Minh Vơ đă dịch “elite” là “giới thượng lưu cầm quyền” (sic) thay v́ là “giới ưu tú”, và dịch “manipulation” (của Phật giáo, theo Mark Moyar) là “thao túng” (sic) thay v́ là “lôi kéo, vận động”.  Nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ.   Nhận định về cuốn Triumph Forsaken, Minh Vơ ca tụng:

 

    Năm ngoái (2006) sở Báo Chí Đại Học Cambridge đă xuất bản cuốn sách 512 trang khổ lớn của ông nhan đề TRIUMPH FORSAKEN. Đây là tập I của bộ sách 2 tập về cuộc chiến Việt Nam. Theo tác giả, cuộc chiến này đáng lẽ đă kết thúc bằng một chiến thắng oanh liệt, mà lại trở thành một chiến bại nhục nhă. Trong cuốn sách này, tác giả đă rà xét lại tất cả mọi dữ kiện, đối chiếu nhiều tài liệu vô số kể của nhiều nguồn thuộc mọi phía, trong đó có những tài liệu mới được giải mật của Mỹ và tài liệu Cộng Sản (Liên Xô cũ, Trung Quốc, và Việt Nam), để đi đến một kết luận có cơ sở vững vàng. [Viết sử mà đưa ra những giả thuyết như nếu…., đáng lẽ…, giả thử…. v..v.. để đi đến kết luận của ḿnh th́ thà đừng viết sử c̣n hơn.  TCN]

 

   Tôn thất Thiện cũng viết một bài trên Vietcatholic ca tụng tác phẩm của Mark Moyar, chúng ta hăy đọc đoạn sau đây:

 

   Đây là một tác phẩm hết sức quan trọng. Nó có những hậu quả rất lớn đề làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975, đặc biệt là trong giai đoạn 1954-1963, thời mà ông Ngô Đ́nh Diệm nắm chính quyền ở miền Nam Việt Nam. Nó đánh dấu sự phát khởi của một phong trào xét lại lịch sử Việt Nam trong giai đoạn nói trên, tái lập sự thực, chấm dứt sự khống chế của trường phái chính thống, đập tan những luận điệu vu khống bôi lọ của trường phái này, tái lập uy danh của những chiến sĩ miền Nam đă hết ḿnh tranh đấu cho chính nghĩa, nhất là các chiến sĩ thời Đệ Nhất Cộng Ḥa và ông Ngô Đ́nh Diệm.  [Tôn thất Thiện muốn tái lập những huy chương đầy trên ngực của các cựu quân nhân VNCH diễn hành trong ngày “Vinh danh QLVNCH” ở Houston, và trong những ngày “Phục Hồi Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm” hàng năm ở Hải Ngoại. TCN]

 

   Và Trần Hải đă dịch một bài hoàn toàn có tính cách xuyên tạc cuộc tranh đấu Phật Giáo 1963 trên Tiếng Nói Giáo Dân, bài “Các nhà sư làm chính trị: Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam(Political Monks: The Militant Buddhist Movement During the Vietnam War.) của Mark Moyar.  Bài này chứng tỏ Mark Moyar có một hiểu biết rất ấu trĩ và giới hạn về Phật Giáo Việt Nam và về t́nh  h́nh chính trị thời 1963.

 

   Trong bài này, chúng ta sẽ xét xem những lời khoa trương của Minh Vơ và Tôn Thất Thiện về cuốn Triumph Forsaken có một giá trị nào không, và từ đó chúng ta có thể đánh giá trị đúng kiến thức của Mark Moyar về cuộc chiến Việt Nam nói chung, về t́nh h́nh chính trị ở Việt Nam trong thời Phật Giáo tranh đấu nói riêng, đồng thời cũng đánh giá đúng kiến thức của Minh Vơ và Tôn Thất Thiện, những người đă lên tiếng ca tụng Mark Moyar như là một bậc vô thượng thiên tài về sử Việt Nam.  Để làm công việc này, chúng tôi sẽ dùng một số tài liệu mới nhất trên Internet và riêng về bài dịch của Trần Hải, chúng tôi sẽ không quan tâm để phê b́nh v́ không có ǵ đáng để phê b́nh.  Nhưng trong phần tài liệu ở sau quư độc giả có thể đọc vài nhận định về cái hiểu của Mark Moyar về cuộc tranh đấu Phật Giáo 63 ở trên Internet của người Mỹ.  Ngoài ra chúng ta cũng đă biết, hồ sơ về vụ Phật Giáo tranh đấu 63 đă có nhiều trên thị trường sách vở và thông tin của người Việt, cho nên không cần thiết phải đưa ra ở đây.

 

    Trước hết, có một điểm tôi cần phải làm sáng tỏ.  Đó là, để bảo đảm cho những lời khoa trương về cuốn Triumph Forsaken, hợp với ư đồ xuyên tạc lịch sử của ḿnh,  Minh Vơ cũng như Tôn Thất Thiện đă nêu thành tích và uy tín của Mark Moyar như sau:

 

   “Tiến sĩ Mark Moyar đậu cử nhân (hạng tối ưu với lời khen của ban giám khảo) về môn sử tại đại học Havard danh tiếng nhất của Mỹ. Sau đó đậu tiến sĩ sử học tại đại học Cambridge. Ông từng giảng dậy tại đại học Cambridge, đại học Tiểu Bang Ohio, đại học A&M Texas, và đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở Quantino, Virginia.”

 

   Nhưng nếu Minh Vơ và Tôn Thất Thiện biết rơ khả năng thực sự của Mark Moyar, và hiểu rằng trong môi trường đại học, bằng cấp không thể dùng để bảo đảm giá trị của một tác phẩm, th́ đă không nêu lên những chi tiết không có tính cách thuyết phục như trên để làm hậu thuẫn cho những lời ca tụng của ḿnh. Moyar chỉ là TA (Teaching Assistant) ở đại học Cambridge, rồi sau khi tốt nghiệp từ Cambridge được một chân post-doc (hậu tiến sĩ để trau dồi thêm kiến thức chuyên môn) ở đại học Texas A&M  trong 2 năm 2003-2004. Thường th́ chân post-doc là để giúp sinh viên mới ra trường trong thời hạn 2 năm để nghiên cứu thêm về một đề tài nào đó, sau 2 năm ông tiến sĩ mới ra ḷ này phải dựa vào những kết quả nghiên cứu của ḿnh để đi t́m việc ở nơi khác, nếu nhà trường mà ông ta đang làm post-doc không tuyển ông ta làm giáo sư của trường.  Tôi muốn nói thêm chút ít về cấp bằng tiến sĩ.

 

   Những người ở trong môi trường đại học đều hiểu rằng, một người muốn tốt nghiệp đại học với bằng Ph.D. thường phải hội đủ những đ̣i hỏi của chương tŕnh học: đại cương là phải “pass” một số “cua” bắt buộc trong chương tŕnh cao học (hậu cử nhân), “pass” 1 hay 2 kỳ thi khảo hạch, và viết một luận án dưới sự hướng dẫn của một ông hay bà Thầy.  Khi xưa, chúng tôi học được một bài học ở đại học WisconsinMadison.  Câu chuyện như sau: có một sinh viên ban Hóa, học tới 4, 5 năm sau cử nhân mà vẫn chưa ra được Ph.D., phàn nàn với ông Thầy sao không cho anh ta tŕnh luận án.  Ông Thầy bảo: “Bao giờ anh thấy là anh c̣n ngu th́ tôi cho anh ra trường”  Anh sinh viên nói: “Tôi biết là tôi ngu rồi mà” (I know I am stupid) Nhưng ông Thầy bảo: “Chưa được, bao giờ anh tự thuyết phục anh là anh c̣n ngu th́ tôi cho ra trường” (Not yet! When you convince yourself that you are still stupid, I’ll let you out).  Đây không phải là trường hợp có thể tổng quát hóa, nhưng có lẽ ông Thầy thấy anh chàng sinh viên này thuộc loại “chưa đỗ ông Nghè đă đe hàng tổng” nên mới có ư giúp anh ta để đưa anh ta về những thực tế của môi trường đại học như vậy.  Nên nhớ t́nh ông Thầy với sinh viên làm luận án với ông ấy rất thân thiết, v́ hàng ngày thường phải làm việc với nhau trong vấn đề khảo cứu, cho nên ông Thầy biết rơ tính nết của người sinh viên mà ḿnh đang hướng dẫn làm luận án. Đó là tinh thần đại học. Và sự thực là, với một người thực sự là trí thức th́ càng học lên cao th́ càng thấy ḿnh dốt, dốt ở đây có nghĩa là không thể biết được hết những cái biết của thiên hạ, đúng như Trang Tử đă từng nói: “Cái biết của thiên hạ th́ vô hạn, cái biết của cá nhân th́ hữu hạn, đem cái hữu hạn đi t́m cái vô hạn, nguy vậy thay”.. 

 

   Hiển nhiên, văn bằng “Tiến sĩ” không phải là thước đo giá trị của những tác phẩm “hậu tiến sĩ”.  Thật vậy, nếu chúng ta đọc Mark Moyar và một số phê b́nh về cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar trên báo chí và Internet, th́ chúng ta thấy văn bằng tiến sĩ của Mark Moyar chỉ có giá trị là hội đũ điều kiện để tốt nghiệp.  Chúng ta nên để ư là giới khoa bảng chuyên ngành sử có tên tuổi ở Mỹ, cho tới nay không hề lên tiếng điểm [review] cuốn Triumph Forsaken v́ cuốn này không đáng để cho họ phải điểm.  Tại sao?  V́ Mark Moyar, sinh năm 1971, không có một kinh nghiệm hay hiểu biết trực tiếp nào về chiến tranh Việt Nam, cho nên đă vấp phải rất nhiều sai lầm trong cuốn sách. Chỉ có một số bảo thủ thuộc trường phái “xét lại” và một số cựu quân nhân vẫn c̣n cay đắng về cuộc thảm bại ở Việt Nam là lên tiếng ca tụng tác phẩm mà họ cho là “làm sập đổ những quan điểm chính thống” về cuộc chiến, nghĩa là đưa ra những quan điểm trái ngược với những quan điểm chính thống, nhưng không hề phân tích và đưa ra bằng chứng là những quan điểm trái ngược này có đúng và có tính cách thuyết phục hay không. Tuy nhiên, trên Internet chúng ta cũng có thể đọc một số phê b́nh của giới học giả và trí thức về cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar.

 

   Để cho vấn đề được rơ ràng, có lẽ chúng ta cũng nên biết những quan điểm chính thống là những quan điểm ǵ và của ai?  Đó là những quan điểm của tuyệt đại đa số giới học giả chân chính và những nhân chứng tại Việt Nam, đồng thuận với nhau ở vài điểm chính về sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam,  và theo Ian Horwood:

 

   Ngay sau cuộc chiến kết thúc, sự đồng thuận trong giới học giả về cuộc chiến tranh Việt Nam được coi như là quan điểm chính thống (orthodox).  Một vài điểm chính của sự đồng thuận như sau:

   Các sử gia chính thống [ở trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Mỹ. TCN]  khám phá ra rằng, vị Lănh Tụ Bắc Việt, Hồ Chí Minh, tuyệt đối không phải là một tay sai của khối (cộng sản) Nga Sô,  mà thực sự là một người quốc gia trước hết và chỉ là người cộng sản chừng nào mà điều này phục vụ cho lư tưởng quốc gia của ông ta.  Do đó Hoa Kỳ tự đặt ḿnh trong vị thế chống lại những lực lượng quốc gia ở miền Nam Việt Nam và ủng hộ một chế độ dựa phần lớn trên lớp dân chúng đă từng giúp Pháp cai trị thuộc địa ở Đông Dương.

 

  Vị lănh đạo Nam Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm, theo trường phái chính thống, không phải là người được ḷng dân.  Ông ta là một lănh tụ chống tiến bộ và cải cách chính trị (reactionary) của một chế độ tham nhũng và đàn áp, chỉ đại diện cho một thiểu số Công Giáo ở Nam Việt Nam.

 

   Khi đó sự ủng hộ Cộng Ḥa Việt Nam của Mỹ căn bản là sai lầm về luân lư, nhưng cũng được biện minh bởi chính quyền Mỹ bằng những lư lẽ chiến lược.  Tuy nhiên, các sử gia chính thống cho đó là những lư lẽ chiến lược phá sản.  Nam Việt Nam không đáng kể về phương diện chiến lược, và ông Hồ khó có thể là tay sai của Trung Quốc v́ sự thù nghịch từ lâu giữa Việt Nam và cường quốc láng giềng ở phương Bắc.  Nếu ông Hồ chỉ chiến đấu để thống nhất đất nước, và không phải là tay sai của Nga Sô Viết hay Tàu, th́ Nam Việt Nam không phải là một trong những con “domino” bị ngả xuống, như Eisenhower đă nghĩ; thật ra, những sử gia chính thống đă cho rằng thuyết domino là vô giá trị.  Những biến cố lịch sử về sau đă chứng minh điều này.  Theo lô-gíc, nếu ông Hồ là một người quốc gia và không phải là cộng sản, th́ Hoa Kỳ không có quyền lợi chiến lược ở Nam Việt Nam, và nếu chế độ Diệm không được ḷng dân, th́ sự can thiệp của Mỹ là điều sai lầm.

 

   http://www.history.ac.uk/reviews/paper/horwood.html

    Date accessed: 21 August 2007 :

 

   [Shortly after its conclusion, a scholarly consensus on the Vietnam War began to accrete as the ‘orthodox’ view. Some of the key aspects of the consensus are as follows:

 

    Orthodox historians discovered that far from being an agent of the Soviet monolith, the North-Vietnamese Leader, Ho Chi Minh, was actually a nationalist first and a communist only insofar as this would serve his nationalist cause. Thus the United States found itself opposing the forces of nationalism in South Vietnam and supporting a regime that drew extensively on the class that had administered France’s Indochinese colonies for her.

 

   The South-Vietnamese leader, Ngo Dinh Diem, according to the orthodox school, was not popular. He was the reactionary leader of a repressive and corrupt regime, representative only of the Catholic minority in South Vietnam.

 

   American support for the Republic of Vietnam was fundamentally flawed, then, in moral terms, but it was also justified by the United States government in strategic terms. However, the orthodox historians also adjudged these strategic arguments bankrupt. South Vietnam was not strategically significant in itself, and Ho could hardly be China’s agent because of the long-established enmity between Vietnam and its powerful neighbour to the north. If Ho were simply fighting for the unification of his country, and was not an agent of the Soviet Union or China, then South Vietnam could not be one of Eisenhower’s falling dominoes; indeed, the orthodox historians declared the domino theory itself invalid. Subsequent historical events appeared to prove this: in the wake of the American defeat in Vietnam the Asian dominoes did not fall beyond the immediate confines of Indochina. Logically, if Ho was a nationalist and not a communist, the United States had no strategic interest in South Vietnam, and if the Diem regime was unpopular, then American intervention must have been a mistake.]

 

   Tôi đă là một sĩ quan trong QLVNCH, cầm súng chống Cộng trong 8 năm rưỡi, thời gian tôi ở trong quân đội.  Sau khi chạy sang Mỹ năm 1975, tôi đă đọc rất nhiều và nghiên cứu về cuộc chiến Việt Nam trong thời gian trên 10 năm nay, cho nên dựa trên những kinh nghiệm cá nhân ở Việt Nam và trên sự đối chiếu những sự kiện trong những tài liệu tham khảo, với tất cả sự lương thiện trí thức, tôi bắt buộc phải đau ḷng mà đi đến kết luận:

 

-  Bản chất cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một cuộc xâm lăng.

 

-  Mỹ đă sai lầm chính trị về thuyết Domino, không hiểu văn hóa Việt Nam, đánh giá sai lầm tinh thần quốc gia của Hồ Chí Minh và người dân Việt Nam.

 

-  Những chiến dịch và hành động quân sự tàn bạo của Mỹ trên đất nước Việt Nam đă khiến cho người dân Việt Nam càng ngày càng ngả về phía cộng sản.

 

-  Ngô Đ́nh Diệm là một kẻ bất tài, vô đức, nhu nhược, nhưng tàn bạo, làm mất ḷng dân v́ một chính sách độc tài ngu xuẩn, tôn giáo trị, gia đ́nh trị.  Ngô Đ́nh Diệm được đưa về làm Thủ Tướng và sau đó  phản bội Bảo Đại lên làm Tổng Thống là v́ được Hồng Y Spellman, với sự phụ giúp của ngoại trưởng John Foster Dulles cùng một vài chính khách Công giáo Mỹ khác, theo lệnh của Vatican, vận động với Mỹ đưa Diệm về cầm quyền ở Nam Việt Nam, v́ Diệm thuộc loại người Công giáo cuồng tín khát máu Tây Ban Nha trong thời Trung Cổ, chống Cộng điên dại nên đương nhiên có thể tin cậy để chống Cộng cho Mỹ và cho Vatican.  Vatican cũng c̣n góp phần vận động, thuyết phục Mỹ tham chiến ở Việt Nam.  Cái tội này của Vatican đối với Việt Nam sẽ được ghi vào sử sách.

 

 -  Chính cái chất Công Giáo cuồng tín [tổng hợp của ngu dốt, kiêu căng, huênh hoang, hợm hĩnh, theo giáo sư Nguyễn Mạnh Quang] của Diệm đă làm hại Diệm.  Sách lược Công giáo hóa miền Nam bằng thủ đoạn tiêu  diệt các giáo phái khác của Diệm trong một nước mà Công giáo chỉ chiếm có 7% là một sách lược ngu xuẩn, đi ngược lại tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc, đă đưa đến sự oán ghét của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.  Sách lược này đă ghi thêm một chương ô nhục vào lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam, một giáo hội vốn đă nổi tiếng là: “Hễ phi dân tộc th́ thể nào cũng phản bội dân tộc.” 

 

    Để phục hồi uy tín của Mỹ trên chính trường quốc tế và để biện minh cho những cuộc tấn công Iraq của Bush con, trường phái xét lại đang cố gắng đưa ra những quan điểm trái ngược với những quan điểm chính thống trên cho mục đích chính trị của Mỹ hiện nay để kéo dài cuộc chiến ở Iraq, và Bush đă dựa vào những quan điểm này để duy tŕ cuộc chiến ở Iraq, như chúng ta thấy trong buổi nói chuyện với các cựu quân nhân trong các cuộc chiến tranh ở ngoại quốc (VFW =Veterans of Foreign Wars) ngày 22 tháng 8, 2007, khi ông đưa ra những sắc thái song song giữa những cuộc chiến đối với Nhật, Việt Nam và Iraq, mà đa số phê b́nh gia đă bác bỏ, coi đó như là băng chứng về sự hiểu biết nhỏ nhoi của Bush về các cuộc chiến trên [Chicago tribune, Sunday, August 26, 2007, p. 18: In a speech to veterans last week, President Bush compared the war in Iraq with the wars against Japan and in Vietnam as part of a broader argument for continuing the military campaign.  But his remarks brought stinging criticism from historians, military analysts and not least political opponents, who said the analogies evidenced scant understanding of those wars.], đúng như Thượng Nghị Sĩ John Kerry đă phê b́nh Bush trước đây là “vô trách nhiệm” và “ngu dốt” (irresponsible and ignorant). [Điều này không lạ v́ IQ của Bush ở dưới mức trung b́nh, chỉ có 82, so với của Clinton là 192 . TCN] Thực ra th́ trước Mark Moyar cả 10 năm nay, ở Mỹ đă có phong trào chủ trương phục hồi lại tính chính đáng của cuộc can thiệp Mỹ vào Việt Nam, và như vậy cũng phải kèm theo sự phục hồi tài ba chống Cộng và đức độ của Ngô Đ́nh Diệm.  Mark Moyar không làm ǵ hơn là xào xáo lại những quan điểm này, điển h́nh là của Keith Weller Taylor, Michael Lind, Guenter Lewy và Marguerite Higgins, nhưng Mark Moyar đă để lộ ra nhiều yếu kém nghiêm trọng về cách sử dụng tài liệu và diễn giải tài liệu của ḿnh, như sẽ được chứng minh trong phần sau đây..

 

   Muốn biết đến uy tín và giá trị trí thức thực của Mark Moyar, chúng ta nên đọc một tài liệu của Gary Shapiro trên NYSUN.com ngày 30 tháng 4, 2007.  Theo tài liệu này th́ trong ṿng 5 năm Mark Moyar đă nộp đơn xin làm giáo sư sử trong hơn 150 trường Đại Học, nhưng không trường nào nhận hoặc ngay cả cho ông ta một cuộc phỏng vấn sơ khởi. [Yet over five years, this conservative military and diplomatic historian (Mark Moyar) applied for more than 150 tenure-track academic jobs, and most declined him a preliminary interview.]  Tại sao không đại học nào chịu tuyển Mark Moyar làm giáo sư sử dù Mark Moyar đă xuất thân từ những đại học nổi tiếng như Harvard và Cambridge?  Nói ngắn gọn, các đại học thường tuyển giáo sư là những người có khả năng thực sự và lương thiện trí thức trong công cuộc khảo cứu, đặt căn bản trên sự thực chứ không trên thiên kiến. Và những tác phẩm đầy thiên kiến của Mark Moyar đă không chứng tỏ là Mark Moyar có những tư cách này.   Nhưng cuối cùng th́ Mark Moyar cũng  thành công xin được một chân dạy quân sử trong đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở Quantino, Virginia,  nếu trường này của Thủy Quân Lục Chiến có thể gọi là một đại học.  Bởi vậy, phê b́nh gia Alan Knight đă nhận định: 

 

   Xuất thân từ Harvard và Cambridge, Mark Moyar là giáo sư quân sử ở đại học Thủy Quân Lục Chiến, tự nó giống như một cái ǵ nghịch hợp [huấn luyện lính và đại học].  Tự bao giờ mà cơ sở huấn luyện của Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virgina, được lên địa vị của đại học?

 

   (Harvard and Cambridge educated, Mark Moyar is associate professor of military history at the U.S. Marine Corps University, which is itself something of an oxymoron. When did the Marine Corps training facility at Quantico, Virginia, rise to the status of university?)

 

    Một tài liệu sau đây cho chúng ta thấy rơ tại sao không đại học nào chịu tuyển Mark Moyar làm giáo sư sử học.

 

   7 tháng 6, 2007:

 

   Đại học Miami tuyển một giáo sư sử, nhưng không tuyển Mark Moyar.  Đúng là Moyar là một tác giả thành công đỗ đầu trong phân khoa sử với lời khen tặng ở Harvard và có Ph.D. ở Cambridge.  Nhưng ông ta đă tự loại ḿnh khi viết cuốn Triumph Forsaken: The Vietnam War 1945-1965, chứng tỏ rằng – bỏ qua sự tuyên truyền [ở trong cuốn sách] của đoàn quân thứ 5  [đoàn quân gián điệp nằm vùng để phá hoại] khiến chúng ta thất trận – rằng ngay cả Bắc Việt cũng nghĩ là chúng ta đang thắng.

 

   (June 07, 2007:

 

   Miami University was looking for a history professor, but they didn't want Mark Moyar. True Moyar is a successful author who was first in the history department and summa cum laude at Harvard and has a PhD from Cambridge. But he disqualified himself by writing the book Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965, which shows that — setting aside the fifth-column propaganda that eventually caused us to lose — even the North Vietnamese thought we were winning the war.)

 

  Và Ron Mepwith viết: “Là một nhân viên của quân đội, có vẻ như Mark Moyar là một cán bô tuyên truyền rất giỏi.  Có phải hắn ta là một phần khác, viết theo đơn đặt hàng của cái “gang”  Bush không? [As an employee of the military, Mar Moyar seems to be an excellent propagandist.  Is he another part of the paid-on-news of the Bush gang?]

 

   Chỉ vài điều trên cũng đủ để nói lên giá trị thực sự của cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar mà Minh Vơ và Tôn Thất Thiện hết lời ca tụng.

 

    Với tham vọng ngoài khả năng của ḿnh, Mark Moyar muốn nổi đ́nh đám như một học giả  thuộc trường phái cực hữu xét lại, ngồi trong văn pḥng t́m kiếm tài liệu rồi diễn giải các tài liệu theo sự hiểu biết đầy thiên kiến và rất thiếu sót của ḿnh về cuộc chiến ở Việt Nam, ca tụng quân đội Hoa Kỳ bách chiến bách thắng, và đưa ra kết luận, cuộc chiến ở Việt Nam có thể thắng được (a winnable war) và ủng hộ ông Bush, cho rằng cuộc chiến ở Iraq ngày nay là cuộc chiến có thể thắng được.  Và v́ vậy, những luận cứ của ông về các biến cố chính trị, nhân vật ở Việt Nam, hầu hết đều sai lầm một cách nghiêm trọng.

 

     Tôi đă đọc trên trăm cuốn sách viết về cuộc chiến ở Việt Nam, viết  hầu hết bởi những người sống trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam hay tham dự trực tiếp vào cuộc chiến ở Việt Nam: bộ trưởng, CIA, tướng lănh, giáo sư đại học, cựu quân nhân, kư giả v..v…  Có một thiểu số không đáng kể bênh vực cho cuộc xâm lăng của Mỹ vào Việt Nam và khen Ngô Đ́nh Diệm, thí dụ như Marguerite Higgins với cuốn Our Vietnam Nightmare, và Michael Lind với cuốn Vietnam: The Necessary War, nhưng tôi không thấy cuốn nào tệ như cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar v́ trong đó Mark Moyar vẫn tin tưởng thuyết Domino là đúng và như vậy “phải chống Cộng chết bỏ”.  Đại đa số các cuốn khảo cứu của các học giả khác đều kết luận là cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một sai lầm lớn, thuyết Domino của Mỹ là một đánh giá chính trị hết sức sai lầm, chưa kể đến lời phê phán của Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc U Thant: “cuộc chiến của cường quốc Mỹ chống một nước nhỏ kém mở mang như Việt Nam là một cuộc chiến man rợ nhất trong lịch sử loài người” [Xét đến những ǵ Mỹ đă làm ở Việt Nam]. 

 

   Do đó chúng ta có thể kết luận là cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar là một sản phẩm  “học thuật dở ẹt” (poor scholarship) dù rằng trong đó ông ta đă viện dẫn rất nhiều tài liệu tham khảo và những ghi chú.  Đây không phải là một kết luận vu vơ mà qua sự phân tích những điểm trong cuốn Triumph Forsaken và một số bài viết của Mark Moyar mà tôi sẽ tŕnh bày trong một phần sau.

 

   Muốn hiểu ư đồ của Mark Moyar khi viết cuốn Triumph Forsaken chúng ta cần đọc thêm những quan điểm của Mark Moyar trong một số những bài khác liên quan đến cuộc chiến ở Việt Nam.  Thí dụ như “luận án” (sic) Phoenix and the Birds of Prey: The CIA's Secret Campaign to Destroy the Viet Cong Mark Moyar viết khi c̣n học chương tŕnh Cử Nhân (Undergraduate, Bachelor) về Chiến Dịch Phụng Hoàng ở Việt Nam, những bài như : An Iraqi Solution, Vietnam Style (Mark Moyar, 11/21/06, NY Times) và Knowing When to Let Go (Mark Moyar, December 6, 2006, Washington Post) đưa lên điều hoang tưởng về sự song song giữa chiến tranh Iraq và chiến tranh Việt Nam, và cho rằng cuộc chiến ở Việt Nam trước đây đáng lẽ có thể thắng được, th́ cuộc chiến Iraq cũng là một cuộc chiến có thể thắng được (a winnable war).  Ngoài ra c̣n có những bài như “Thái độ của người dân làng [Việt Nam] trong thập niên cuối của cuộc chiến Việt Nam” [Villager Attitudes During The Final Decade of the Vietnam War], một bài thuộc loại “ếch ngồi đáy giếng”, không biết ǵ đến t́nh trạng thực sự của Việt Nam, và nhất là bài “Các nhà sư làm chính trị: Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam” (Political Monks: The Militant Buddhist Movement During the Vietnam War.) rất hợp với khẩu vị của thế lực đen chống phá và đổ tội “mất nước” cho Phật Giáo.  Đọc vài bài này, chúng ta thấy rơ Mark Moyar mù tịt về cuộc chiến ở Việt Nam, về t́nh h́nh chính trị và  truyền thống văn hóa của Việt Nam.  Trước khi đi vào những phê b́nh về cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar chúng ta hăy điểm qua tác phẩm đầu tay của Mark Moyar: Phoenix and the Birds of Prey: The CIA's Secret Campaign to Destroy the Viet Cong.

 

   Mark Moyar viết cuốn Phoenix and the Birds of Prey: The CIA's Secret Campaign to Destroy the Viet Cong về Chiến Dịch Phụng Hoàng ở Việt Nam khi c̣n là sinh viên tŕnh độ undergraduate (cử nhân) ở Harvard..  Giá trị trí thức của cuốn này ra sao, chúng ta hăy đọc vài nhận định phê b́nh về cuốn đó.

 

   David  Kane viết ngày 3 tháng 5, 2007:

 

   V́ ṭ ṃ tôi đi t́m hiểu những ǵ về tác phẩm đă xuất bản của Moyar.  Anh ta chỉ có một bài điểm bài “Các nhà sư làm chính trị: Phong trào Phật tử tranh đấu trong cuộc chiến Việt Nam (Political Monks: The Militant Buddhist Movement During the Vietnam War.) ở trên Web of Science và chưa từng được nhắc tới lần nào.  Nên nhớ Web of Science duyệt 171 tờ báo có chữ “lịch sử” trên đầu đề, như vậy không phải là lịch sử bị đặt ra ngoài bảng liệt kê của khoa học xă hội.  Do đó thực lực trong hồ sơ cá nhân của Moyar hoàn toàn ở trong 2 cuốn sách của ông ta. [Cuốn Phoenix… và cuốn Triumph Forsaken.  TCN]

 

   Cuốn đầu của anh ta, "Phoenix and the Birds of Prey…" được viết ra từ luận án trong chương tŕnh cử nhân ở Harvard [tôi cho rằng có lẽ là một “essay” hơn là một “thesis” v́ luận án (thesis) thường là một kết quả nghiên cứu về một đề tài nào đó liên tục trong nhiều năm.  Học chương tŕnh cử nhân không có th́ giờ để viết luận án], chỉ được nêu lên có  8  lần trong suốt thời gian 10 năm qua, và có hai bài điểm sách tiêu cực [nghĩa là Mark Moyar dở ẹt] trong những tờ báo đại học.  Trong tờ về Lịch Sử Hoa Kỳ (Journal of American History) cuốn sách trên bị mô tả là “tệ hơn là thất vọng”. [The Journal of American History, John Prados, March 1999 : "Only bits and pieces of evidence appear in Phoenix and the Birds Of Prey, and the book proves as tendentious as presumably the professors Moyar sought to refute. Given that Moyar himself writes about proper selection and use of sources, this book is worse than disappointing."]

 

   Bài điểm sách khá hơn trong tờ American Historical Review kết luận “Moyar cần phải suy nghĩ lại”.

 

   Cuốn Triumph Forsaken mới xuất bản năm ngoái nên tôi không thấy những bài điểm sách của giới đại học chuyên ngành.  Cuốn sách được điểm bởi giáo sư Bucknell trên mạng tin tức về lịch sử với lời b́nh không lấy ǵ làm sáng sủa: “Nói tóm lại, những lư luận của Moyar không đứng vững trước hàng núi bằng chứng về những tồi tệ của chế độ Diệm đă được gom góp trong nhiều thập niên.”   [Minh Vơ và Tôn Thất Thiện muốn dùng loại lư luận này để tái lập uy danh và đạo đức của “Ngô Chí Sĩ (trong Nhà Ḍng ở Marykoll)”.  TCN]

 

    Posted by David Kane, May 3, 2007:

 

    (Because I was curious, I checked out Moyar's publication record.

 

    He has one peer reviewed article listed in Web of Science ("Political monks: The militant Buddhist movement during the Vietnam war." MODERN ASIAN STUDIES 38: 749-784 Part 4 OCT 2004), which has been cited zero times. Please note that Web of Science scans 171 journals with the word "History" in the title, so it isn't that history is excluded from the social science citation index. So the strength of Moyar's file rests entirely on his two books.

 

   His first book, "Phoenix and the Birds of Prey" came out of his undergraduate thesis at Harvard, has been cited only 8 times over the past 10 years, and received two negative reviews in academic journals. In the Journal of American History it was described as "worse than disappointing". The more positive review in the American Historical Review concludes "Moyar, too, needs to think again."

 

   Triumph Foresaken only came out last year, so I couldn't find academic reviews. It was reviewed by an assistant professor from Bucknell on the History News Network in less than glowing terms: "In sum, Moyar’s arguments do not hold up before the voluminous evidence on the abuses of Diem’s regime that has accumulated over the decades."

 

   Mặt khác, Ralph McGehee, một viên chức cao cấp trong CIA, đă trực tiếp tham dự Chiến Dịch Phụng Hoàng, phụ trách vùng Gia Định, đă phê b́nh Mark Moyar là bỏ qua những chi tiết quan trọng như sau:

 

   Sự mô tả [của Mark Moyar] thời kỳ từ 1945 đến 1955 đă không nói đến vai tṛ lớn lao  của Mỹ giúp Pháp để tái lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam. [Mỹ đă giúp trên 80% quân phí cho Pháp.  TCN] Những điều ông ta [Mark Moyar] viết về sự “sáng tạo” nên Nam Việt Nam, vào giữa thập niên 1950, hầu như không nhắc ǵ tới vai tṛ quyết định của Mỹ để tạo nên cuộc di cư vào miền Nam của những người Công Giáo ở Bắc Việt và dựng lên chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. [Xin đọc bài “Vài Nét Về Cụ Diệm” để biết rơ Ngô Đ́nh Diệm đă được bưng về Việt Nam như thế nào.]

 

 … Cuốn sách [của Mark Moyar] viết những điều khẳng định về sự trung thành của người dân Nam Việt Nam (như sau): “Tôi khám phá ra rằng [khi tôi chưa sinh ra hoặc c̣n đang mặc tă ở Mỹ. TCN] là đa số các dân làng [ở vùng nông thôn] thực sự ưa chuộng chính quyền Saigon hơn là Việt Cộng trong những năm cuối cùng của cuộc chiến.”  Khẳng định này chứng tỏ Mark Moyar không biết ǵ đến những thực tế của cuộc chiến [McGehee là nhân chứng ở Việt Nam] – và chúng ta có thể bác bỏ từng điểm một nhưng phải mất quá nhiều thời gian.

 

[From: Ralph McGehee <rmcgehee@igc.apc.org>

Date: Thu, 22 Jan 1998

Review and Commentary by Ralph McGehee

 

   Mark Moyar's book, "Phoenix and the Birds of Prey: The CIA's Secret Campaign to Destroy the Viet Cong." Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1997.

 

   The description of the period from 1945 to 1955 generally ignores the massive U.S. role assisting the French to re-colonize Vietnam. His coverage of the creation South Vietnam, in the mid-1950s, barely mentions the overriding role played by the United States in generating the migration of the North Vietnamese Roman Catholic Vietnamese to South Vietnam and in creating the government of Ngo Dinh Diem.

 

   The book makes sweeping statements on the loyalties of the South Vietnamese "I discovered that the majority of villagers actually favored the Saigon government over the Viet Cong during the latter years of the war." This ignores the realities of the war -- and a point by point rebuttal is warranted but would take too much time.]

 

   Chỉ bẳng vào đoạn phê b́nh trên của Ralph McGehee chúng ta cũng có thể thấy rơ Mark Moyar có phải là một sử gia chân chính hay không, và đoạn trên cũng đă có tác dụng vứt vào sọt rác bài “Thái độ của người dân làng [Việt Nam] trong thập niên cuối của cuộc chiến Việt Nam” [Villager Attitudes During The Final Decade of the Vietnam War] mà Mark Moyar viết dựa trên cuốn Phoenix…).

 

   Sau đây chúng ta hăy sang cuốn “Thánh Thư” Triumph Forsaken của Minh Vơ và Tôn Thất Thiện.  Ở đây tôi không muốn đi vào chi tiết v́ không đáng mất nhiều th́ giờ, mà chỉ đưa lên vài nhận định của một số phê b́nh gia trên Internet.  Nhưng trước hết, chúng ta cũng nên biết về những điểm chính trong nội dung của cuốn sách là như thế nào.

 

   Đại cương th́ chủ đích của Mark Moyar khi viết cuốn Triumph Forsaken gồm có những điểm chính sau đây:

 

   -   Bác bỏ và hạ thấp những quan điểm của trường phái chính thống về cuộc chiến Việt Nam.

 

   -  Đưa ra luận cứ về cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam là một lư tưởng cao quư nhưng không được thi hành đúng .

 

   -  Cho rằng Mỹ đă sai lầm khi bỏ ông Diệm, nếu để ông Diệm th́ Nam Việt Nam sẽ thắng v́ khi đó Nam Việt Nam của ông Diệm đang thắng thế và được quần chúng ủng hộ.

 

   -  Nam Việt Nam là một quốc gia có thể tồn tại độc lập và phát triển

 

   - Lên án những phóng viên chiến trường như David Halberstam, Neil Sheehan, Stanley Karnow v..v.. và cả Đại sứ Henri Cabot Lodge về tội thông tin thất thiệt để bôi nhọ Ngô Đ́nh Diệm, đưa đến cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm, và lên án tất cả những ai nói xấu ông Diệm và nói tốt về vị lănh đạo Cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh. (The main villains are former Vietnam War correspondents David Halberstam, Neil Sheehan, Stanley Karnow etc.. and former U.S. Ambassador to South Vietnam Henry Cabot Lodge; and just about anyone else who had bad things to say about South Vietnamese premier Ngo Dinh Diem and good things to say about Vietnamese Communist leader Ho Chi Minh.)

 

   - Tăng Ni Phật Giáo là những người Cộng sản cạo đầu và theo kế hoạch của Cộng sản để lật đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm.

 

   Đưa lên những quan điểm tức cười như trên, tôi đành phải mượn một cụm từ của Nguyễn Văn Lục để mô tả Mark Moyar đích thực là một “trí thức không biết ngượng”.

 

   Sau đây chúng ta hăy đi vào phần nhận định về cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar.

 

   Trước hết là một đoạn trên movies.go.com:

 

    Cuốn sách này (Triumph Forsaken của Mark Moyar) không ǵ hơn là “rác rưởi xét lại” một cách phi lư thái quá.  Cái khá duy nhất của Moyar là đi hái những sự kiện lặt vặt cũ kỹ trong văn khố để  dẫn chứng cho những lư luận tức cười của anh ta.  Cho rằng sự nổi giậy của Phật Giáo vào năm 1963 chỉ là sản phẩm của sự kích động của cộng sản th́ thật là ngớ ngẩn, lố bịch[Điều này cũng chứng minh rằng bài Sư Chính Trị …của Mark Moyar thực sự vô giá trị, v́ đây cũng là luận điệu chụp mũ ngớ ngẩn, vô liêm sỉ của thế lực đen]  Ngay từ lúc đầu của chế độ, Diệm không làm ǵ khác hơn là gây sự nứt rạn trầm trọng giữa khối Phật Giáo đa số và cái nhóm Công giáo của hắn ta.  Hắn ta đă hái những ǵ mà hắn đă gieo hạt.

 

   Những lời kể lể dài ḍng buồn bă vô nghĩa tiếp tục bất tận [trong cuốn sách].  Điều duy nhất mà cuốn sách này cung cấp là niềm an ủi cho những kẻ than văn rên rỉ là “bị đâm sau lưng” và không thể chấp nhận là chúng ta đă bị một quốc gia hạng ba đá đít [ra khỏi đất nước của họ].

 

      [Movies.go.com:

 

   This book is nothing but preposterous “revisionist trash”. The only thing Moyar's good at is cherry picking archival factoids to substantiate his laughable arguments. To assert that the '63 Buddhist uprising was solely the product of communist agitation is ludicrous. From the very begining of his regime Diem did nothing but aggravate the fisssures between the Buddhist majority and his Catholic constituency. He reaped what he sowed.

 

   ..The litany of absurdities goes on and on. The only thing this book does is provide solace for the "stab-in-the-back" whiners who cannot accept the fact that we got our butts kicked by a third rate country.]

 

   Sau đây là bài phê b́nh ư kiến của Mark Moyar trên tờ New York Times về những sự giống nhau giữa cuộc chiến ở Việt Nam và cuộc chiến ở Iraq, trong bài này có những nhận định về Ngô Đ́nh Diệm, cùng những nhận định Mark Moyar viết trong cuốn Triumph Forsaken.

 

   Sự t́m hiểu b́nh tĩnh và mực thước của tôi bị thúc đẩy bởi một trang ư kiến mới trên tờ New York Times, viết bởi Mark Moyar, giáo sư tại đại học thủy quân lục chiến.  Theo Moyar th́ Việt Nam và Iraq thật là giống nhau, nhưng khả quan hơn:

 

   Mỹ đối diện với sự khủng khoảng giống như nửa thế kỷ trước [ở Việt Nam].  Năm 1955, chính quyền thân Mỹ Ngô Đ́nh Diệm đă dẹp những lực lượng quân sự của các tôn giáo, giống như lực lượng quân sự của đạo Shiite ờ Iraq ngày nay.

 

   Với sự sắc sảo về chính trị và ảnh hưởng của nhân cách, Diệm được sự hợp tác hoàn toàn của quân đội Quốc Gia và dùng quân đội đó để dẹp những tôn giáo..

 

   Diệm tiếp tục trở thành một bậc lănh đạo cuộc chiến quốc gia rất hữu hiệu.  Rồi, vào tháng 8, 1963, ông ta đă dẹp tan những thách đố đối với uy quyền của ông ta từ một nhóm tôn giáo khác, và từ đó ông ta lại chiếm được một sự đột tăng về uy tín…[Đó là sự kiện chính quyền Diệm, đêm 21/8/63 đă dùng Lực Lượng Đặc Biệt tấn công các Chùa trong miền Nam, giết hại và bắt bớ hàng ngàn Tăng Ni Phật tử.]

 

   Lịch sử Việt Nam đề nghị sự theo đuổi hai mục tiêu mà các viên chức Mỹ ngày nay đ̣i hỏi ở Thủ Tướng Maliki:  hăy dẹp lực lượng quân sự Shiite và chuyển sự kiểm soát cảnh sát từ phe Shiite cho những người quốc gia Iraq..

 

   Nếu chúng ta tạm thời rút lui quân đội của chúng ta và để cho Maliki đối phó với những vấn đề của Iraq dùng lực lượng của Iraq, chúng ta có thể quyết định nhanh chóng hơn là Maliki có thể cứu quốc gia của hắn ta cũng như là Diệm đă cứu quốc gia của hắn ta vào năm 1955…  [Đọc những đoạn trên của Mark Moyar, người Việt Nam hiểu biết về chính trường và chiến trường Việt Nam vào năm 1955 và đă sống ở Việt Nam trong thời đó mà không phát ph́ cười th́ người đó không có óc khôi hài.  TCN]

 

   Nay, tôi không phải là chuyên gia về Việt Nam.  Nhưng ngay cả như vậy tôi cũng có thể đoán ra có một sự sai lầm nào đó trong sự so sánh này [giữa Maliki ở Iraq và Ngô Đ́nh Diệm ở Việt Nam.  TCN]

 

Trước khi Pháp chiếm làm thuộc địa, Việt Nam hầu hết là Phật Giáo.

 

Pháp mang đến Công giáo.  Một thiểu số cải đạo, và theo đường hướng tiêu chuẩn của chính sách thuộc địa, thiểu số này hầu hết gồm những kẻ phục vụ cho Pháp. 

 

Ngô Đ́nh Diệm là người Công giáo.

 

Thủ tướng Maliki theo đạo Shia

 

Những lực lượng quân sự tôn giáo mà Diệm dẹp bỏ năm 1955 không giống như lực lượng quân sự của phe Shiite ở Iraq ngày nay.  “Tại sao?  V́ họ không phải là Công Giáo.” 

 

C̣n nữa, Diệm là người Công Giáo.  Thật ra, hắn ta là một tên Công Giáo c̣n hơn là Công giáo; anh hắn là một Tổng Giám mục.  Nhưng những tôn giáo chính mà hắn tấn công năm 1955 là Cao Đài (Có tính Chiết trung), [nghĩa là không bám chắc vào một tôn giáo hay lư tưởng, ư thức hệ nào] và Ḥa Hảo (một hệ phái Phật Giáo), và một tổ chức tội ác gọi là B́nh Xuyên.  (Như trang ư kiến của Mark Moyar trên tờ New York Times viết,  Diệm “đă dẹp tan những thách đố đối với uy quyền của ông ta từ một nhóm tôn giáo khác, vào năm 1963”.  Nhóm tôn giáo khác này là Phật Giáo) [Không hề có một lực lượng quân sự nào.  TCN]

 

C̣n nữa, Maliki là người Shia.  Do đó, dù hắn ta có quyền lực để dẹp lực lượng quân sự Shiite (chắc chắn là hắn không có), hắn ta cũng không không muốn.  V́ làm vậy là hắn đă dẹp đi căn bản hậu thuẫn của chính hắn.

 

Ư kiến cá nhân của Mark Moyar th́ cũng điên rồ và ác ôn trong 19 cách diễn giải khác.  Nhưng chỉ bằng vào vấn đề mà tôi vạch rơ ra cũng đủ để loại bỏ tư cách giảng dạy bất cứ điều ǵ và bất cứ ở đâu của cái tên này.

 

   [Jonathan Schwarz:

 

   My calm, measured inquiry is prompted by a new NY Times op-ed by Mark Moyar, a professor at the Marine Corps University. According to Moyar, it turns out Vietnam and Iraq are quite similar, but in a good way:

 

The United States faced a very similar crisis a half-century ago. In 1955, the pro-American government of Ngo Dinh Diem sought to disband militias that belonged to religious sects, analogous to the Shiite militias in Iraq today...

 

Through political acumen and force of personality, Diem gained the full cooperation of the National Army and used it to subdue the sects...

 

Diem went on to become a highly effective national war leader. When, in August 1963, he suppressed challenges to his authority from another religious group, he again experienced an upsurge in prestige...

 

South Vietnam's history recommends the pursuit of two objectives that American officials are now urging upon Prime Minister Maliki: subduing the Shiite militias and transferring control of the police from Shiite partisans to Iraqi nationalists...

 

If we pull back our troops temporarily and let Mr. Maliki deal with Iraq's problems using Iraqi forces, we will be able to determine more quickly whether he can save his country as Diem saved his in 1955.

Now, I'm no expert on Vietnam. But...even I could guess there was something a little wrong with this analogy:

 

• Before France colonized it, Vietnam was mostly Buddhist.

 

France brought Catholicism. A minority converted, and in the standard colonial pattern this minority were most of the ones who ran things for the French.

 

• Ngo Dinh Diem was Catholic.

 

• Iraqi Prime Minister Maliki is Shia.

 

• The militias which Diem "sought to disband" in 1955 therefore were not "analogous to the Shiite militias in Iraq today." Why? BECAUSE THEY WEREN'T CATHOLIC.

 

• Again, Diem was Catholic. In fact, he was Extra-Catholic; his brother was an archbishop. But the main sects he attacked in 1955 were Cao Dai (Syncretic), Hoa Hao (Buddhist), and a criminal organization called Binh Xuyen. (As the op-ed says, Diem "suppressed challenges to his authority from another religious group" in 1963. The other religious group was Buddhist.)

 

• Again, Maliki is Shia. Thus, even if he had the power to crush the Shia militias (he surely doesn't), he wouldn't want to. He would be crushing his own base of support.

 

The op-ed is crazy and evil in about nineteen other ways too. But just the problem I identify should be enough to disqualify this guy from teaching anyone anything anywhere.]

 

  Để cho bài viết này khỏi quá dài, tôi xin kết thúc bằng vài đoạn ngắn trích dẫn trong bài của Robert Buzzanco, Giáo sư Sử tại Đại Học Houston, Texas, phê b́nh Keith Weller Taylor, bậc thầy của Mark Moyar, mà chúng ta thấy rơ là Mark Moyar không làm ǵ hơn trong cuốn Triumph Forsaken là lập lại những luận điểm của Taylor và trường phái xét lại.  Bài của Giáo sư Buzzanco khá dài, quư độc giả có thể đọc toàn bài của Giáo sư, thí dụ như trên counterpoint.org hoặc trên nhiều Website khác. Để giúp quư độc giả có được một tài liệu quư giá về một số sự thật về Ngô Đ́nh Diệm, Hồ Chí Minh và miền Nam Việt Nam, tôi xin để toàn bài của Giáo sư Buzzanco ở phần Phụ Đính. Bài viết của Giáo sư Buzzanco có đầu đề là: “Fear and (Self) Loathing in Lubbock; How I Learned to Quit Worrying and Love Vietnam and Iraq”. 

 

   Tưởng chúng ta cũng nên biết Keith Weller Taylor là người như thế nào.  Taylor là một quân nhân đă từng tham chiến ở Việt Nam, và hiện là giáo sư tại đại học Cornell.  Taylor đă xuất bản cuốn sử “The Birth of Vietnam, viết về lịch sử Việt Nam từ đầu đến thế kỷ 12.  Gần đây, Taylor rất năng nổ trong việc viết lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam và dạy sinh viên Mỹ theo đường hướng suy tư của ông ta.  Thực chất những suy tư của Taylor ra sao, Hà Văn Thùy đă vạch rơ trong một bài phê b́nh dài về những bất cập của Taylor về lịch sử thời đầu của Việt Nam trong cuốn “The Birth of Vietnam của Taylor cũng như về cuộc chiến Việt-Mỹ.  Sau đây là đoạn mở đầu của Hà Văn Thùy:

 

Một cách nh́n lich sử hời hợt và méo mó

 

Hà Văn Thùy

 

   Có sự thực là, lịch sử Việt Nam từng bị bóp méo ?. Một số bài viết của Keith Weller Taylor: “Tôi đă bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào”(1), “Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19”(2), Cái nh́n mới về Việt Nam (3) có nội dung như vậy.

 

    Với bài viết chẳng đặng đừng này, tôi không có tham vọng thuyết phục giáo sư K.W.Taylor thay đổi quan điểm của ḿnh mà chỉ muốn nói với người Việt cả trong và ngoài nước rằng lịch sử dân tộc bị bóp méo như thế nào!

 

 1/ Những điều ngộ nhận của Giáo sư K.W.Taylor:

 

    Với những bài viết trên, có thể nói rằng Tiến sĩ sử học, Giáo sư Đại học Cornell, Keith Weller Taylor hiểu biết  nông cạn và có cái nh́n méo mó về lịch sử Việt Nam. Có vẻ là quá đáng khi những lời trên được dành cho tác giả của “The Birth of Vietnam”. Nhưng đó là sự thật. Bởi lẽ trong cuốn sách 400 trang kia, tiếc thay phần lớn những tư liệu trong đó nếu không xuyên tạc th́ cũng là sự nh́n lịch sử “lộn đít lên đầu”! Không nên trách giáo sư v́ cuốn  sách ra đời vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Không chỉ vậy, điều quyết định tạo nên cái nh́n ngộ nhận là ở chỗ ông xoi mói dân tộc Việt Nam dưới con mắt thù hận.

 

    Và sau đây là đoạn Kết của Hà Văn Thùy về Keith Weller Taylor:

 

     Mỗi dân tộc có một lịch sử của ḿnh. Dân tộc Việt có một lịch sử đặc biệt. Đó là dân tộc từng sáng tạo nền văn minh lúa nước rồi văn hoá đồng thau rực rỡ, là chủ nhân đầu tiên tạo dựng nền văn hoá Trung Hoa vĩ đại. Nhưng đó cũng là dân tộc bị tước đoạt, bị xua đuổi. Ở thời hiện đại, dân tộc này lại bị xô đẩy vào những cuộc chiến tranh khủng khiếp. Sức mạnh duy nhất để dân tộc Việt tồn tại chính là sự đoàn kết thống nhất. Với dân tộc như vậy, cần được nh́n bằng con mắt cảm thông và kính trọng.  

 

   Nghiên cứu t́m hiểu rồi viết và giảng dạy lịch sử của dân tộc khác để đem lại sự hiểu biết lẫn nhau là điều tốt đẹp đáng làm. Nhưng h́nh như với giáo sư Keith Weller Taylor lại không như vậy. Với ư đồ trả thù một dân tộc từng đánh bại người Mỹ, ông hăng hái học, dạy rồi viết về lịch sử Việt. Dưới chiêu bài phát hiện những cái mới, ông thể hiện cách nh́n mục hạ vô nhân, vừa xuyên tạc lịch sử của người Việt vừa coi thường công tŕnh của những người đi trước. Nhưng rơ ràng, những mưu toan xuyên tạc lịch sử đầy ác ư của ông sẽ không đem lại điều ǵ tốt đẹp. Không tốt đẹp cho sự hiểu biết và thông cảm nhau giữa các dân tộc và cũng không đem lại tốt đẹp cho sự nghiệp sử gia của ông. Phản bác lại những mưu toan bóp méo lịch sử, xúc phạm dân tộc, kích động thù hằn giữa các vùng miền lẽ ra là công việc của những sử gia mũ cao áo dài, học hàm học vị cùng ḿnh và từng hưởng nhiều ơn vua lộc nước. Việc một kẻ phó thường dân, cóc ngồi đáy giếng như tôi phải lên tiếng là vạn bất đắc dĩ nhưng không thể không làm v́ đó cũng là tâm nguyện của nhiều người Việt.

 

   Nhận định của Hà Văn Thùy về Keith Weller Taylor đúng hay sai?  Chúng ta hăy đọc vài đoạn trong bài Giáo sư Robert Buzzanco phê b́nh Keith Weller Taylor:

 

    Trong khoảng một thập niên sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, hầu hết các học giả đă phê b́nh chỉ trích cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam.  Cuốn Cuộc Chiến Lâu Dài Nhất Của Mỹ (1979, ấn bản thứ tư, 2001) của George Herring là cuốn đầu tiên được nghiên cứu nghiêm túc của giới học giả đi vào lănh vực phê b́nh và cho tới nay vẫn c̣n là một cuốn tiêu chuẩn [về cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam].   Dù không công khai nghiêm khắc lên án cuộc can thiệp của Mỹ, cuốn sách chắc chắn là đă tŕnh bày quyết định tham chiến ở Việt Nam và những sự tham gia và leo thang sau đó là những sai lầm rơ rệt. Sâu sắc và nhấn mạnh hơn, cuốn Can Thiệp (1986) của George McT. Kahin và cuốn Mổ Xẻ Một Cuộc Chiến (1985) của Gabriel Kolko là những tố cáo sớm sủa và mạnh mẽ về cuộc chiến, từ hai học giả  đă hoạt động trong phong trào chống chiến tranh và đích thân quen thuộc với nhiều lănh đạo Việt Nam.  Từ thời đó, hầu hết các cuốn sách của giới học giả nghiên cứu về Việt Nam thường có khuynh hướng chỉ trích chính sách của Mỹ trên nhiều mức độ.

 

   [In the decade or so after the Vietnam War ended, most scholars wrote critically of the U.S. intervention in Indochina. George Herring's America's Longest War (1979, 4th edition 2001) was the first serious scholarly entry in the field and remains a standard today. While not an overtly harsh indictment of the American intervention, it certainly presents the decision to fight in Vietnam and subsequent involvement and escalation as clear mistakes. More pointedly, George McT. Kahin's Intervention (1986) and Gabriel Kolko's Anatomy of a War (1985) were early and powerful denunciations of the war, from two scholars who were also active in the antiwar movement and familiar with many of the Vietnamese leaders on a personal basis. Since that time, most scholarly books on Vietnam have tended to be critical of U.S. policy on many levels.]

 

    Nhưng Taylor tiếp tục đường hướng lư luận của ḿnh, khẳng định rằng “một trong những mục đích lâu dài của Mỹ là phát triển quyền được bất đồng ư kiến“ ở Nam Việt Nam.  Chúng ta không thể chế giễu quan điểm này v́ nó quá ghê tởm để có thể coi như là có tính chất hài hước.  Ở Guatemala, Iran, Chile, Indonesia, ở nhiều quốc gia ở Trung Đông, và hầu hết châu Mỹ La Tinh, Mỹ đă dùng quân lực cũng như quyền năng kinh tế để nghiền nát những phong trào giải phóng và giữ ở đó những bọn quân phiệt tàn bạo hơn trong thời hiện đại.

 

   [But Taylor continues that line of argument, asserting that "one of the fundamental long-term aims of the United States was to develop the right to dissent" in southern Vietnam. One cannot really mock this view, because it is too repugnant to be humorous. In Guatemala, Iran, Chile, Indonesia, many nations of the Middle East, and most of Latin America the United States used its military and economic power to crush liberation movements and keep in place some of the more murderous juntas of the modern era.]

 

    Taylor khẳng định rằng, bảo Hồ Chí Minh đại diện cho “chính quyền hợp pháp độc lập” ở Việt Nam sau 1945 chỉ là giáo điều căn bản của Cộng sản về lịch sử quốc gia.  Để tương hợp điều này, Taylor khẳng định rằng chính phủ ở miền Nam, dưới triều Ngô Đ́nh Diệm và những người kế tiếp, đă thiết lập một quốc gia thực sự.  Đó là nhưng khẳng định đao to búa lớn, và ông ta đă khẳng định một cách chắc nịch, nhưng những bằng chứng nói lên những ǵ?

 

   Nếu chúng ta tin George Herring, David Anderson, George McT. Kahin, Gabriel Kolko, Dave Marr, William Duiker và hầu hết những học giả có uy tín, những người đă nghiên cứu những hồ sơ gốc trong văn khố, trong thư viện, th́ chúng ta biết rằng, Hồ Chí Minh và Việt Minh, mang cả hai ngọn cờ giải phóng quốc gia và cộng sản, đă dấn sâu vào và cuối cùng đă lănh đạo kháng chiến chống sự cai trị thuộc địa của Pháp và sự chiếm đóng của Nhật Bản, về chính trị cũng như về quân sự.  Chúng ta biết rằng ông Hồ đă ủng hộ chủ trương hợp tác, thường chống lại những đồng chí trong đảng Cộng sản Đông Dương, và sẵn sàng hợp tác với bất cứ cá nhân hay nhóm nào chống Pháp.  Chúng ta biết rằng Việt Minh đă chiến đấu chống Nhật và chống sự phục hồi  thuộc địa của Pháp vào năm 1946, cho đến khi thành công,  bảo vệ Chủ Quyền Việt Nam ở  Điện Biên Phủ.  Chúng ta biết vào năm 1945 và 1954 ông Hồ tuyên bố về Chủ Quyền của Việt Nam trích dẫn từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ và đă có những vận động qua cơ quan OSS và trong những thư riêng gửi Tổng thống Truman yêu cầu  Mỹ ủng hộ nhưng không được xét đến.

 

   Chúng ta cũng biết rằng hầu như mọi viên chức Hoa Kỳ phân tích chính trị Việt Nam đều hiểu rằng ông Hồ rất được ḷng dân và dễ dàng thắng trong bất cứ cuộc bầu cử thực sự nào, như ngay cả Tổng Thống Eisenhower cũng đă nh́n nhận

 

   Taylor và nhiều người khác lư luận rằng, Diệm thực sự là một người có tinh thần quốc gia, không phải là một bù nh́n của Mỹ, và đă ở trên đà phát triển một quốc gia có chủ quyền ở dưới vĩ tuyến 17.  Nhưng có một hồ sơ, một hồ sơ phong phú, về Diệm lên cầm quyền như thế nào, cai trị ra sao,  và bị loại như thế nào.  Như chúng ta biết, ông ta là một thầy tu Công giáo đă chạy khỏi Việt Nam và trú thân trong một Nhà Ḍng ở New York, ở đây ông ta được những người như Hồng Y Francis Spellman, Tướng John O'Daniel, các Nghị Sĩ Mike Mansfield và John Kennedy chỉ định ông ta sẽ là lănh tụ của Nam Việt Nam sau 1954.  Lên cầm quyền, hắn tạo nên một chế độ chuyên trị tắt mắt, với gia đ́nh nắm giữ hầu hết những chức vụ quan trọng của quốc gia và viện trợ của Mỹ.

 

   Cho tới đầu thập niên 1960 chính sách đàn áp của Diệm đă gây nên hai phong trào chống đối chính, điều mà những người biện hộ cho Diệm thường không nhắc tới.. Nhưng quan trọng hơn là, Diệm đă làm cho số đông người miền Nam, kể cả những người cùng nắm quyền với hắn, xa lánh, đưa đến  nội bộ chống đối chế độ của hắn.  Không những nhiều người miền Nam theo Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, mà chính những người của hắn, sĩ quan và công chức, bắt đầu t́m cách để đưa hắn và gia đ́nh hắn ra khỏi quyền lực.  Những đảng phái chính trị chống đối (bị chế độ Diệm dẹp) [chắc đây là vụ Caravelle], và những cuộc đảo chánh [mới đầu thất bại] không phải là do Cộng sản tạo ra hay tổ chức, mà bởi chính người của hắn.  Sau cùng th́, chính người của hắn, sĩ quan của hắn, tướng lănh của hắn đă lật đổ và giết hắn vào tháng 11, 1963, với sự ưng thuận của Mỹ…Với những sự kiện như trên, Keith Taylor giải thích thế nào về sự ổn định, hợp pháp và hữu hiệu của chính quyền Diệm [như Taylor khẳng định].  Làm sao mà sự loại bỏ Diệm, bởi chính những người của hắn, đưa đến bước ngoặt nghiêm trọng trong một cuộc chiến mà ngay từ đầu đă đâm đầu xuống sự thất bại?

 

   Nếu việc phục hồi [tinh thần tam đại Việt gian của] Diệm là mảnh đầu tiên trong cái tṛ chơi lắp h́nh th́ luận cứ về một Nam Việt Nam là một quốc gia độc lập để phát triển tất nhiên là mảnh thứ hai.  Như James Carter đă tŕnh bày rất hấp dẫn trong một luận án ở Đại Học Houston với đề tài: “Phát Minh ra Việt Nam: Mỹ và Việc Tạo Ra Quốc Gia ở Đông Nam Á”, chưa từng có cái ǵ gọi là một quốc gia thực sự ở dưới vĩ tuyến 17, một quốc gia có thể tự tồn tại mà không có sự truyền vào đồ sộ của viện trợ Mỹ về quân sự, kinh tế,  mà không có sự xây dựng hạ tầng cơ sở về chính trị và vật chất của Mỹ, tạo nên hệ thống tiền tệ, bao che những khuyết điểm của những lănh đạo, dựng lên những cuộc bầu cử dỏm, bỏ 4.6 tấn bom trên một diện tích như New Mexico v..v..

 

   [Taylor claims that it's simply a "foundational tenet of the communist version of national history" to say that Ho Chi Minh represented the only "legitimate or viable" government in Vietnam after 1945. Correlative to that, he claims that the southern government, under Ngo Dinh Diem and his successors, had established a real state. These are big statements, and he declares them with force, but what does the evidence say?

 

   We do know ­if we are to believe George Herring, David Anderson, George McT. Kahin, Gabriel Kolko, Dave Marr, William Duiker and most other credible scholars who have done original research in archives and libraries­ that Ho Chi Minh and the Viet Minh, carrying the banner of both national liberation and communism, were deeply involved in and ultimately led the resistance to French colonial rule and to Japanese occupation, politically and militarily. We know that Ho advocated a strategy of inclusion, often counter to his comrades in the Indochinese Communist Party, and was willing to join with any individual or group who opposed the French.15 We know that the Viet Minh carried the fight against the Japanese and against the restoration of the French colonialists in 1946, until their successful defense of Vietnamese sovereignty at Dien Bien Phu. We know that in 1945 and 1954 that Ho declared Vietnamese sovereignty­ quoting from the U.S. Declaration of Independence and making overtures through the OSS and in private letters to Harry Truman for American support ­but was ignored.

 

   We also know that virtually every American official who analyzed Vietnamese politics understood that Ho was overwhelmingly popular and would easily win any real election, as even President Dwight Eisenhower conceded.

 

   Diem, Taylor and others argue, was a real nationalist, not a puppet of the U.S., and was on the cusp of developing a sovereign state below the seventeenth parallel.  Again, there is a record, a vast one, of Diem's rise and behavior and ouster. He was, as we know, a Catholic ascetic who fled Vietnam and found sanctuary in a New York seminary, where the likes of Francis Cardinal Spellman, General John O'Daniel, Mike Mansfield, and John Kennedy designated him to be the leader of southern Vietnam after 1954. In office he created a kleptocracy, with his family holding most of the important positions of state and most of the funding send to the south by the United States.

 

   By the early 1960s Diem's repression had set into motion two major lines of opposition, and this is a point that the apologists always seem to ignore. ..  But, more importantly, Diem had alienated such vast numbers of southerners, including those ostensibly in power with him, that he had also prompted a broad internal campaign against his rule. Not only did many southerners join the NLF but his own people­ army officers and government officials­ began to seek ways to remove him and his family from power. The opposition political parties (suppressed by the regime) and the coups d'etat staged against him (thwarted at first) were not created by or organized by the communists, but by his own people. Finally, it was his own people ­his officers, his generals­ who overthrew and killed him in November 1963, with U.S. acquiescence…  How ­Keith Taylor needs to explain­ does this add up to stability, legitimacy or effectiveness? How does the ouster of Diem, by his own people, constitute a grave turning point in a war that was inexorably headed toward failure from the first?

 

   If the rehabilitation of Diem is the first piece of the overall revisionist puzzle, then the argument that the southern part of Vietnam was a viable state is surely the second. As.. James Carter has shown compellingly in a recent dissertation he completed at the University of Houston titled "Inventing Vietnam: The United States and State-Making in Southeast Asia," there was never a real state below the seventeenth parallel, one that could exist on its own­without massive infusions of American military and economic aid, without Americans building both a political and physical infrastructure, creating a currency, covering up for the defects of its leaders, staging phony elections, dropping 4.6 million tons of bombs on an area the size of New Mexico, and so forth…]

 

   Trên đây chỉ là vài đoạn của giáo sư Buzzanco bác bỏ một số những luận cứ của trường phái xét lại, tôi đề nghị quư độc giả hăy đọc toàn bài của Giáo sư Buzzanco ở Phần Phụ Đính.  Và qua những phần phê b́nh trên chúng ta đă thấy thực chất giá trị của những lập luận của trường phái xét lại, điển h́nh qua những luận điểm của Keith Weller Taylor và qua vài cuốn sách của Mark Moyar.  Cuốn Triumph Forsaken đă được “phe ta” khai thác để viết lại lịch sử Việt Nam, nhưng tiếc thay, trí tuệ của những người này không đi đôi với điều họ muốn.  Để chứng minh, tôi xin trích dẫn một câu của Minh Vơ ca tụng Mark Moyar về Trận Ấp Bắc:

 

   Minh VơTrận Ấp Bắc; Tháng Giêng năm 1963: Tác giả để gần 20 trang để viết về trận đánh cấp tiểu đoàn này, trong khi về những trận đánh khác trong năm 1962, ông chỉ nói qua mấy hàng. Thứ nhất v́ đây là trận phản công đầu tiên của Việt Cộng sau một loạt thất bại trong 6 tháng cuối năm 1962, để cố dành lại thế chủ động. Nhưng VC đă thất bại, để lại trên một trăm xác chết.

 

   Trong trận này quân của sư đoàn 7 bị thiệt hại nặng, 80 chết 109 bị thương. Lực lượng Mỹ yểm trợ có 3 người chết, 6 bị thương và nặng nhất là có tới 5 máy bay trực thăng bị hư hại. Dư luận phe chính thống coi đây là thất bại lớn chứng tỏ chính quyền đang trên đà suy sụp. Nhưng tác giả đă thuật lại đầy đủ chi tiết trận đánh, địa h́nh địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét trái ngược. Theo tác giả th́, tướng Harkins và Đô Đốc Felt đều nhận định, đây là một chiến thắng của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Riêng tác giả th́ phân biệt, về mặt chiến thuật, sư đoàn 7 thất bại, v́ không tiêu diệt được đối phương như đă hoạch định. Nhưng về mặt chiến luợc th́ thắng v́ không để Cộng quân dành lại được thế chủ động.

 

   Viết như trên, Minh Vơ đă tự chứng tỏ là mù tịt về những sự kiện xung quanh trận Ấp Bắc.  Thứ nhất, nếu chúng ta đă đọc A Bright Shining Lie của Neil Sheehan th́ chúng ta phải biết rằng Neil Sheehan đă để ra nguyên một Chương 62 trang, từ trang 203 đến trang 265, để viết rất chi tiết về trận Ấp Bắc.  Thứ nh́ đây không phải là trận phản công đầu tiên của Việt Cộng để cố dành lại thế chủ động, mà là Harkins ra lệnh cho Sư Đoàn 7, gồm 2500 quân sĩ,  do Đại Tá Bùi Đ́nh Đạm chỉ huy, đi t́m tiêu diệt một đài phát thanh của Việt Cộng ở Ấp Tân Thới, được bảo vệ bởi một tiểu đoàn Việt Cộng vào khoảng 300 người.  Thứ ba, Việt Cộng chỉ chết có 18 người và bị thương 39 chứ không phải là “để lại trên một trăm xác chết.”  [Neil Sheehan, p. 262: They (Viet Cong) suffered 18 killed and 39 wounded]. (Phần Việt Cộng c̣n lại đă rút lui an toàn khỏi trận địa)  Nên nhớ, Neil Sheehan, John Paul Vann, và cả David Halberstam, Peter Arnett đều có mặt tại chiến trường Ấp Bắc.  Đọc Neil Sheehan chúng ta biết trong trường hợp nào mà Harkins cùng Felt nói rằng VNCH thắng trong trận Ấp Bắc [A brigh shining lie].  Thứ tư, Minh Vơ ca tụng Mark Moyar là “Nhưng tác giả đă thuật lại đầy đủ chi tiết trận đánh, địa h́nh địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét trái ngược.”  Trận đánh vào đầu tháng Giêng 1963, khi đó Mark Moyar chưa ra đời (Moyar sinh năm 1971), vậy th́ Mark Moyar ở đâu, Bến Hải hay Cà Mâu, mà có thể “thuật lại” đầy đủ chi tiết blah..blah..blah.”  Minh Vơ viết như trên có phải là lố bịch không?  Chi tiết trận đánh, địa h́nh địa vật v..v.. đều có trong cuốn A Bright Shing Lie của Neil Sheehan và của những người có mặt và chỉ huy trận đánh như John Paul Vann.

 

   Về trận Ấp Bắc, chúng ta có thể đọc trong rất nhiều cuốn sách viết về cuộc chiến Việt Nam. Ngắn gọn nhất là trong cuốn The Vietnam War Almanac (Việc Từng Ngày), Barnes & Noble Books, New York, 2005, nguyên văn bằng tiếng Anh như sau, trang 58 [Để tránh xúc động và đau ḷng, v́ tôi là một cựu quân nhân QLVNCH, tôi không dịch, để cho Minh Vơ cũng như những ai quan tâm đến vấn đề t́m hiểu lịch sử đứng đắn đọc]:

 

2 January 1963

 

At Ap Bac in the Mekong Delta 30-50 miles Southeast of Saigon 2500 troops of South Vietnam’s 7th Infantry Division equipped with automatic weapons, armored amphibious personnel carriers, and supported by bombers and helicopters fail to defeat a group of 300 guerillas who escape almost intact after inflicting heavy losses on the army.  The engagement is a landmark in revealing that government troops can neither cope with the strategy nor match the fighting spirit of the Vietcong.  South Vietnamese officials in Saigon are irate with US advisor’s candid assessments of the action.

 

   Kết luận về trận Ấp Bắc, Neil Sheehan viết, trang 264:

 

   “Họ (Việt Cộng) đă làm được hơn là thắng một trận.  Họ đă đạt được một chiến thắng của Việt Nam cũng như tổ tiên họ.” [They had done more than win a battle.  They had achieved a Vietnamese victory in the way of their ancestors].

 

   Bây giờ chúng ta hăy đọc một đoạn của Tôn Thất Thiện ở Ottawa, Canada:

 

   Nói đến "thắng" th́ ai cũng nghĩ ngay đến sự kiện quân đội cộng sản miền Bắc tràn vào Sài G̣n và chiếm toàn miền Nam năm 1975. Nhưng "thắng" đây là nói về thời gian năm 1962 đến lúc đảo chính tháng 11-1963.  Mà thời gian đó là thời gian mà chủ quyền quốc gia Việt Nam, kể cả chủ quyền về quân sự, c̣n nằm trọn trong tay chính phủ Việt Nam, và sự thắng đó là thắng của quân đội Việt Nam, dưới sự chỉ huy trực tiếp của tổng thống Việt Nam, lúc đó là ông Ngô Đ́nh Diệm, người Mỹ chưa trực tiếp can thiệp và chưa nắm thực quyền điều khiển Việt Nam.


   Với kết quả và những nhận định ở trên về trận Ấp Bắc vào đầu năm 1963 chúng ta có nên phê b́nh đoạn trên của Tôn Thất Thiện không?  Tôi nghĩ là không cần thiết.  Có một điều rất khó hiểu là theo Tôn Thất Thiện et al…, trường phái chính thống đă cố ư xuyên tạc sự thật để bôi nhọ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm và những chế độ ở miền Nam.  Người Mỹ đă tốn bao công của để dựng lên miền Nam, đă đưa Diệm về làm Thủ Tướng, đă dung dưỡng chính sách độc tài tôn giáo trị, gia đ́nh trị của Diệm trong 9 năm, nhưng lại cố ư xuyên tạc để bôi nhọ Diệm.  Mà những người bôi nhọ là ai?  Họ gồm những chính khách Mỹ, đại sứ Mỹ, tướng lănh Mỹ, kư giả Mỹ v..v.., vậy điều này có hợp lư không?  Hỏi tức là đă trả lời.  Cuộc chiến đă chấm dứt trên 30 năm rồi.  Ngày nay chúng ta có nên có một chút lương thiện trí thức trong việc xét lịch sử như nó là như vậy không?  Tôi đặt câu này trước trường phái xét lại và lẽ dĩ nhiên, trước những người không đáng đặt như Minh Vơ và Tôn Thất Thiện mà trong quá khứ chúng ta đă biết không đội trời chung với sự lương thiện trí thức.

 

 

Trích giaodiemonline, tháng 9/07

NDVN, ngày 20/9/07

 

Click: Tận tín thư bất như vô thư - Trần Chung Ngọc, đọc Phụ đính bằng Anh ngữ

 

Phụ Đính:

 

Fear and (Self) Loathing in Lubbock

How I Learned to Quit Worrying and Love Vietnam and Iraq

By ROBERT BUZZANCO

Houston, Texas



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend