NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III A)


….Tổng thống Ngụy quyền Việt gian Nguyễn Văn Thiệu, được ban phân tích CIA soạn xong một tài liệu, viết rằng: “Sự tồn tại của Thiệu được tính từng ngày. Thiệu mất ḷng tin của phần lớn sĩ quan. Rất có thể có cuộc đảo chính chống lại ông ta sắp xảy ra, chưa biết chừng” (tr 196)…và kế hoạch phải xây dựng tức th́ một mạng lưới tại chỗ để cung cấp cho CIA tin tức về hoạt động của chế độ cộng sản sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm đóng: ....Ở Chi nhánh CIA, bắt đầu nghiên cứu khả năng sử dụng người tị nạn sắp rời Việt Nam để làm t́nh báo sau này. Những người này sẽ hợp thành những mạng lưới t́nh báo sống trà trộn với nhân dân sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm đóng. Một tổ chức người tị nạn sẽ được thành lập ở Bangkok nhằm mục đích đo theo mẫu tổ chức của CIA đă thành lập cho những người di cư ở Đông Âu. Ngay ở Việt Nam, một quan chức CIA phụ trách phản gián cho rằng phải xây dựng tức th́ một mạng lưới tại chỗ để cung cấp cho CIA tin tức về hoạt động của chế độ cộng sản.” (tr 198)…

 

TBT Lê Duẩn, toàn Đảng và toàn Dân diệt sạch mạng lưới CIA, từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 đến 1986, Việt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển, cho nên thực hiện chính sách nhân đạo di dời Ngụy quân Ngụy quyền  vào an trí trong các trại Cải tạo Học tập cho đến khi Việt Nam có được an ninh, ngoại giao và giao thương với nhiều quốc gia trên thế giới bất chấp lệnh cấm vận  của đế quốc Mỹ...Việt Nam tiến chiếm Cambốt, v́ Khmer Đỏ đánh phá biên giới VN và giải phóng nhân dân Cambốt thoát khỏi nạn diệt chủng, cùng với hai lần đại thắng đánh quân xâm lược Tàu Đặng xâm lăng đất nước ta vào năm 1979… nhờ thế nhân dân ta có cuộc sống ḥa b́nh, an lạc, phát triển kinh tế và an ninh nhất thế giới hiện nay…

 

Cho nên, Dân tộc ta, luôn luôn ghi ơn TBT Lê Duẩn là Thiên tài chính trị, quân sự, trí dũng, nhân hậu,…và kiệt xuất thế kỷ 20 là quyết chí hoàn thành đại nghiệp thống nhất đất nước…TBT Lê Duẩn, học tṛ chân truyền  Bác Hồ, được Bác chuyển giao quyền lực chuyên chính (thanh trừng và quản chế đảng viên chao đảo cách mạng và chủ bại trước vũ lực tàn bạo đế quốc Mỹ cày nát miền Bắc thành thời đồ Đá) lănh đạo Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nhất trí thống nhất đất nước và nhất định thắng lợi đánh cho Mỹ cút-Diệm Thiệu Ngụy nhào, (Click đọc: TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN II )

 

Thật vậy, TBT Lê Duẩn, thiên tài chính trị, quân sự, trí dũng, nhân hậuViệt Nam cần an ninh và ổn định để phát triển và xuyên thấu ư đồ CIA xây dựng  một mạng lưới cài lại và sử dụng người tị nạn sắp rời Việt Nam để làm t́nh báo sau 1975, tạo niềm tin vui ḥa b́nh ḥa hợp và nhân đạo đến cho Ngụy quân - Ngụy quyền và dân chúng miền Nam, để không giết sạch và tắm máu như Khmer Đỏ, là thực hiện chính sách nhân đạo Chính Sách Cải Tạo Học Tập. Hăy nh́n, bọn Ngụy này, chen nhau đem theo vợ hay chồng con đến những địa điểm tŕnh diện và đăng kư ban quân quản địa phương và TP. Saig̣n-Gia Định học tập 3 ngày xong và về, v́ thế đám tàn quân Ngụy, không nổi loạn trong giao thời cách mạng và kinh tế kiệt tận….Cho nên, bọn Ngụy rất hồ hởi trở lại những địa điểm tŕnh diện để được học tập 10 ngày (cấp úy) hay 2 tuần (cấp tá), và hy vọng được đi học tập sớm về sớm (Click đọc: NGÀY TÀN CỦA NHỮNG " HÀNG TƯỚNG, HÀNG BINH " NGỤY ), c̣n được Đại Tửu lầu Đồng Khánh (Saig̣n) khoản đăi Đại tiệc và góp ư về thức ăn có chất lượng như thế nào? ....trước khi, hí hửng tranh nhau lên xe bít bùng về miền Rừng Cải Tạo vào lúc 4 giờ sáng, được mang theo lương khô và vài bộ áo quần cho 10 ngày cấp úy (trưởng ban, trưởng pḥng, …xă  trưởng = cấp úy) và 2 tuần cấp tá (trưởng ty, quận trưởng, tỉnh trưởng, th trưởng,…bộ trưởng = cấp tướng tá) (theo Phạm Cơ, đài VOVN, Houston, ngày 30/4/07, LTHT). Không những thế, hàng chục ngàn Cải tạo viên được thả về sau khi Cải Tạo Học Tập tốt, lại được trắt nghiệm thử thách lần cuối, chiêu dụ  vào một số tổ chức Kháng Chiến giả, thế là bắt lại một số Ngụy vẫn c̣n phản động phản loạn đưa trở lại Cải tạo Học tập và phá vỡ những cơ sở phản lọan như là: nhà thờ Vinh Sơn (quận 10, TP. HCM), ḍng Đồng Công (Thủ Đức), khu giáo xứ Trà Cổ (Bà Rịa, Vũng Tàu)…khai quật nhiều hầm chôn dấu vũ khí ở một số nhà thờ ở miền Trung và miền Nam, do những mạng lưới t́nh báo CIA cài lại và người tỵ nạn sắp rời Việt Nam để làm t́nh báo…

 

Không như, ở Cambốt phá vỡ mạng t́nh báo CIA đặt khắp nước này. Hôm sau, ở Phnôm Pênh và những tỉnh khác, hằng trăm ngh́n người dân nhận được lệnh phải đi ngay và sống ở nông thôn. Cuộc di cư bắt buộc này được tiến hành theo kế hoạch làm từ lâu của Khmer đỏ, đă phá vỡ màng lưới t́nh báo của Mỹ đặt khắp nước này. Mặc dù đă có dự tính đến sự tan ră của xă hội, nhưng cơ quan CIA ở Phnôm Pênh chỉ lấy thành phố, thị xă làm địa bàn hoạt động sau khi người Mỹ ra đi, đặt ở đấy những đài phát thanh tin bí mật và tổ chức ở đây những nhóm t́nh báo nhỏ. Khi các thành phố và thị xă bị càn quét, mạng lưới bị hoàn toàn phá vỡ, CIA không c̣n nhận được tin ǵ ở Campuchia sau chiến tranh. Bằng cách tàn sát trên hai triệu dân Cambốt bởi Khmer Đỏ

 

Chính sách nhân đạo Chính Sách Cải Tạo Học Tập, đă phá vỡ những âm mưu nổi loạn của bọn phản đông Việt gian Thiên Chúa Giáo La Mă, mộng tưởng toàn quốc nổi loạn v́ đói do cấm vận và không có viện trợ Mỹ (Ngụy quyền miền Nam sống nhờ viện trợ Mỹ từ cây kim sợi chỉ, lương công chức quân đội từ Tổng thống đến binh nh́, người phu quét rác…do Mỹ trả, đă được Việt gian Tổng thống Thiệu nói rằng: “Ngày nào Mỹ c̣n viện trợ, th́ chúng ta c̣n chống Cộng”) và Liên sô-Trung quốc ngưng kinh viện…sẽ cùng với đám tàn quân Ngụy, nếu đang được sống lang thang tự do, ḥa b́nh. ḥa hợp, không có việc làm và đói…và chuẩn bị đón Mỹ trở lại như ngày nào năm xưa Bùi Chu, Phát Diệm….đón Pháp 1945.   

 

Cho nên, tên đại Việt gian TGM Nguyễn Văn B́nh “khổ nhục kế” vội vàng hiến dâng toàn bộ tài sản GHCG (cơ sở kinh tài trường học, nhà thương và ruộng đất…) cướp đoat của đất nước từ thời thực dân Pháp và đế quốc Mỹ - Diệm Thiệu (hơn cả tài sản ba nước Việt-Miên-Lào, (click đọc: HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT ), để rồi sẽ lấy lại sau khi Mỹ tái chiếm Việt Nam hay Việt Minh Cộng Sản Đảng thành Tan Hoang Việt Minh Cộng Sản Đảng, như Sô Viết Tan Hoang, mà trong mấy năm gần đây, Việt gian GHCGVN thăm ḍ thử lửa với Đảng ta và Nhà nước ta, nổi loạn đ̣i lại một số cơ sở hay dùng những tên sư Chống Cộng Cho Chúa (CCCC = Cầm Cu Cho Chúa) Việt gian Quảng Độ, Không Tánh, Hộ Giác…đ̣i tài sản PG do nhân dân Phật tử dâng cúng, mà sau 1975, Phật tử đem dâng hiến tài sản PG hay nhà nước trưng thâu như các tôn giáo khác cho đất nước quản trị và phát triển lợi ích chung cho toàn dân. (click đọc: TÀ ĐẠO LINH MỤC LƯU MINH HOÀNG D̉NG GIUSE NHA TRANG NỔI LOẠN )

 

Chính sách nhân đạo Cải Tạo Học Tập và đánh Tư Sản này, Việt Nam tống đuổi 90% người Tàu ra khỏi nước bằng Vượt biên hay di dân qua Trung Quốc và Di dân chừng gần 2 triêu di dân kinh tế hợp pháp có trật tự HO và đoàn tụ gia đ́nh ODP qua Mỹ và Âu Châu. Cái bọn HO (tỵ nạn chính trị giả) và ODP này, ngày nào năm xưa đi xin giấy tờ.chứng nhận từ các cơ quan tổ, phường, quận, tỉnh cuối cùng vào Sở Ngoại Kiều tại đường Nguyễn Du, TP. Hồ Chí Minh, bản chất hèn hạ, nô lệ, thằng bồi, bon chen, khúm núm, quỳ lụy van xin….“quư anh giúp đỡ cho chúng em…nhớ ơn Đảng và các anh đời đời…giúp cho chúng em hoàn tất giấy tờ Mỹ đ̣i hỏi…chúng em bồi dưỡng vài cây thuốc lá 555 hay tư tiền để quư anh nhậu chơi sau giờ tan sở…”, và lời cuối cùng anh cán bộ chỉ gởi nhắn HO và ODP là “nhớ trở về thăm quê hương”, được một số cơ quan địa phương và nhất là Sở Ngoại Kiều, TP. Hồ Chí Minh  thâu h́nh Video lưu trữ, sẽ tŕnh chiếu trên TV, để lột mặt nạ những tên hèn hạ dơ dáy HO, ODP và trốn quân dịch (Ngụy) đang ḥ hét chống Việt Nam ở Mỹ, Úc và Âu châu… 

 

 

 

TRÁCH NHIỆM ĐẦU TIÊN

 

    Trong khi Nam Việt Nam tơi tă như áo rách th́ Campuchia đi vào sụp đổ.

 

Ngày Đà Nẵng thất thủ, sứ quán Phnôm Pênh báo tin tổng thống Lon Nol sắp đi “thăm hữu nghị” Indonesia và Hoa Kỳ. Bốn ngày sau, tổng thống Campuchia rũ rưỡi và nửa tê liệt lên một máy bay vận tải Mỹ và bay đi Thái Lan, chặng đầu của chuyến đi. Ông ta không bao giờ trở về nữa. Giờ sau đó, pháo binh cộng sản điều khiển súng, bắn vào trung tâm Phnôm Pênh, như họ muốn báo cho người Mỹ và người nước ngoài ở khu vực các sứ quán biết rằng đă đến lúc phải rút đi. Chập tối, vị trí tiền tiêu cuối cùng của chính phủ trên sông Cửu Long phía Đông Nam thủ đô, bị tiêu diệt và mười ngh́n quân Khmer đỏ tiến về phía Bắc, tiếp cận với 30 ngh́n đồng đội đă toả ra chung quanh Phnôm Pênh có quân chính phủ số lượng chỉ bằng một nữa, bảo vệ.

 

Sau hơn một năm phản đối, cuối cùng Kissinger đă đồng ư với thoả hiệp chính trị do Martin, đại sứ Dean và người Pháp dự tính từ lâu. Hoa Kỳ đồng ư cho Norodom Sihanouk trở về để bắc một cái cầu giữa những người quốc gia ở Phnôm Pênh và quân Khmer đỏ trong rừng.

 

Trong khi đó, một bi kịch diễn ra ở Sài G̣n. Cuối tháng 3, tướng Weyand và Graham Martin nghĩ nát óc để cố cứu Nam Việt Nam. Số phận mỉa mai, lúc họ trở lại Sài G̣n th́ cũng là lúc Quân khu I và Quân khu II sụp đổ. Họ có biết bao nhiêu (tr.189) việc phải t́m hiểu mà th́ giờ chỉ có hạn, họ không thấy rằng giờ cáo chung đă đến gần.

 

Ở sứ quán, hai phái đối lập nhau. Một bên là CIA và phái bộ quân sự, lần đầu tiên, thống nhất nhận định rằng t́nh h́nh quân sự đă bi đát. Một bên, đại diện là Lehmann và nhiều quan chức cao cấp bộ ngoại giao to tiếng bác bỏ tư tưởng thất bại chủ nghĩa ấy. Họ ủng hộ nhận định: có thêm một ít vũ khí, đạn dược, quân Nam Việt Nam có thể “thoát” được! Ít nhất, quân Nam Việt Nam có thể bảo vệ được nửa phía Nam của nước này và đi đến cuộc đàm phán “công bằng” với Hà Nội. Đúng là âm vang luận thuyết thất vọng của Martin.

 

Đúng lúc ông rời Hoa Thịnh Đốn, Weyand đă biết rằng Nam Việt Nam đang nguy to. Nhưng tính chất nhiệm vụ của ông không cho phép ông có sự bi quan đến thế. Ông được cử đến Sài G̣n để t́m giải pháp không phải là không thực hiện được.

 

Ông cũng không phải là một nhà quan sát hoàn toàn khách quan. Chẳng phải ông là vị tổng tư lệnh cuối cùng ở Nam Việt Nam cho đến ngày thực hiện chính sách Việt Nam hoá và ngày ngừng bắn đó sao? Cũng như Kissinger, ông nghĩ rằng Hoa kỳ có nghĩa vụ tinh thần giúp Nam Việt Nam đứng được cho đến phút chót, vũ khí trong tay.

 

Giới thân cận Weyand bị lệ thuộc vào những cam kết trước kia, Erich Von Marbod, người chịu trách nhiệm về chính sách tài chính của Lầu Năm Góc đối với Nam Việt Nam từ ngày ngừng bắn, muốn chính sách ấy được thực hiện George, Carver, nhân viên CIA được Kissinger coi là chuyên gia chính về Việt Nam, không được chuẩn bị tư tưởng để chấp nhận rằng những chương tŕnh của Mỹ như “xây dựng đất nước” hay “b́nh định nông thôn”, lại không đi đến đâu. Đồng nghiệp của ông, Ted Shackley có những lư lẽ riêng để mong muốn sự sống c̣n của Thiệu. Là giám đốc chi nhánh CIA ở Sài G̣n cuối những năm 60 và đầu những năm 70, và từ một năm nay là giám đốc CIA ở cả khu vực Viễn Đông, ông đă bỏ nhiều công sức để làm cho chế độ Thiệu được như ngày nay.(tr.190)

 

Đi vắng nhiều tuần qua, Martin đă lạc hậu với những sự việc vừa xảy ra và dù sao ông cũng không sẵn sàng chấp nhận những điều dự tính buồn thảm của CIA và phái bộ quân sự ở Sài G̣n. Không nên quên, ông đă mất một người con ở Việt Nam và từ 18 tháng nay, ông bỏ tất cả uy tín của ḿnh ra để phục vụ chế độ Thiệu.

 

Ngoài ra, quyết định của Kissinger cử tướng Weyand đến điều tra tại chỗ là một thách thức đối với năng lực và quyền hạn của đại sứ. Martin phải tỏ rơ ông có lư để tin vào việc đứng lên được của chế độ Sài G̣n. Dù chỉ là để ngăn cản ông tướng dẫm chân lên địa hạt của ông.

 

Những cuộc đấu tranh kiên tŕ bắt đầu từ lúc máy bay chở Weyand hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhất. Lúc ông tướng và những người thân cận chuẩn bị xuống máy bay, Martin đ̣i xuống đầu tiên để những quan chức Việt Nam ra đón ông ở chân cầu thang. Điều đó làm cho họ không nghi ngờ ǵ về vai tṛ của ông, vẫn là người đại diện tổng thống Hoa Kỳ ở đây. Khi Martin về tới sứ quán, theo lệnh của Polgar, tôi đến báo cáo tóm tắt t́nh h́nh cho ông ta nghe. Tôi vào pḥng ông làm việc, đem theo sơ đồ và bản đồ hành quân, nói với ông: “Thưa ông, ông Polgar bảo tôi đến tŕnh bày t́nh h́nh với ông”. Martin sẽ gật đầu, gọi George Carver đang ngồi ở pḥng bên sang cùng nghe.

 

Martin có nghệ thuật làm điên đầu mọi nhân viên dưới quyền đến báo cáo. Lúc nào cũng sẵn sàng cắt ngang, chữa lại và thậm chí làm nhục nếu cần. Do đó, ông không chuẩn bị chấp nhận bản báo cáo xám xịt của tôi, nhất là lại có George Carver ngồi cạnh. Bản báo cáo làm ngày nào? Nguồn tin ở đâu? Ông luôn luôn hỏi như vậy. Làm sao anh chắc được rằng tướng này, tướng nọ không nắm được quân?

 

Sau một giờ, tôi mệt lả, chịu thua. Carver sau này an ủi tôi rằng tôi đă thuyết phục được Martin. Anh đă lầm. Cho đến giữa tháng tư, Martin vẫn tin rằng các lơm ở Sài G̣n có thể bảo vệ được.

 

Không riêng ǵ Polgar và tôi thấy Martin xa lạ với t́nh h́nh. Mấy giờ sau khi rời tàu HQ-5, Al Francis, mặt gầy, mắt (tr.191) dại, râu đen kịt, đến sứ quán để tường tŕnh với đại sứ cuộc rút lui thảm hại ở Đà Nẵng. Ông vừa ngồi xuống ghế dài kê ở góc pḥng Martin, vừa nói: “Thưa đại sứ, Đà Nẵng đă mất rồi. Đạo quân của tướng Trưởng không c̣n nữa!”

 

Martin tủm tỉm cười và lắc đầu. Chả là ông vừa được biết kế hoạch của Thiệu định đánh chiếm lại Quân khu I. Ông chưa sẵn sàng chịu tang cái chết của Đà Nẵng. Ông nói trầm rất khó nghe: “Không, Quân khu I sẽ không mất. Những nguồn tin của tôi khẳng định như vậy”.

 

Thái độ dịu dàng và nhă nhặn, tự tin ấy làm cho Francis bật khỏi sự dè dặt hàng ngày. Ông kêu lên: “Nhưng, thưa đại sứ, tôi vừa ở trên tàu hàng ngày trời với bọn tàn quân của Trưởng. Quân khu I đă thất thủ. Tôi cam đoan với ngài như thế”.

 

Martin ngồi yên một lúc, không nói ǵ. Ông đổi hướng nói chuyện, hỏi thăm sức khoẻ của Francis trước khi tiễn Francis ra cửa pḥng làm việc.

 

Từ đó, Francis không c̣n là đứa con cưng nữa. Tỏ sự bất đồng của ḿnh với người đỡ đầu, trong lúc bối rối này, Francis đă mất quyền được ưu tiên cộng tác với đại sứ. Sau đó, Francis phải ngồi làm việc ở một pḥng nhỏ gần cửa ra vào, không được phép vào pḥng Martin nữa.

 

Trong tám ngày bận rộn túi bụi làm việc với Weyand nhiều chuyên gia của Hoa Thịnh Đốn ngồi lỳ ở sứ quán kiểm tra lại những tin tức mà ông tướng nhận được. Trong số các chuyên gia này có hai người là bạn thân lâu ngày của tôi: Dick Moose và Chuck Miessner, đại diện Ủy ban đối ngoại thượng nghị viện. Đó là những con người liêm khiết, có học. Tôi quyết định làm mọi việc để giúp họ.

 

Tôi có may mắn gặp ngay họ lúc mới đến. Hai câu nói mở đầu làm họ chú ư. Tôi nói: “T́nh h́nh quân sự không thể đảo ngược được. Quân Nam Việt Nam sẽ thua trận quyết định trong những tuần tới, nếu quân Mỹ không nhảy vào! Phần c̣n lại sẽ nói sau”.

 

Miesser cảm ơn về sự thành thật của tôi và cho tôi biết anh và Moose sẽ gặp tôi trước khi trở về Hoa Thịnh Đốn. Đó (tr.192) là mở đầu sự cộng tác của chúng tôi, sự cộng tác mà một tuần rưỡi sau có những ảnh hưởng đến thái độ của quốc hội về cuộc khủng hoảng ở Việt Nam, đến kết luận của cuộc điều tra của Weyand.

 

Từ lúc đặt chân lên đất Sài G̣n, Weyand dành tất cả nghị lực ra để t́m một chiến thuật mới để có thể cứu Nam Việt Nam. Một thay đổi về “chiếc lược cố thủ” của Thiệu. Thoạt đầu, Thiệu định đặt pḥng tuyến bảo vệ Sài G̣n từ Tây Ninh ở phía Tây đến Nha Trang ở bờ biển. Nhưng nay, do quân thù đă thâm nhập quá sâu vào phía Nam Quân khu II, nhất thiết phải thay đổi pḥng tuyến ấy. Weyand đề nghị pḥng tuyến mới chạy từ thị xă Phan Rang, bên bờ biển, đến Xuân Lộc. V́ không c̣n giải pháp nào nên Thiệu chấp nhận ngay ư kiến ấy. Ông ta chỉ yêu cầu Mỹ một việc: cho máy bay B-52 đến tham gia việc bảo vệ Sài G̣n. Lấy làm lạ về việc Thiệu c̣n ảo tưởng có thể nhờ vào những trận ném bom của Mỹ, Von Marbod giải thích cho ông ta rơ không thể được. Nhưng để an ủi Thiệu, Marbod sẽ gửi cho quân Nam Việt Nam một số phương tiện, vũ khí có hiệu lực cao như Daisy Custer (dùng để san bằng rừng làm chỗ đổ cho máy bay lên thẳng) hay bom CBU, để tăng cường hiệu lực cho không quân.

 

Biện pháp đầu tiên của Thiệu là đặt Phan Rang dưới quyền kiểm soát của tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III. Toàn lại ra lệnh cho người bạn cũ là tướng Nguyễn Vĩnh Nghị, nguyên tư lệnh Quân khu IV (bị thải hồi mùa Thu trước v́ tham nhũng) thiết lập ở PhanRang một cơ sở chỉ huy tiền phương với một phần sư đoàn dù.

 

Tiếp đó phải thu thập tàn quân những sư đoàn đă bị đánh tơi bời ở Quân khu I và Quân khu II. Tổ chức này rất ô hợp không thể chống lại quân thù. Việc chuyên chở thiết bị quân sự gặp nhiều khó khăn. Phải nhờ phái bộ quân sự Mỹ mới thực hiện được. Nhưng việc đó sẽ bị Bắc Việt Nam tố cáo là Mỹ lại vi phạm lệnh ngưng bắn v́ đă cho cố vấn quân sự đến giúp quân Nam Việt Nam.

 

Tướng Weyand cũng đ̣i phải thay đổi chính phủ. Không phải là bỏ Thiệu (như cộng sản đ̣i) nhưng phải mở rộng nội (tr.193) các để có thể đại diện cho nhiều xu hướng chính trị trong trường hợp có đàm phám với cộng sản.

 

Sau đó, vào ngày thứ hai hay thứ ba, họ ở Sài G̣n Shackley và Carver đến dinh tổng thống để thăm ḍ phản ứng của thủ tướng Khiêm về ư kiến trên. Cũng như mọi lần, Khiêm hoan nghênh những đề nghị của Hoa Kỳ. Ông ta nhận sẽ gây ảnh hưởng với Thiệu. Nếu tổng thống phản đối, Khiêm sẽ doạ từ chức để buộc Thiệu phải chấp nhận.

 

Trong lúc đó, phong trào đối lập ở trong nước phát triển. Một ngày sau cuộc tản cư ở Nha Trang, thượng nghị viện Nam Việt Nam nhất trí thông qua một kiến nghị đ̣i thay đổi thủ tướng chính phủ. Nguyễn Cao Kỳ, nói đến cuộc đảo chính và mong giới quân sự ủng hộ.

 

Trưa ngày 2 tháng 4, Kỳ gặp Viên, tổng tham mưu trưởng, Viên xin nghĩ hai ngày, sẽ trả lời. Ngay chiều hôm ấy, Viên báo cho thủ tướng Khiêm và đề nghị Khiêm thăm ḍ người Mỹ xem có phải Hoa Thịnh Đốn đứng đằng sau âm mưu của Kỳ không. Trong giờ sau, Khiêm hỏi Polgar. Polgar trả lời không úp mở. Người Mỹ không ủng hộ một cuộc đảo chính do Kỳ và bạn bè ông ta tiến hành v́ không có ai trong bọn họ có đủ tính ôn hoà hay trung lập để có thể thương lượng với cộng sản.

 

Trong lúc ấy, Thiệu nghe nói âm mưu của Kỳ. Để đề pḥng, ông ta quyết định thay đổi chính phủ. Thiệu rất giận Khiêm, nghi Khiêm biết nhiều về âm mưu đảo chính mà không cho Thiệu biết. Do đó, chiều ngày 3 tháng 4, khi Khiêm xin từ chức, Thiệu chấp nhận ngay. Hôm sau, Thiệu báo tin trên đài vô tuyến truyền h́nh việc thay đổi chính phủ. Nguyễn Bá Cẩn, chủ tịch quốc hội kiêm thủ tướng chính phủ “chiến đấu và đoàn kết dân tộc”.

 

Các giới chính trị ở Sài G̣n thờ ơ với những thay đổi ấy v́ Thiệu tiếp tục cầm quyền. Đại sứ Martin bằng ḷng, tin rằng chính phủ mới sẽ giúp Thiệu tập hợp được chung quanh ông ta toàn thể nước này. C̣n Polgar không phải là không đồng ư v́ một trong những bộ trưởng quan trọng nhất, từ lâu, là nhân viên CIA. (tr.194)

 

Phần lớn đ̣ng nghiệp của tôi tưởng rằng những sự thay đổi ấy sẽ có thể cứu được Nam Việt Nam và thuận lợi cho cuộc đàm phán công bằng với cộng sản. Ngày 1 tháng 4, tôi quyết định kiểm tra lại luận điểm ấy qua một thông tín viên rất tin cậy. Theo anh ta, không có ǵ ngăn cản Hà Nội t́m cách giành thắng lợi hoàn toàn.

 

Buổi trưa, Shackley, Polgar và phó của ông, John Pittman cùng chúng tôi ăn cơm. Trước những con tôm hùm và rau xà lách, tôi nhắc lại ư kiến của thông tín viên. Shackley, bực ḿnh bảo tôi thảo ngay một bản tường tŕnh cuộc nói chuyện để ông đưa đến cho Weyand. Polgar tỏ vẻ nghi ngờ hơn. Ông không tin rằng cộng sản lại muốn phá huỷ tất cả trong khi đó họ có thể thương lượng giành thắng lợi mà không đổ máu.

 

Luận điểm của Polgar gây ảnh hưởng sâu sắc đến chính sách của Hoa Kỳ trong những tuần sau. Lạ lùng là luận điểm ấy không phải xuất phát từ hy vọng hăo huyền cứu Nam Việt Nam, mà trái lại. Việc rút chạy khỏi Nha Trang sẽ làm cho Polgar khẳng định rằng không c̣n cách nào để khôi phục lại t́nh h́nh quân sự. Như thế phải cố gắng ngay để đi đến một sự thoả thuận với cộng sản với bất cứ điều kiện nào. Ông quá tin vào giải pháp này là không hề nghĩ rằng ngay cả giải pháp ấy cũng không thể thực hiện được.

 

Ngoài t́nh h́nh quân sự, một yếu tố khác làm cho Polgar càng tin rằng thương lượng là con đường duy nhất. Đó là sự lo sợ gần như chắc chắn về một cuộc trả thù của dân chúng đối với kiều dân Mỹ ở Sài G̣n. Nếu cuộc tản cư những người Mỹ trở nên cần thiết th́ quân đội và dân chúng Nam Việt Nam có đứng dậy chống lại họ không.

 

Ngày 2 tháng 4, Polgar nhận được câu trả lời đáng lo ngại câu hỏi của ông. Sĩ quan Nam Việt Nam định bắt người Mỹ ở Sài G̣n làm con tin, để bảo đảm sự an ninh của họ trong trường hợp quân cộng sản chiếm thành phố. Cho rằng Thiệu không phải là người có thể tiến hành tốt cuộc đàm phán với cộng sản. Polgar quyết định đặt Hoa Thịnh Đốn trước trách nhiệm của ḿnh và không hỏi ư kiến đại sứ, Polgar bảo tôi giúp ông làm một bản báo cáo theo hướng đó. (tr.195)

 

Trong hai giờ, chúng tôi soạn xong một tài liệu, chưa bao giờ lọt ra ngoài sứ quán kẻ từ ngày ngừng bắn và có lẽ măi măi cũng không có như thế. Chúng tôi viết: “Sự tồn tại của Thiệu được tính từng ngày. Thiệu mất ḷng tin của phần lớn sĩ quan. Rất có thể có cuộc đảo chính chống lại ông ta sắp xảy ra, chưa biết chừng”. Chúng tôi không xin phép thay Thiệu. Chúng tôi chỉ phát hiện có những lực lượng thuận lợi cho cuộc thương lượng và sẵn sàng chống lại Thiệu. Tiếp theo là việc phân tích ư đồ quân sự của Hà Nội để củng cố cho lư lẽ đ̣i Thiệu phải rút lui. “Chúng tôi nghĩ rằng quân Bắc Việt Nam không định giành thắng lợi quân sự hoàn toàn. Họ bao vây Sài G̣n. Họ phá huỷ tiềm năng quân sự của Nam Việt Nam rồi đàm phán. Điều kiện của họ? Đó là việc đi đến một chính phủ liên hiệp nghiêng về phía cộng sản - cái cầu bật lư tưởng nhảy đến thống nhất, theo con mắt của Hà Nội”.

 

Tóm lại, Polgar và tôi đưa ra nhận định rằng Hà Nội chú trong giành thắng lợi qua đàm phán chứ không phải giành thắng lợi hoàn toàn bằng quân sự. Đó rơ ràng là một nhận định đầu cơ, ngược hẳn lại với tin tức tôi nhận được hôm trước của thông tín viên. Nhưng Polgar quyết định đi đến cùng. Ông cho là nếu chính phủ biết rơ ư đồ thực sự muốn thương lượng của Hà Nội, th́ chính phủ sẽ cho phép thay Thiệu, cho phép mở cuộc đàm phám với cộng sản và có nhiều biện phát triệt để khác để tránh cho Sài G̣n mọi sự uy hiếp đang đè lên thành phố này.

 

Tôi nhắc cho Polgar biết là những kết luận của ông trái với tin tức của thông tín viên gửi cho tôi là Hà Nội muốn đổ máu! Nhưng Polgar vẫn giữ ư kiến: Bắc Việt Nam nghiên về đàm phán. Một thắng lợi do đàm phán lợi nhiều cho họ hơn.

 

Sau khi đọc lại lần cuối cùng bản báo cáo, Polgar viết thêm một câu ngắn bằng bút ch́: Những khía cạnh tích cực của một giải pháp chính trị không cho phép chúng ta được quên một trong những trách nhiệm chính của chính phủ Hoa Kỳ. Đó là việc tản cư trong trật tự kiều dân Mỹ và hằng ngh́n người Việt Nam đă sẵn sàng hy sinh tính mạng bên (tr.196) cạnh chúng ta, đă tin tưởng vào những lời hứa hẹn của chúng ta và chữ kư của chúng ta dưới hiệp định Paris. Tiếp đó, ông kư vào bức điện và gửi thẳng đi Hoa Thịnh Đốn.

 

Bức điện có hiệu lực. Ngày 4 tháng 4, CIA và các bộ ngoại giao, quốc pḥng tuyên bố chung trong một thông báo. Trong khi một cuộc tiến công quân sự nhanh chóng và quyết định có lẽ đang diễn ra, chúng tôi lại nghĩ rằng Hà Nội có thể chọn một con đường đỡ tốn kém hơn và cao giá hơn về mặt chính trị hơn là tính đến sự sụp đổ sắp tới của Nam Việt Nam.

 

Nhưng vấn đề quan trọng nhất - việc Thiệu ra đi mà Polgar cố làm cho đồng nghiệp hiểu, bị rơi tơm như câu chuyện nói với người điếc. Hai ngày sau, Colby, giám đốc CIA gửi cho chúng tôi một điện tối mật. Ông nói rơ rằng chi nhánh Sài G̣n không được làm ǵ để gây cho Thiệu đổ. Những chỉ thị ấy không nói ǵ đến cuộc đảo chính v́ Colby không b́nh luận ǵ về vấn đề này, nhưng đề cập đến những xáo trộn chính trị ở Hoa Kỳ và ở nước ngoài, nếu một lần nữa, người ta lại khám phá ra việc CIA, nhúng tay vào việc lật đổ chính phủ. Colby viết: “Đó sẽ là một thảm hoạ đối với Hiến pháp và Nhà nước nếu chúng ta nhận được một bản báo cáo nào đó về sự kiện ấy”. Ông nói rơ: đối với con mắt các nhà chính trị Sài G̣n, chi nhánh phải tỏ rơ là cơ quan bảo vệ đời sống và giữ ǵn hiện trạng”. Ông kết luận: Nếu sự việc rắc rối, công việc của các anh là làm cố vấn. C̣n tôi, tôi sẽ thu xếp mọi mặt để Thiệu và gia đ́nh ông ta có thể yên ổn thoát khỏi và đến nơi mới tốt đẹp.

 

Huấn thị của Colby làm cho Polgar hết sức thất vọng. Những điều căn dặn ấy có nghĩa là nếu chính phủ Sài G̣n thay đổi theo con đường hợp pháp như hiến pháp Nam Việt Nam qui định. Từ nay đến ngày ấy, giải pháp thương lượng hay cuộc đàm phán cũng không thể có được. (tr.197)

 

THẢM KỊCH GIỮA TRỜI

 

Tháng 4 năm 1975. Tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Ở sứ quán Sài G̣n, chưa có một kế hoạch tản cư đầy đủ sát thực tế, mà là một lế hoạch tản cư làm sẵn sàng loạt từ trước đă phân phát cho tất cả các cơ quan ngoại giao Mỹ trên thế giới. Đại sứ Martin không muốn làm một kế hoạch riêng cho Sài G̣n và Việt Nam, sợ việc đó sẽ bị coi là thiếu ḷng tin vào tương lai và làm giảm sút tinh thần người Việt Nam. Trong các cơ quan của sứ quán, mỗi bộ phận chuẩn bị riêng, bí mật được đến đâu hay đến đó, một kế hoạch tản cư cho ḿnh. Người ta giấu nhau, ngay cả đồng nghiệp và người quen biết, cả với Hoa Thịnh Đốn, Honolulu, BangkokManila. Nhưng không ai chấp nhận hoàn toàn thảm hoạ cuối cùng sắp tới. Những bài học rút ra từ những sự kiện bi thảm khi thất thủ Đà Nẵng và Nha Trang, không được ai nhớ cả.

 

Nhưng những con số c̣n kia. Tổng số người Mỹ, cả quân nhân và dân thường c̣n sáu ngh́n người. Nhân viên người Việt Nam làm việc trong các cơ quan khác nhau do sứ quán chịu trách nhiệm lên đến 17.000 người. Cộng với gia đ́nh họ (mỗi gia đ́nh mười người) là 170.000 người. C̣n phải cộng thêm 93.000 người Việt Nam cộng tác lúc trước với người Mỹ và gia đ́nh họ như vậy là 930.000 người. Tổng cộng hơn một triệu người tị nạn phải đưa đi. Một nhiệm vụ hết sức nặng nề nếu so sánh với cuộc di tản năm 1954, sau chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất: Phải hơn ba tháng mới chở hết 80 vạn người.

 

Ở Chi nhánh CIA, bắt đầu nghiên cứu khả năng sử dụng người tị nạn sắp rời Việt Nam để làm t́nh báo sau này. Những người này sẽ hợp thành những mạng lưới t́nh báo sống trà trộn với nhân dân sau khi Việt Nam bị cộng sản chiếm đóng. Một tổ chức người tị nạn sẽ được thành lập ở Bangkok nhằm mục đích đo theo mẫu tổ chức của CIA đă thành lập cho những người di cư ở Đông Âu. Ngay ở Việt Nam, một quan chức CIA phụ trách phản gián cho rằng phải xây dựng tức th́ một mạng lưới tại chỗ để cung cấp cho CIA tin tức về hoạt động của chế độ cộng sản.

 

Ở Sài G̣n, t́nh cảnh bi đát của những người tị nạn sống chen chúc trong trại đón tiếp hay trong những nhà ổ chuột ở ngoại ô bắt đầu làm cho Martin suy nghĩ. Thảm kịch này có thể làm nổ ra những hoạt động chính trị sôi nổi.

 

Trước đây, Graham Martin là đại diện bộ ngoại giao bên cạnh Ủy ban tị nạn của Liên hiệp quốc. Ông biết rơ sự thất vọng của những kẻ phải ĺa bỏ quê hương. Giám đốc hăng Hàng không thế giới Ed Daly khuyên ông nên làm một việc ǵ đó đối với người tị nạn. Daly đă không tiếc tiền để tản cư những người tị nạn ở Đà Nẵng. Nhiều ngày qua, xúc động trước những đau khổ diễn ra trước mắt, ông đang t́m cách tổ chức một cầu hàng không để chở những đứa trẻ mồ côi Việt Nam sang Hoa Kỳ. Được tin ấy, Martin xin phép ngay Nhà Trắng tổ chức những chuyến bay như thế. Như trong thư gửi cho bộ trưởng Nam Việt Nam phụ trách vấn đề tị nạn, ông mong rằng cái cảnh hàng trăm em bé Việt Nam được người Mỹ nhận nuôi sẽ gây được cảm t́nh của toàn thế giới đối với người Nam Việt Nam.

 

Nhà Trắng bật đèn xanh. Và ngày 2 tháng 4, những viên chức chi nhánh cơ quan CIA báo tin mở cầu hàng không Trẻ em, một công việc “cứu giúp từ thiện” để hai ngh́n em bé Việt Nam trở thành con nuôi ở Hoa Kỳ. Việc này đă được một luật mới về nhập cư cho phép.

 

Về mặt nào đó, cầu hàng không Trẻ em là một mưu đồ. Trong số những em được hưởng, rất ít em là người tị nạn. Phần lớn là những trẻ em sống buồn tủi hàng năm nay trong trại mồ côi ở Sài g̣n và chưa hề bị cuộc tiến công của cộng sản đe doạ. Nhưng sứ quán không đếm xỉa ǵ đến chi tiết nhỏ nhặt ấy. Công việc này tốt, nó được tiến hành đúng hướng.

 

Tướng Smith, tuỳ viên quân sự tỏ ra đặc biệt vui. V́ ông hiểu nhanh rằng ông sẽ lợi như thế nào trong việc tản cư trẻ em mồ côi. Đó là một dịp rất tốt để cho về Hoa Kỳ (tr.199) một số đông nhân viên của phái bộ quân sự sẽ cải trang đóng giả làm nữ y tá, người giặt giũ. Chỉ sau mấy giờ Hoa Thịnh Đốn chấp nhận, ông đă ra lệnh cho các bà vợ, các nữ thư kư chuẩn bị lên đường.

 

Trong khi đó, chiến tranh đến cửa ngơ Sài G̣n như một làn sóng. Trong những ngày đầu tháng tư, ba sư đoàn Bắc Việt Nam đă thâm nhập sâu vào tỉnh Tây Ninh, giữ đường tiến về thủ đô ở phía Nam. Ngày 3 tháng 4, sư đoàn 341 Bắc Việt Nam, đánh chiếm Chơn Thành, cách Sài G̣n 70 kilômét về phía Bắc, vị trí tiền tiêu cuối cùng của quân đội Sài G̣n ở vùng này.

 

Khi tin ấy về tới thủ đô, kiều dân phương Tây nóng ḷng muốn đi du lịch ngay. Chỉ một đêm, số người giữ chỗ trên chuyến máy bay quốc tế, một tuần hai kỳ, của hăng Pan Am tăng gấp hai lần. Hăng hàng không China Airlines không c̣n chỗ cho đến ngày 9 tháng 4. Phần lớn sáu trăm người trong ủy ban kiểm soát, giám sát quốc tế chuẩn bị hành lư.

 

Đại sứ Martin t́m cách ổn định t́nh h́nh này. Ông nói với một nhà báo ngày 3 tháng 4: “Sài G̣n không có ǵ nguy hiểm”. Nhưng nhận định của ông đă làm nhiều người Sài G̣n và nhiều người Mỹ tức giận. Các cơ quan t́nh báo của bộ tổng tư lệnh của đô đốc Gayler ở Honolulu, cùng ngày ấy đă gửi điện cho Lầu Năm Góc, phủ nhận những ư kiến của Martin cho rằng Sài G̣n là vùng phụ cận có thể bảo vệ được.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, các viên chức bộ ngoại giao tuy nhiên, cũng đă đ̣i có một chương tŕnh rộng lớn tản cư để cứu ít nhất khoảng hai trăm ngh́n người Việt Nam. Sau khi Nha Trang thất thủ, họ đạt được nhượng bộ đầu tiên: thành lập một “lực lượng can thiệp” để điều hoà các kế hoạch tản cư những cơ quan thuộc bộ.

 

Về phía ḿnh, Nhà Trắng tránh bất cứ b́nh luận trực tiếp nào về cuộc khủng hoảng Đông Dương. Nhưng những trận tiến công mở rộng. Ngày 3 tháng 4, tổng thống Ford đang (tr.200) nghỉ hè ở Palm Springs. Không im tiếng nữa, ông tuyên bố với các nhà báo: Thiệu vội vàng rút lui khỏi Tây Nguyên nên việc tản cư sáu ngh́n người Mỹ ở Việt Nam đă được đề ra. Nói đến một trong những vấn đề hắc búa, ông cũng giải thích rằng, theo sự hiểu biết của ông về đạo luật qui định quyền hạn của tổng thống trong chiến tranh, ông được phép dùng lực lượng vũ trang để giúp vào việc tản cư công dân Mỹ ở bất cứ vùng nào trên thế giới.

 

Những ư kiến của ông về điểm này không có cơ sở. Thật vậy, ngoài t́nh h́nh bi đát ở vùng phụ cận Sài G̣n, chính phủ c̣n phải lo đối phó với thảm họa sắp xảy ra ở Campuchia. T́nh h́nh quân sự ở Phnôm Pênh tồi tệ hết mức trong những ngày qua. Nhà Trắng cuối cùng đă phải quyết định bắt đầu tản cư kiều dân Mỹ ở đây.

 

Sáng ngày 4 tháng 4, đại sứ Dean họp tất cả các nhân viên thông báo quyết định này. Ông nói cuộc tản cư tất cả những người Mỹ ở Campuchia hai ngày nữa bắt đầu. Quyết định ấy, đối với Dean, là một thắng lợi riêng của ông. Bởi v́ tính đă nhiều ngày qua, ông đề nghị Hoa Thịnh Đốn không được hy sinh tính mạng người Mỹ, trong khi đó những cuộc bàn căi về một thỏa hiệp chính trị tiếp diễn.

 

Nhưng ông không nhận được ngay sự thoả thuận. Mấy giờ sau, Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cho ông hoăn cuộc tản cư cuối cùng. Đến phút chót, Kissinger mới quyết định sự có mặt của người Mỹ ở Phnôm Pênh là cần thiết. Nó giữ vai tṛ thăng bằng trong khi Kissinger cố thương lượng một thoả hiệp với Sihanouk và những kẻ bảo trợ ông ta là người Trung Quốc.

 

Trưa ngày 4 tháng 4, chung quanh ngôi nhà của phái bộ quân sự Mỹ ở Sài G̣n, có một sự náo nhiệt đặc biệt. Nhiều thợ mộc và thợ khác đă hạ cánh cửa, lấy béc ga để chuẩn bị cho một trung tâm tiếp đón người tị nạn.

 

Buổi sáng hôm ấy, một Galaxy C-5A của không quân, máy bay vận tải lớn nhất thế giới, hạ cánh. Đó là máy bay chở vật liệu chiến tranh cho quân đội Sài G̣n. Trong khi người ta chở hàng, nhân viên phái bộ quân sự tập hợp 243 (tr.201) trẻ mồ côi. Các em được máy bay này chở ngay đi Philippines cùng với 44 nhân viên phái bộ quân sự và một số người Mỹ khác. Đó là chuyến bay đầu tiên của cầu hàng không Trẻ em. Việc xảy ra mấy giờ sau đó, in sâu măi măi vào trí nhớ những người được chứng kiến chuyến báy này.

 

Chiếc phi cơ vận tải khổng lồ C-5A chở 243 trẻ em và một số người lớn, rời Sài G̣n, đang bay ra bờ biển, chợt người lái trông thấy ánh sáng đỏ nhấp nháy trên bảng, báo hiệu một cửa bị hỏng. Anh báo tin cho trạm kiểm soát sân bay, máy bay sẽ quay lại. Nó đang hạ xuống cánh đường băng, một tiếng nổ vang dội. Một phần máy bay bị phá huỷ, làm cho cabin bên trong thiếu không khí. Phần lớn 50 trẻ em và người lớn ngồi trong đó chết ngay v́ ngạt thở, một số bị hất tung ra ngoài, qua cửa không đóng được. Máy bay bị nạn rơi xuống và trượt xa tám trăm mét đến một phía thửa ruộng phía Nam Tân Sơn Nhất. Cần dưới bị găy, nước tràn vào. Phần lớn những người thoát chết lúc máy bay nổ và rơi nay lại bị chết đuối.

 

Máy bay lên thẳng của hàng Hàng không Mỹ đến ngay, chở những người sống sót và hấp hối về trạm cứu thương đặt trên đường băng. Một nữ nhân viên CIA ra tiễn các em tả lại: không thể biết chắc được những em đưa từ máy bay lên thẳng sang trạm cứu thương c̣n sống hay chết. Hầu hết đều phủ đầy bùn từ đầu tới chân. Măi đến lúc đưa các em từ trạm cứu thương đến bệnh viện mới phân biệt được đứa sống, đứa chết. Các nữ y tá đặt các em dưới ṿi nước hoa sen, rửa người các em rồi nói: “em này c̣n sống, em này đă chết”. Một lát sau được mấy người Mỹ giúp đỡ, tôi xếp các em c̣n sống lên xe gíp và xe hơi đem trả các em về các trại mồ côi. Nhiều em sợ quá không c̣n khóc được nữa; nhiều em khác giống như những giẻ rách trong tay chúng tôi.

 

Tai nạn làm mọi người xúc động. Những người trong chúng tôi ở lại pḥng làm việc của CIA buổi chiều và buổi tối hôm ấy, đều buồn rầu, lặng lặng ngồi nghe đọc tên theo thứ tự A,B,C những người Mỹ chết từ sân bay Tân Sơn Nhất gọi về. Con số người chết lên đến mức làm cho tai nạn này trở thành tại nạn máy bay lớn thứ hai trong lịch sử ngành hàng không. (tr.202) Hơn hai trăm trẻ em qua đời! Sống sót có một người, c̣n tất cả nữ nhân viên của phái bộ quân sự đều bỏ mạng. Và những cái chết ấy là do một cái cửa không được đóng kín. Nếu một chuyến bay tổ chức vội vàng gây ra tai nạn tầy đ́nh như thế này th́ một cầu hàng không khổng lồ, tổ chức trong thời chiến sẽ nguy hiểm biết chừng nào!

 

Tướng Smith rất đau buồn về thảm kịch này. Chính ông là người thiết tha yêu cầu cho nữ nhân viên người Mỹ đi với các em. Nhưng ông từ chối không chịu bỏ nhiệm vụ đă ấn định. Hôm sau, trong lúc những kíp của phái bộ quân sự bới t́m xác chết giữa những đống sắt thép của máy bay, ông lại cho hàng trăm trẻ mồ côi và những nhân viên không cần thiết lắm lên những máy bay vận tải khác để tiếp tục di tản.

 

Đại sứ Martin không c̣n biết làm ǵ để có thể ổn định được tinh thần của nhân viên sứ quán về tai nạn xảy ra. Alan Carter, phụ trách cơ quan thông tin Mỹ, là người được ông giao việc đầu tiên. Hôm sau ngày xảy ra tai nạn, Carter viết một điện gửi Hoa Thịnh Đốn để báo tin: lộn xộn ngày càng lớn, ở Sài G̣n sắp dẫn tới hoảng hoạn. Đọc bản sao bức điện ấy, Martin nổi giận, ông hét vào mặt Carter: “Ở đây không có hoảng loạn! Chúng ta phải làm mọi cái để không gây hoảng sợ cho Hoa Thịnh Đốn”. Ông nói thêm: “Nếu Hoa Thịnh Đốn hỏi tôi trước khi cho sử dụng chiếc máy bay C-5A này, th́ tôi không cho phép. Và những trẻ em đó sẽ vẫn c̣n sống”. Carter muốn nôn mửa khi đi từ pḥng Martin ra. Đầu ông ta bối rối. Sao đại sứ lại khốn nạn thế, không những để trút trách nhiệm của ḿnh về tai nạn này mà c̣n làm cho mọi người hiểu rằng chính những người như Carter, vội vàng, hấp tấp, cho là t́nh trạng đă khẩn cấp, phải chịu trách nhiệm về cái chết của các em! Từ đó, giám đốc cơ quan thông tin chỉ gọi dây nói thẳng cho Hoa Thịnh Đốn để trao đổi t́nh h́nh Anh không đếm xỉa đến phép tắc của đại sứ. (tr.203)

 

NÉM BOM

 

 

Sau ngày máy bay C-5A bị tai nạn, tướng Weyand và êkíp của ông đến Palm Springs, bang California để tường tŕnh với tổng thống Ford và Henry Kissinger về cuộc khủng hoảng ở Đông Dương. Bản báo cáo của ông bao gồm một phần trích những nhận định của tôi về t́nh h́nh quân sự. Phần này nêu rơ sự chênh lệch ghê gớm giữa hai lực lượng và khả năng một cuộc thất bại quân sự của Sài G̣n.

 

Ngoài ra, bản báo cáo tập hợp những điều b́nh thường và chung chung. Các tác giả công nhận những cuộc thất trận mới đây đă làm suy yếu cơ cấu xă hội và chính trị của nước này và viết thêm: rất khó đánh giá suy yếu đến mức nào. Họ cũng không vạch rơ ư đồ của Bắc Việt Nam. Họ viết: quân cộng sản có hai khả năng: chinh phục bằng quân sự hoặc củng cố thành quả mới đạt rồi thương lượng thoả hiệp nửa vời. Họ cũng không muốn dự đoán Hà Nội sẽ chọn khả năng nào, mà cho rằng bản thân Bộ Chính trị Bắc Việt Nam cũng có th́ giờ để tiêu hoá những sự kiện xảy ra trong những tuần trước, cả những thắng lợi trong mấy ngày tới đây.

 

Tránh né những vấn đề quan trọng này, Weyand và đồng nghiệp ông được tự do bảo vệ chính sách của chính phủ. Họ hiểu rằng ngay cả bản thân Kissinger cũng muốn viện trợ ồ ạt thêm cho Nam Việt Nam để Hoa Kỳ khỏi bị buộc phải chịu trách nhiệm về sự thất thủ Sài G̣n, nếu chuyện ấy xảy ra. Thật vậy, Weyand đă xin viện trợ quân sự khẩn cấp bảy trăm hai mươi hai triệu đôla.

 

Họ cố bảo vệ cho sự rộng răi ấu bằng những luận điểm của Kissinger. Họ viết: “Các chính phủ trên toàn thế giới đều nhớ đến quá khứ, nhưng chắc chắn, họ sẽ đánh giá việc Hoa Kỳ không giúp đỡ Việt Nam lúc này là sự phá sản của ư chí và tính quyết định của người Mỹ. Việc duy tŕ uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới phụ thuộc vào những nỗ lực của chúng ta chớ không phải vào một thắng lợi hay thất bại nào. (tr.204)

 

Họ c̣n cho rằng tiền sẽ nâng cao tinh thần Nam Việt Nam nên sau khi tŕnh bày những ư kiến nói trên, họ nói thêm: Tiền sẽ khôi phục được hiệu lực của quân đội, tiền ấy cần có ngay để đáp ứng những nhu cầu quân sự cơ bản, để Việt Nam Cộng Ḥa có thể chiến đấu ngang sức cho sự sống c̣n của ḿnh.

 

Trong một bản tường tŕnh, Weyand và đồng nghiệp ông có nêu lên vấn đề tế nhị là vấn đề di tản. Họ viết: “Một sự can thiệp ồ ạt của lực lượng Hoa Kỳ có không quân chiến thuật yểm hộ, rất cần để bảo đảm cho việc tản cư sáu ngh́n người Mỹ, hàng chục ngh́n người Việt Nam và dân nước Việt Nam thứ ba, đối với những người này, chúng ta có một cái nợ phải trả. Tuy nhiên, họ không đi đến mức yêu cầu một cuộc tản cư khẩn cấp cũng như không nói rằng việc giảm bớt sự có mặt của người Mỹ ở Sài G̣n sẽ được thực hiện song song với việc giúp đỡ tài chính. Họ chỉ nói đến việc tản cư như là một dự kiến, chỉ được tổ chức trong trường hợp quốc hội không cung cấp 722 triệu đôla.

 

Chính phủ chấp nhận ư kiến của họ, chỉ bàn vấn đề di tản khi cuộc thảo luận về vấn đề viện trợ cho Việt Nam ngă ngũ. Có nghĩa là, những người Mỹ ở Việt Nam gần như trở thành những con tin chỉ được thả ra khi có đủ 722 triệu đôla, số tiền, như Weyand nói, may ra chỉ có thể giúp Sài G̣n tồn tại mà thôi.

 

Cuộc gặp mặt giữa Weyand và tổng thống Ford kéo dài 90 phút. Kissinger đă đọc bản báo cáo khi ông ngồi bên cạnh Shackley, Carver, Von Marbod và tổng thống.

 

V́ quan điểm của họ giống như quan điểm của ông ta, nên Kissinger không gặp khó khăn ǵ để ủng hộ. Cũng như họ, ông nghĩ rằng t́nh h́nh quân sự có thể cứu văn được, cứu văn một cách chắc chắn. Muốn thế, viện trợ cho Nam Việt Nam phải rơ ràng, dù chỉ là để bảo vệ uy tín của người Mỹ ở nước ngoài Kissinger tuyên bố với các nhà báo sau buổi gặp Weyand: “Hoa Kỳ đứng trước một vấn đề đạo lư. Việc cần biết là một đồng minh đă hợp tác với chúng ta mười năm nay muốn tự bảo vệ một ḿnh, th́ Hoa Kỳ có quyết định đ́nh chỉ việc cung cấp phương tiện chiến tranh hay không?”. (tr.205)

 

Trong khi có những cuộc thảo luận ấy, th́ người duy nhất trong chính phủ có thể phản đối có hiệu quả những luận điểm của Kissinger và những ư kiến của Weyand, lại ở Hoa Thịnh Đốn để chữa những vết thương của ḷng tự ái. Đó là bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger. Một lần nữa, ông bị loại ra khỏi hàng ngũ cố vấn thân cận của tổng thống. Chủ nghĩa tiêu cực của Schlesinger là một trong những nguyên nhân khiến Kissinger đẩy ông ta.

 

Một mặt, bộ trưởng quốc pḥng nghi ngờ sự lạc quan của Weyand, mặt khác, ông phản đối kịch liệt mọi viện trợ mới cho Sài G̣n. Ông cho rằng uy tín của người Mỹ cũng như nhu cầu của Sài G̣n đă được viện trợ bổ sung 322 triệu đôla cung cấp hai tháng trước đây, bảo vệ và thoả măn. Mọi sự giúp đỡ quan trọng khác đều là lăng phí và không đi đến đâu cả. Nhất là ông nghĩ rằng Nam Việt Nam không thể nào có hy vọng thoát khỏi t́nh trạng hiện nay.

 

Kissinger chống lại dữ dội quan điểm của Schlesinger. Ông cho rằng không thể coi thường sự sống c̣n của Sài G̣n, v́ đó là h́nh ảnh cao quí của người Mỹ trên thế giới. Kissinger tin rằng viện trợ tối thiểu 722 triệu đôla là đủ để Nam Việt Nam chấp nhận việc tản cư người Mỹ, nên việc đó cần làm. Sau này, ông giải thích với quốc hội: “Mục tiêu của chúng tôi là thiết lập một thế quân sự ngang bằng, nếu việc đó thất bại và đi đến chỗ bi đát th́ viện trợ 722 triệu đôla sẽ là phương tiện có hiệu quả làm cho Nam Việt nam bằng ḷng cho di tản người Mỹ và người Việt Nam mà chúng ta chịu trách nhiệm về tinh thần. Nói khác đi, Kissinger cho là nếu cần phải trả tiền chuộc để đổi lấy tính mạng những người Mỹ ở Sài G̣n th́ số tiền ấy phải khá”.

 

Ở Sài G̣n, chúng tôi đang đứng trước cảnh hấp hối của Nam Việt Nam. Trong ba tuần qua, từ ngày bỏ Pleiku, hơn sáu trăm bản báo cáo gửi tới CIA. Lúc ấy cứ hai ngày tôi làm một bản tường tŕnh công việc, một kỷ lục chưa từng có. Mười người trong ê kíp phân tích tin của phái bộ quân sự và hầu hết bạn đồng nghiệp của tôi ở bộ ngoại giao đều làm việc với nhịp độ ấy. Không c̣n giải trí ở tất cả các cơ quan của sứ quán (tr.206). Không c̣n ai ngoài bể bơi. Sau này, nhiều vợ viên chức ở sứ quán nói với tôi: họ biết ngày kết thúc sắp đến, ngày có một biển ghi: Mike, huấn luyện viên bơi lội, đă bị thải hồi v́ không c̣n người học bơi nữa!

 

Chúng tôi cũng khám phá ra rằng chúng tôi có nhiều bạn Việt Nam hơn là chúng tôi tưởng. Họ đến hỏi vào bất cứ giờ nào. Họ đứng ngay ngưỡng cửa, trong đêm để không bỏ lỡ một chỗ trống trong những chuyến máy bay lên thẳng đến bất ngờ.

 

Tôi có trên lưng một việc riêng. Tư Hà, là một nữ chiêu đăi viên “được cải tạo” ở ba Mimi. Hai mươi mốt tuổi, chân ngắn. Hợp tác lâu ngày với người Mỹ, cô sợ bị đứng đầu trong danh sách những người phải hạ sát của cộng sản. Ngớ ngẩn! Anh cho là như thế ư! Thật ra: lúc ấy, không ai phân biệt được cái ǵ ngớ ngẩn, cái ǵ không. Người giúp việc tôi đi từ sáng sớm, tôi để Tư Hà trong những làm những việc lặt vặt và thổi cơm chiều. Thêm một gánh nặng phải mang. Ngày 7 tháng 4, tôi ghi trong sổ tay: mọi người đều thiếu ngủ, buồn man mác. Thức dậy bất th́nh ĺnh vào ba giờ sáng v́ tiếng đại bác nổ đằng xa. Tiếp đó là tiếng xích sắt chiến xa chạy ngoài đường báo hiệu dinh Độc Lập bị chiếm, một cuộc đảo chính chăng?

 

Pat Johnson hôm qua nêu ra ư kiến có thể chúng tôi không thể vượt qua thử thách này và lần đầu tiên, tôi thông cảm với người Việt Nam. Pat và Bill, chồng bà đă kư giao kèo với nhau: Nếu quân Bắc Việt Nam chiếm thành phố mà họ không chạy trốn được th́ chồng sẽ bắn một phát đạn 38 vào gáy vợ rồi quay súng lại bắn vào ḿnh.

 

Mỗi ngày, người xếp hàng trước lănh sự quán càng dài thêm. Nhưng ở sứ quán, tiếp tục coi là không có chuyện ǵ thay đổi cả. H́nh như, tiếng súng gầm ở ngoại ô chỉ là báo hiệu cơn giông mùa Xuân!

 

Mặc dù có truyền thống b́nh tĩnh, hầu hết các nhân viên hai giới ở CIA đều lo ngại. Nữ thư kư có vẻ b́nh tĩnh hơn đồng nghiệp nam giới. Họ nói ít về sự nguy hiểm, công nhận sẽ có nhiều tai biến nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Nam giới tỏ ra quyết tâm đối phó với thử thách. Họ nói năng với một vẻ quan trọng, trao đổi vũ khí vừa kể cho nhau nghe những (tr.207) chuyện chiến tranh, vừa vỗ vào lưng nhau đồm độp ,vừa ngậm những viên valium và uống cốc tai ngay từ trưa.

 

Cuối tuần thứ nhất tháng tư, một số bạn và đồng nghiệp tôi phản kháng: có hai sự thật, một cái họ thấy và một cái do đại sứ và quan chức cao cấp t́m cách bắt họ phải chấp nhận qua những tin tức có vẻ tốt lành. Ngay cả sau tai hoạ của máy bay C-5A, đại biểu lâm thời Lehmann c̣n cố t́nh tuyên bố trước một nhóm nhà kinh doanh Mỹ rằng không có ǵ phải sợ cho Sài G̣n. Ông nói: “Thành phố cũng vững chắc như đồng đôla Mỹ. Các ông cứ đầu tư vào!”

 

Ngay Polgar cũng giúp vào việc củng cố ảo tưởng ấy, mặc dù lư lẽ ông đưa ra khác lư lẽ của Lehmann. Ít lâu sau tai họa máy bay C-5A, ông yêu cầu những người giúp việc không nói trước vợ, con hay thư kư t́nh h́nh quân sự bi đát. Ông ra lệnh cho Pat và Jeo bắt đầu chuẩn bị bản tường tŕnh t́nh h́nh hàng ngày, trong đó đương nhiên là đánh giá thấp sự uy hiếp của cộng sản và đề cao lực lượng của chính phủ. những tin tức ấy sai khi được sửa đi sửa lại, được điện cho tất cả các sứ quán trên thế giới với hy vọng khơi lên những bài b́nh luận ủng hộ sự sống c̣n của Sài G̣n trong giới báo chí quốc tế và ở quốc hội.

 

Nhưng những nỗ lực ấy không được trả giá, nhất là ở cơ quan CIA, ở đây nhận được quá nhiều tin tức bi quan, Polgar không thể giấu giếm được. Thêm nữa, người ta lại biết, ngày 7 hay 8 tháng 4, ông đă gửi về Mỹ không những hành lư riền và cả hành lư của vợ nữa. Người ta nói: Polgar làm như thế có nghĩa là t́nh h́nh nghiêm trọng hơn điều ông nói.

 

Những ngày sau, Pat, Jeo và tôi làm mọi cái để các bạn và người thân của chúng tôi có thể hiểu rơ cái ǵ sẽ xảy ra. Thỉnh thoảng, một trong ba chúng tôi lại tạt vào một pḥng giấy trỗng rỗng để báo cho một anh bạn sự phát triển của t́nh h́nh quân sự. Tôi phân phát cho đồng nghiệp tôi bản sao bản báo cáo mới nhất. Chúng rất được hoan nghênh mặc dù không được phép luân chuyển chúng.

 

Trước b́nh minh ngày 8 tháng 4, chiến tranh nổ ra bất ngờ chung quanh Sài g̣n. Lực lượng cộng sản bắn phá một huyện lỵ phía Nam Biên Hoà (tr.208), đặc công tiến công trường sĩ quan phía Đông. Liên tiếp ba ngày liền, ở phía Bắc đồng bằng, nhiều đơn vị thuộc ba sư đoàn Bắc Việt Nam đánh phá quốc lộ số 4 và cắt đường này một thời gian ở cách Sài G̣n 25 kilômét về phía Nam.

 

Tôi đến sứ quán lúc 6 giờ sáng, như mọi ngày. Tôi liếc đọc những bản tường tŕnh đầu tiên và tự hỏi thủ đô c̣n đứng được bao lâu nữa.

 

Gần hai giờ sau, câu trả lời đă đến. Tôi đang gọi một người bạn ở cơ quan USAID để nói về những sự kiến tản cư. Tôi vừa nói hết một câu th́ tiếng động cơ phản lực ầm vang xé tường của sứ quán như một cơn sóng dữ. Một tiếng nổ dữ dội làm rung cửa kính gắn plastique. Anh bạn tôi hét lên hỏi ở đầu dây nói: Trời ơi, cái ǵ thế? Tôi bỏ rời ống nghe không trả lời. Tôi cắm cúi sau bàn t́m khẩu súng 45 trong cặp. Một lúc sau, cầm vũ khí trong tay, tôi chạy qua hành lang đến pḥng Polgar. Tôi thấy ông đứng trước cửa sổ, cố nh́n xem cái ǵ xảy ra qua những ô cửa nhỏ của tường bảo vệ bằng bê tông. Ông nói nhỏ, giọng đanh: “H́nh như có người ném bom dinh tổng thống. Anh thử trèo lên nóc nhà xem thiệt hại thế nào”.

 

Dinh tổng thống ở đầu đường Thống Nhất, ở sứ quán dễ trông thấy. Thật ra, mái nhà trụ sở chúng tôi là nơi cuối cùng tôi muốn lên lúc bây giờ, nhưng lệnh là lệnh; là người dưới phải tuân lệnh, tôi đi ngay đến cầu thang trong nhà để làm cái việc mà Polgar bảo tôi làm.

 

Khi đặt chân lên mái nhà, tôi trông thấy một cột khói bốc cao ở một góc dinh Độc Lập, cách chỗ tôi 1500 mét. Nhiều người trèo lên theo tôi. Thư kư và các nhân viên trong sứ quán đều nhanh nhẹn muốn chứng kiến cảnh vừa xảy ra. Một người kêu lên: “một máy bay phản lực A-37 bay lượn ba lần và ném trúng dinh trong lần bay cuối cùng”. Tôi nghe lơm bơm rồi căng mắt nh́n lên bầu trời buổi sáng, về phía Đông, nơi máy bay đến. Tôi t́m một chấm đen trong ánh sáng, lắng nghe tiếng kêu báo hiệu máy bay trở lại. Không có ǵ. Chấm đen (tr.209) biến mất. Yên lặng tràn ngập cả phố. Tiếp đó là tiếng kêu ồ ồ, tiếng c̣i rối rít. Mọi người đă dứng dậy, ra khỏi nơi trú ẩn.

 

Khi tôi trở lại pḥng làm việc của Polgar, ông đang ngồi trước máy chữ, làm một bản báo cáo gửi về Hoa Thịnh Đốn. Ông ngừng lại, nghe dây nói. Một thông tín viên gọi ông từ dịnh Độc Lập. Một người không quan trọng lắm bị thương. Thiệu không việc ǵ.

 

Một lúc sau, một nữ thư kư chạy tới, đem đến một báo cáo của một nhân viên t́nh báo, từ hôm qua đă nằm trong ḥm tin. Báo cáo cho biết chiều hôm ấy, người chỉ huy phi đội thứ 23 ở Tân Sơn Nhất nói chuyện với hai sĩ quan, vụ họ ném bom dinh Độc Lập. Nhân viên t́nh báo cho là người chỉ huy này hành động theo lệnh của tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ.

 

Tướng Times được cử ngay đi gặp Kỳ ở Tân Sơn Nhất để kiểm tra lại. Tướng Kỳ nói không biết ǵ về việc ném bom cả. Buổi chiều, đài phát thanh giải phóng, đài bí mật của cộng sản tuyên bố một sĩ quan không quân Nam Việt Nam, tên là Nguyễn Thành Trung là người ném bom. Theo đài này, đă từ lâu, Trung là một cán bộ cộng sản và chuẩn bị việc này mấy tháng nay. Nhưng những thông tín viên của CIA lại giải thích một cách khác. Theo họ, Trung chỉ là một phi công đang say rượu, muốn làm vừa ḷng Kỳ. Kỳ không biết ǵ cả và không tán thành việc này.

 

Sự thất thế nào không biết nhưng có một điểm tôi thấy rơ là Sài g̣n có thể bị ném bom. Mặc dù có nhiều súng pḥng không, nhiều hệ thống báo động do người Mỹ sắp đặt ở khắp nơi, chính phủ cũng bất lực không thể ngăn cản được phi công bay vào không phận thành phố và hoàn thành nhiệm vụ.

 

Ḷng kiêu hănh của sứ quán bị động chạm. Rơ ràng là ít người trong chúng ta biết cách đối xử trước một trận tiến công trực tiếp như thế.

 

Alan Carter, phụ trách cơ quan thông tin, cho là tai hoạ này đặc biệt khiếp đảm. Ngay sau khi máy bay bay đi, ông đề nghị tất cả các cơ quan hành chính trong sứ quán cho biết kế hoạch đối phó. Các pḥng làm việc của cơ quan thông tin nằm gần dinh Độc Lập, (tr.210) ông có kư do chính đáng để lo ngại. một nhân viên sơ cấp vội vàng trả lời Carter: “Ông hăy dùng trí tuệ của ông”. Carter nổi giận thét lên: “Đồ khốn khiếp, tôi dùng trí tuệ của tôi thế nào được nếu tôi không biết cái ǵ đang xảy ra! Ở đây chúng ta cần những lời khuyên”.

 

Hôm sau, đặt một đài radiô mới trong pḥng làm việc của cơ quan thông tin để Carter có thể nói chuyện với sứ quán trong những trường hợp khẩn cấp. Đó là câu trả lời duy nhất cho yêu cầu của Carter. Ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, Carter và các nhân viên của ông lại bị bỏ rơi một lần nữa. Người ta đă quên họ!

 

Trong khi Sài G̣n đang phục hồi sau trận đánh đầu tiên ấy, các bạn đồng nghiệp của chúng tôi ở Phnôm Pênh, cách Sài G̣n một giờ bay, đang chờ đ̣n cuối cùng. Ngày 8 tháng 4, chỉ c̣n 58 nhân viên người Mỹ ở thủ đô Campuchia và 35 nhà ngoại giao nước ngoài. Phần lớn đă chuẩn bị. Hôm trước, đại sứ Dean yêu cầu ba trăm nhân viên giúp việc tản cư nhưng rất ít người chấp nhận. Người theo đạo Phật tiểu thừa (đạo thịnh hành ở Campuchia), rất sợ chết tha hương.

 

Trong khi đó, quân Khmer đỏ ngày càng tiến gần đến thành phố! Chiều ngày 8 tháng 4, họ chiếm vị trí tiền tiêu của chính phủ cách sân bay 6 kilômét. Họ liên tục bắn phá sân bay. Nhưng trung tâm thủ đô chưa việc ǵ.

 

RỌI ĐÈN CHIẾU

 

Trận ném bom dinh Độc Lập sáng ngày 8 tháng 4 buộc tôi phải bỏ buổi nói chuyện về t́nh h́nh quân sự thường được tổ chức hàng tuần cho đoàn ngoại giao và nhân viên cao cấp của Martin nghe. Sau này, tôi cũng không phải nói nữa. Một phần do Polgar sợ làm cho cấp trên lo ngại, nhưng cái chính (tr.211) là Martin và Polgar quá tin rằng đàm phán là ch́a khoá của tương lai. Do đó cần ǵ phải nói đến hoạt động quân sự!

 

Hai người đều đi đến kết luận ấy nhưng xuất phát từ quan điểm khác nhau. Sự bi quan về t́nh h́nh quân sự làm cho Polgar nghĩ đến giải pháp chính trị là giải pháp duy nhất có thể cứu Sài G̣n. C̣n Martin nghiêng về phía thương lượng v́ ông tin rằng chính phủ Thiệu ở thế mạnh. Polgar sẵn sàng gạt Thiệu để có đàm phán. Martin cho rằng chính phủ phải được bảo vệ, củng cố để bước vài thảo luận chính trị. Hai quan điểm khác nhau ấu chẳng mấy chốc gây nên sự bất hoà giữa hai người.

 

Hy vọng chung của họ về một giải pháp chính trị dựa trên cơ sở mỏng manh. Ngày 2 tháng 4, có tin bộ trưởng ngoại giao chính phủ Cách mạng lâm thời nói: chính phủ Cách mạng sẵn sàng nói chuyện với Sài G̣n với điều kiện Thiệu rút lui. Nhiều người phát ngôn của chính phủ ở Stockholm và nhiều nơi khác ở châu Âu cũng nhắc lại đề nghị ấy.

 

Nhưng những tin tức trên chỉ được tung ra và chưa được kiểm tra kỹ.

 

Ngày 7 tháng 4, Khiêm thủ tướng vừa từ chức, gặp thủ tướng Trần Văn Đôn mới thay ông ta, nói về việc buộc Thiệu từ chức để cứu nước. Không cần phải thuyết phục Đôn. Bản chất Đôn là một tên đầu cơ, thói quen của ông ta là lật đổ. Đôn đă chuẩn bị lật Thiệu nếu có sự can thiệp của bên ngoài. Ngày 1 tháng 4, Đôn dừng chân ở Paris sau khi nghỉ hè ở nước ngoài. Ông gặp đại diện của thủ tướng Pháp, Jacques Chirac, xin tiếp kiến. Như Đôn thuật lại, trong cuộc gặp mặt này, Chirac bảo ông ta: Nam Việt Nam không c̣n nữa. “Ba cường quốc” đă thoả thuận là Sài G̣n trở về với Hà Nội. Bắc Việt Nam sẵn ḷng chấp nhận giải pháp ấy, với điều kiện là mọi việc được giải quyết xong trong tám ngày qua sự trung gian của người Pháp. Trước khi rời Paris, Đôn lấy danh nghĩ cá nhân, gặp đoàn đại biểu chính phủ Cách mạng lâm thời và hoàng đế Bảo Đại đang sống lưu vong mà nhiều người muốn sử dụng làm môi giới giữa hai kẻ thù. Một vài ngày sau khi trở về Sài G̣n, Đôn đề nghị với một người bạn cũ cho tiếp xúc bí mật với đại diện cộng sản ở địa phương (tr.212). Sau đó, thuật lại với Thiệu những điều Chirac nói với ông ta.

 

Lẽ dĩ nhiên, Thiệu phớt lờ và cho rằng người pháp nói dối. Sau đó, chiều ngày 5 tháng 4, Đôn nhận được điện thoại từ pḥng làm việc của Chirac ở Paris, nhắc cho ông ta biết chỉ c̣n ba ngày nữa để thảo luận dứt khoát với cộng sản. Bất lực, không thuyết phục được Thiệu, Đôn không dám bảo đảm thời hạn ấy. Đó là t́nh h́nh đưa đến cuộc gặp mặt giữa Đôn và Khiêm ngày 7 tháng 4. V́ Đôn không t́m được con đường nào khác để đem lại hoà b́nh, ông dễ dàng ngả theo quan điểm của Khiêm: Thiệu phải ra đi.

 

Hai người cho rằng người thay Thiệu không ai bằng người chiến hữu già là tướng Dương Văn Minh. Năm 1963, họ đă thành lập nhóm ba người để lật đổ Diệm. Họ chắc rằng sự liên minh cũ có thể nối lại để giải phóng đất nước khỏi một tên độc tài không c̣n tác dụng ǵ nữa.

 

Từ nhiều năm nay, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, người ta coi Minh như một Hamlet già cỗi của nền chính trị Việt Nam, một người do dự đến mức tê liệt. Sau cuộc đảo chính năm 1963. Minh bị các tướng trẻ loại bỏ một cách tàn nhẫn. Người Mỹ cũng đi t́m một đồng minh khác. Chỉ có tướng Timmes ở cơ quan CIA là cần tiếp xúc với Minh. họ thường đánh quần vợt với nhau ở câu lạc bộ thể thao.

 

Nhưng sự sụp đổ của Quân khu I và Quân khu II lại nâng h́nh ảnh của Minh lên. Trong một đêm, ông được nhiều người đánh giá là người của t́nh h́nh có thể đứng ra thương lượng. Minh có vẻ là nhân vật chính trị duy nhất không đứng về phía Sài g̣n mà cộng sản có phần chú ư đến.

 

Về phần Minh, ông nghĩ rằng sinh ra là để giữ vai tṛ người ta yêu câu. Minh coi ḿnh là người trung lập, hy vọng được nhiều nhân vật chính trị không c̣n nắm chính quyền ủng hộ nếu ông nhận trách nhiệm điều khiển quốc gia. Minh cũng cho rằng Chính phủ Cách mạng lâm thời và những người đứng đầu chính phủ này là những người miền Nam hơn là cộng sản. Giữa một nước Việt Nam thống nhất do Hà Nội (tr.213) chỉ huy và một liên minh với phái trung lập ở Sài G̣n th́ họ sẽ chọn giải pháp thứ hai.

 

Cuối tháng 3, ít lâu sau ngày Huế thất thủ, Minh bắt đầu chơi bài. Ông tiếp xúc với Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng và Thủ tướng Chính phủ Cách mạng lâm thời. Em của Minh là một nhân vật cao cấp của chính phủ này. Những cuộc gặp mặt không chính thức, không cam kết, rất dễ dàng. Khi Minh biết có cuộc hội kiến giữa Đôn và Chirac, ông cố gắng công khai làm cho người Pháp chú ư đến ván bài của ḿnh; Minh tuyên bố rơ với mọi người là người Pháp có một vai tṛ quan trọng trong việc tiếp tục t́m kiếm hoà b́nh. Người Pháp cắn câu ngay. Ngày Khiêm và Đôn quyết định thuyết phục Thiệu từ chức cũng là ngày đại sứ Pháp ở Sài G̣n bí mật đến nói chuyện với Minh.

 

Hai ngày sau, Minh mời Khiêm đến nói chuyện ở nhà riêng. Minh công nhận đă có những cuộc thảo luận bí mật với Chính phủ Cách mạng, lâm thời và nói với Khiêm rằng người Pháp coi ông là một người thay Thiệu rất tốt để đi đến thỏa hiệp với cộng sản. Cuối buổi nói chuyện, Khiêm bảo đảm với Minh ông ta hoàn toàn ủng hộ Minh.

 

Nhân viên CIA báo cho sứ quán diễn biến của những hoạt động ấy, việc đó càng làm cho Polgar và Martin tin rằng sẽ có thương lượng.

 

Tuy nhiên, người nuôi nhiêu hy vọng nhất vào đàm phán không phải là Khiêm hay Minh mà là người Pháp. Ngay sau khi Chirac gặp Đôn, người Pháp đă giữ vai tṛ đặc biệt quan trọng trong việc t́m kiếm một thoả hiệp chính trị; cho đến phút cuối cùng, mặc dù không muốn, họ đă góp phần đưa Sài G̣n đến ven bờ sự huỷ diệt.

 

Tại sao họ tham gia sâu đến thế vào tṛ chơi ḥa b́nh, tham gia một cách đáng xấu hổ? Người ta chỉ có thể đặt ra những giả thuyết. Có thể chỉ là phản ứng của việc báo thù. Những người gô-lít già. (Những cán bộ kỳ cựu của Đảng tướng Đờ-gôn. Nxb) trong bộ ngoại giao không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ việc Hoa Thịnh Đốn, trong giữa những năm 60 (tr.214), đă từ chối không cho họ can thiệp để chấm dứt chiến tranh. Thất bại của việc ngừng bắn được nhiều người trong bọn họ coi đúng là đ̣n đánh trả lại. Đối với họ đó là một dịp có một không hai để nước Pháp dành lại một phần ảnh hưởng đă mất ở Đông Dương.

 

Có lẽ họ cũng chẳng hiểu ǵ về người cộng sản Việt Nam. Những chuyên gia về Đông Dương ở bộ ngoại giao Pháp từ lâu cho rằng phong trào cách mạng ở Việt Nam chia sẽ nhiều hơn là người Mỹ đánh giá. Cũng như Minh, họ nhận định là nửa phía Nam của bộ máy cộng sản đội lốt Chính phủ Cách mạng lâm thời, không phải là một trá h́nh của Hà Nội mà là một lực lượng tự thân, có thể có hành động độc lập. Dựa vào kinh nghiệm lịch sử, họ cũng nghĩ rằng Hà Nội không bao giờ định công khai nắm chính quyền, mà là giấu ư đồ của ḿnh dưới một thoả hiệp liên hợp.

 

Cuối tháng ba, đầu tháng tư, làn sóng tuyên bố úp mở về triển vọng ḥa b́nh, càng làm cho người Pháp củng cố thêm luận điểm can thiệp của họ. Cuối cùng họ tưởng rằng những sự tranh chấp cũ giữa những người cách mạng ở miền Nam và ở miền Bắc sẽ công khai nổ ra. Nếu nền ngoại giao Pháp nhanh chóng xen được vào cuộc tranh chấp ấy th́ có khả năng kết thúc chiến tranh với nhiều lợi ích cho Pháp.

 

Mục tiêu người Pháp đặt ra là trở lại quá khứ, sự hồi sinh của ba Việt Nam như ba xứ đă tồn tại trong thời kỳ đô hộ của Pháp ở đây. Bên cạnh Bắc Kỳ cổ xưa (nay là miền Bắc do cộng sản điều khiển), sẽ thiết lập một chế độ liên hợp ở miền Trung (Quân khu I và Quân khu II), ở đây, trước kia người Pháp cai trị qua bàn tay trung gian của Bảo Đại. C̣n phía Nam, trong xứ Nam Kỳ lục tỉnh (Quân khu III và Quân khu IV), chế độ Thiệu nhường chỗ cho một chính phủ mở rộng có thể thương lượng với Hà Nội và nhà cầm quyền mới ở phía Bắc.

 

Để đẻ ra nước Việt Nam ban-căng hoá này, người Pháp định ra một chiến lược gồm bốn điểm: Hà Nội thấy rơ lợi ích của họ là đàm phán. Thiệu có lợi trong chịu đựng. Tướng (tr.215) Minh chuẩn bị thay Thiệu. C̣n đối với người Mỹ, phải làm cho họ tin rằng họ không có ǵ lựa chọn, tốt hơn là chính sách do người Pháp đề ra cho họ.

 

Khi Đà Nẵng thất thủ, người Pháp đă bắt đầu hoạt động. Có những cuộc trao đổi bí mật với Bắc Việt Nam ở cấp cao, với đại diện chính phủ Cách mạng ở Paris. Nhiều sĩ quan đă nghỉ hưu, trước kia phục vụ ở Đông Dương, trở lại Sài G̣n. Họ được giao nhiệm vụ thuyết phục các chiến hữu cũ tin rằng những cuộc thương lượng do Paris tiến hành là cần thiết. Những cuộc tiếp xúc với Trần Văn Đôn ngày 1 tháng 4 được diễn ra với tinh thần ấy. Không nói ra nhưng những cuộc trao đổi được tiến hành với ư thức tốt. Trong những cuộc thảo luận mới nhất với Bắc Việt Nam và đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời, người Pháp nhận được bảo đảm rằng việc thay đổi chính quyền có thể thương lượng ở Sài G̣n trong ṿng tám ngày nếu nước Pháp đóng tốt vai tṛ của ḿnh. Nhưng bộ ngoại giao Pháp cần kiểm tra ngay giá trị của những bảo đảm ấy. Hôm sau hay hôm sau nữa cuộc gặp mặt Chirac - Trần Văn Đôn, các nhà ngoại giao Pháp ở Hà Nội điện khẩn về Paris rằng triển vọng một thỏa hiệp là không có, Bắc Việt Nam có vẻ quyết tâm giành ngay thắng lợi hoàn toàn. Như là để khẳng định điều đó, phái đoàn Bắc Việt Nam ở Paris nói với các nhà chức trách chính thức của Pháp rằng, trong bất cứ trường hợp nào, điều kiện đầu tiên cũng là Thiệu từ chức, quan hệ giữa Sài G̣n và Hoa Kỳ phải chấm dứt. Không có t́nh h́nh đó sẽ hạn chế rất nhiều những cuộc thương lượng. Ngày 5 tháng 4, người Pháp chuyển những yêu cầu ấy cho Hoa Thịnh Đốn, tưởng rằng người Mỹ sẽ mất ḷng tự trọng và chấp nhận.

 

Nhưng Kissinger không tỏ ra dễ bảo. Theo nhận xét của ông, giải pháp ba Việt Nam do người Pháp đưa ra, chỉ là một mánh khoé chính trị để nước Pháp lấy lại vai tṛ điều khiển của ḿnh ở Đông Dương. Hơn thế, đó là một hoạt động không hợp pháp. Để giành chính quyền, tướng Minh sẽ phải vi phạm hiến pháp Nam Việt Nam về Kissinger lo có sự lộn xộn sau đó và tính mạng người Mỹ sẽ bị uy hiếp. Ngày 7 tháng 4 (tr.216), ông báo cho Paris biết rằng những đ̣i hỏi của Hà Nội không thể chấp nhận được.

 

Nhưng hoạt động đó một lần nữa, lại chuyển về Sài G̣n.

 

Jean Marie Merillon, viên đại sứ nhỏ bé của Pháp ở Nam Việt Nam có hai ham thích lớn: công việc và săn bắn thú rừng. Từ ngày ông đến đây, gần một năm về trước, ông tỏ ra thành thạo ở cả hai mặt. Tôi đă trông thấy bức ảnh ông đi săn ở Buôn Mê Thuột. Ông đứng cạnh một con hươu bắn được đêm trước. H́nh như ông rọi đèn chiếu làm cho nó loá mắt rồi bắn trúng mắt nó. Rọi đèn chiếu là một mánh khoé riêng của đại sứ trong ngoại giao cũng như trong săn bắn. Ông cũng dùng kỹ thuật ấy ở Sài G̣n trong những tuần cuối của cuộc chiến tranh, làm bừng sáng những cuộc tiếp xúc chính trị với những lời hứa hẹn và hy vọng quá độ cho đến lúc chúng rơi vào lưới. Và mỉa mai thay lại vào lưới Hà Nội.

 

Trong tuần đầu tháng tư, Mérillon áp dụng chiến thuật ấy với em họ Thiệu là Hoàng Đức Nhă. Ông cho Nhă biết mấy nét về giải pháp ba Việt Nam và vận động Nhă tham gia thực hiện. Không có ư chế giễu nào, ông kể lại thí dụ quân đội Pháp năm 1940, nhắc lại sự dàn xếp được đề ra đúng lúc với bọn nadi nhờ đó đă cứu được nước Pháp khỏi tan vỡ. Câu trả lời của Nhă thật đau và nặng nề. Ông ta nói với Mérillon: “Ông điên rồi, kế hoạch ấy thật buồn cười!”

 

Đại sứ Pháp không nản ḷng. Những ngày sau, ông rọi đèn vào một con mồi lớn hơn nhiều, Graham Martin.

 

Nhà riêng của Mérillon và sứ quán Pháp ở ngay cạnh sứ quán Mỹ. Mérillon đến thăm kín đáo Martin rất dễ dàng vào bất cứ giờ nào để nói chuyện chung quanh tách cà phê. Mỗi lần đến thăm đại sứ Mỹ, ông lại nói thêm về cái lợi của cuộc đàn phán. Ông nói: Không, chắc chắn là chưa có ǵ chứng tỏ Bắc Việt Nam chấp nhận những điều kiện đặt ra. Nhưng ta cứ thử xem, có mất ǵ đâu.

 

Phản ứng đầu tiên của Nam Việt Nam là tiêu cực. Cũng như Kissinger, ông cho rằng nếu cứ chuyện thay đổi chính phủ ở Sài G̣n th́ việc đó phải được thực hiện đúng hiến (tr.217) pháp để làm cho chế độ thêm vững và tăng thêm triển vọng thương lượng một cách công bằng giữa những người kế tiếp Thiệu và cộng sản. Khó cho Martin chấp nhận nhận định của Mérillon cho rằng hiện nay Sài G̣n yếu đến mức không c̣n con đường nào khác là con đường hoà b́nh.

 

Nhưng Martin chưa sẵn sàng bác bỏ lúc này những ư kiến của người Pháp. Ông là đấu thủ đánh cờ chứ không phải đấu thủ đánh bài. Do đó, đáng lẽ xả láng cho cái ông cho là tốt nhất, ông lại quyết định tiếp tục tiếp xúc với Mérillon như là người ta giữ hai miếng thép trong lửa. Martin cho đục một cái cửa giữa sứ quán Mỹ và sứ quán Pháp, đặt giữa hai sứ quán một đường dây nói trực tiếp cho chắc chắn.

 

Cho chắc chắn hơn, đường dây chạy măi vào trong buồng tắm của Mérillon đặt bên pḥng làm việc của ông. Những ngày sau đó, thư kư và nhân viên sứ quán pháp bắt đầu lo ngại về sức khỏe của ông v́ thấy ông liên tục vào buồng tắm.

 

Vừa t́m kiếm sự ủng hộ của người Mỹ, Mérillon vừa nhằm một mục tiêu khác. từ nhiều tháng nay, sứ quán Pháp giao thiệp kín đáo với tướng Minh qua nhiều trung gian. Đầu tháng tư, tướng Minh c̣n công khai tỏ ư hoan nghênh những nỗ lực của Paris để t́m kiếm ḥa b́nh. Mérillon lợi dụng lời tuyên bố ấy để nhảy vào. Trong cuộc gặp đầu tiên ngày 7 tháng 4 với Minh, Mérillon kể lại những cuộc tiếp xúc giữa chính phủ Pháp với Bắc Việt Nam, nói thêm rằng, theo ông, Minh giữ một vai tṛ quan trọng trong vấn đề này. Tuy không nói ra, hay là nói quá rơ rồi điều đó có nghĩa là Paris đă chọn Minh làm người thay Thiệu.

 

Mấy ngày sau, tổng thống Pháp Valery Giscard d’Estaing, đích thân kêu gọi Thiệu tỏ rơ thiện chí cho một sự ḥa hợp. Sự phản ứng của Thiệu khác hẳn điều Paris mong muốn hay chờ đợi, Không chút sợ hăi những lời đe doạ, tổng thống Nam Việt Nam ra lệnh cắt ngay mọi quan hệ với sứ quán Pháp cho đến lúc Giscard rút lui ư kiến của ông. Do đó, Mérillon không được đến dinh Độc Lập ngay cả lúc ông hy vọng được tiếp kiến Thiệu để thuyết phục ông ta từ chức v́ lợi ích của một xứ Nam Kỳ không cộng sản. (tr.218)

 

Để giành lại quyền chủ động, Mérillon dùng một chiến thuật nguy hiểm. Nhờ những cuộc tiếp xúc với người Việt Nam, ông cho loan truyền trong thành phố tin quân cộng sản sắp tiến công ngay Sài G̣n. Những lời dự đoán kinh hăi ấy có tức dụng làn cho sứ quán Mỹ hoảng sợ và trong một lúc, không chú ư đến ư đồ thật sự của Hà Nội. Sau cùng, Mérillon thú nhận đă phao tin. Mưu mẹo của ông dù sao cũng tiếp tục gây ra những hậu quả tai hại. Sau đó, mỗi lần có một bản báo cáo nói về cuộc tiến công của cộng sản, những người lạc quan nhất trong chúng tôi đều lắc đầu và nói: “Lại người Pháp định làm cho Thiệu sợ để ông ta từ chức”...Ngày càng bị ám ảnh về một cuộc thương lượng, Polgar mất dần khả năng xét đoán. Quyết tâm thuyết phục đại sứ Martin về triển vọng cuộc đ́nh chiến, Polgar không c̣n biết đến bât cứ tin tức nào nói ngược lại.

 

Nhưng những bản tin tới tấp được gởi về CIA đều nói về việc chuẩn bị quân sự của Bắc Việt Nam đang khẩn trương. Quân đội của họ đă uy hiếp chung quanh Sài G̣n, nhất là ở Xuân Lộc, phía Đông thủ đô, Polgar và đại sứ tiếp tục cho là những tin tức ấy quá bi quan. Khi những sự kiện nổ ra chứng tỏ những người bi quan đúng, người ta mới thấy rơ rằng tất cả những ǵ quay chung quanh giải pháp thương lượng đều là để che mắt. Bắc Việt Nam lợi dụng t́nh h́nh này để chuẩn bị về mặt quân sự. Trong đêm 8 tháng 4, CIA nhận được tin của một nhân viên là: “Bộ tư lệnh tôi cao Bắc Việt Nam vừa quyết định giải phóng toàn bộ vùng phía Bắc Sài G̣n trong tháng tư. Tiếp đó, họ tiến thẳng vào Sài G̣n không có một tư ǵ là giải pháp thương lượng. Hôm sau, một điện khác báo tin cộng sản sẽ tiến công vào Sài G̣n muộn nhất là ngày 15 tháng 4. Trong điện của tôi viết gởi Hoa Thịnh Đốn, Polgar tẩy chữ vào thay vào bằng chữ chung quanh.

 

CHIẾN DỊCH PHƯỢNG HOÀNG BAY

 

Ngày 9 tháng 4, những người phân tích tin của phái bộ quân sự Mỹ đi đến kết luận là chiến tranh sẽ kết thúc vào tháng 6, (tr.219) bằng chiến thắng của cộng sản. Martin chối tai về những dự đoán đó. Khi có người hỏi: v́ sao, đại sứ trả lời đơn giản: “Những yếu tố chính trị”. Người ta không dành cho chúng đủ sức nặng. “chính sách rọi đèn chiếu” của Mérillon đạt hiệu quả. Tôi chưa kịp gửi bản báo cáo cuối cùng của tôi đi th́ Martin đă điện cho Nhà Trắng một tài liệu do cố vấn kinh tế của ông là Dan Ellerman nghiên cứu và soạn thảo. Ư ông muón chứng tỏ cho Hoa Thịnh Đốn biết nửa phía Nam nước này có thể tự bảo vệ lấy ḿnh.

 

Tiếp đó, ông định chỉ huy chặt chẽ Alan Carter, người phụ trách cơ quan thông tin. Carter đề nghị với đại sứ mọi cuộc tiếp xúc với giới báo chí đều do cơ quan thông tin đảm nhận làm trung gian. Martin không muốn như thế v́ ông biết nếu Carter làm việc này sẽ gây bi quan cho giới báo chí đă quá sốt ruột. Ngày 9 tháng 4, ông gọi Carter vào pḥng làm việc.

 

Ông nói: “tất cả các cơ quan ở sứ quán đều dưới quyền điền khiển của tôi, do tôi quyết định cần phải làm ǵ”.

 

Carter trả lời: “Thưa ông, tôi nghĩ đơn giản là nên điều hoà quan hệ giữa chúng ta với giới báo chí th́ hơn”.

 

- Làm cho tôi một kế hoạch về vấn đề này.

 

- Thưa ông đại sứ, chúng ta đă cùng đường rồi. Làm ǵ c̣n th́ giờ để làm những việc quan liêu không thiết thực ấy.

 

Thấy thế, Martin thay đổi chiến thuật.

 

Ông nói: “Này anh bạn Alan ạ, anh biết không, các đồng nghiệp cho là anh đă xa rời hàng ngũ rồi đấy. Anh không đi kịp cùng đoàn”

 

Carter hỏi ông tên những người lên án anh, Martin chỉ nhín vai và tiếp tục: “Tôi không nói là anh hành động một ḿnh. Tôi chỉ nhắc lại những điều một số đồng nghiệp nói”. Ông ra lệnh cho Carter làm một dự thảo tổ chức lại bộ thông tin Việt Nam. Carter kêu lên: “Trời ơi! việc đó không thể thực hiện được. Chúng ta không c̣n th́ giờ để làm việc đó”.

 

Martin thở dài: “Thế th́ tôi cho là các đồng nghiệp đă có lư. Khi tôi bảo anh làm việc ǵ dù là hết sức quan trọng, anh đều xử sự như có một ḿnh anh”. (tr.220)

 

Sau cuộc nói chuyện một lúc, Martin ra lệnh cho Carter nhân danh sứ quán, nói trên vô tuyến truyền h́nh rằng Sài G̣n không có nguy cơ bị cộng sản làm đảo chính, người Mỹ vẫn ở lại. Carter bất đắc dĩ phải thực hiện việc đó. Bài nói của anh được ghi trên vidéo, kèm theo bản dịch ra tiếng Việt Nam được phân phát mấy ngày sau đó cho hệ thống truyền h́nh của chính phủ. Những người việt Nam xem vô tuyến đều nh́n rơ h́nh ảnh Carter trẻ khoẻ báo tin mọi sự đều tốt đẹp, trong khi đó lực lượng Bắc Việt Nam chỉ cách Sài G̣n hai kilômét!

 

Lúc ấy, ở Hoa Thịnh Đốn, chính phủ đă có bản báo cáo của phái đoàn tướng Weyand. Ủy ban an ninh quốc gia phải họp kín 48 giờ để nghiên cứu những kết luận và đề nghị của phái đoàn. Cùng lúc ấy, nhiều nhân vật chính thức bắt đầu đ̣i phải chú ư đến vấn đề tản cư. Giám đốc CIA, Colby, mỗi lúc càng thêm nghi ngờ về sự sống c̣n của Sài G̣n. Ông đề nghị tản cư nhanh người Mỹ và người Việt Nam mà tính mạng đang bị uy hiếp. Ông phản đối Martin đă cho rằng một quyết định như thế sẽ gây hoang mang trong kiều dân Mỹ. Schlesinger và chủ tịch hội đồng tham mưu liên quan, tướng George Brown, tán thành việc tản cư nhanh. Nhưng khác với Colby, các ông muốn tản cư người Mỹ và phương tiện chiến tranh hơn là cứu người Việt Nam: Phải phớt tỉnh trước những thực tế đau buồn ấy!

 

Kissinger phản đối cả hai thái cực. Ông ủng hộ ḷng tin vào tương lai của Martin và cho là chưa cần thiết phải tổ chức ngay cuộc tản cư. Nó chỉ làm yếu thêm vị trí của Thiệu, giữa lúc có thêm viện trợ tài chính của Hoa Kỳ để cứu ông ta.

 

Quan điểm của Kissinger cuối cùng đă thắng. Tuy nhiên, phải chuẩn bị một cuộc tản cư toàn bộ, nhưng cần chờ giải quyết tối hậu. Đô đốc Gayler và đại sứ Martin sẽ làm xong kế hoạch tản cư ngày 19 tháng 4, ngày mà quốc hội (người ta hy vọng) sẽ quyết định về viện trợ tài chính và về sử dụng lực lượng quân đội để bảo vệ cuộc tản cư theo đề nghị của tướng Weyand. Trong khi chờ đợi, Martin phải giảm nhanh số nhân viên để có kiều dân Mỹ chỉ c̣n 1100 người. Con số này chỉ cần (tr.221) một phi đội nhỏ máy bay lên thẳng là có thể tản cư được nếu việc đó xảy ra.

 

Chính quyền cũng cần giảm nhẹ điều kiện nhập cư để người Mỹ có thể đem theo vợ, con và cha mẹ là người Việt Nam. Trái với Schesinger. Kissinger cho là nhất thiết phải cứu càng được nhiều người Việt Nam càng tốt, đó là danh dự và uy tín của Hoa Kỳ.

 

Trước sự ngạc nhiên của đồng nghiệp (và người Pháp), Kissinger tiếp tục bỏ ngỏ cửa chính trị về phía Bắc Việt Nam. Ông cho rằng họ đă nắm mọi chủ bài. Nhưng ông cũng chấp nhận những sáng kiến gián tiếp nhất là một thông điệp ngoại giao gửi cho Liên Xô và Trung Quốc mời họ dự một hội nghị ở Glơnevơ như hiệp định Paris qui định. Ông cũng tán thành việc nhờ Pháp làm trung gian để khôi phục hoà b́nh ở Campuchia. Nhưng ông từ chối không ra lệnh tản cư tất cả người Mỹ ở Phnôm Pênh.

 

Chưa bao giờ Kissinger tỏ ra không khoan nhượng, bảo thủ như thế trong các cuộc thảo luận. Không c̣n chú ư ǵ đến phép lịch sự, ông tỏ ra thô lỗ đối với Colby và Schlesinger, hai đối thủ chủ yếu của ông. Ông lên án họ: liên tục báo động và xin tản cư với mục đích duy nhất chỉ là để bảo vệ “cái quần” của họ.

 

Ở Sài G̣n, tướng Smith, tuỳ viên quân sự, được giao trách nhiệm xúc tiến việc chuẩn bị di tản cho sứ quán. Việc này được thực hiện không phải là êm đẹp mà gây ra xung đột giữa các bộ phận. Một cuộc chiến tranh nhỏ bằng điện tín giữa Hoa Thịnh Đốn và nhiều nhân vật có trách nhiệm. Người Mỹ biến nóc nhà thành sân cho máy bay lên thẳng đỗ. Một đội tàu sẵn sàng đậu trong sân. Và Martin tiếp tục lo ngại rằng những công việc ấy làm cho người Việt Nam hoảng sợ và làm mờ h́nh ảnh Hoa Kỳ. Trong khi đó ở Manila (Philippines), đại sứ than phiền về số người di tản không hợp pháp quá đông đến căn cứ không quân Clark.

 

Trong khi ở sứ quán Sài G̣n, người ta đấu tranh chống những hạn chế do Martin đề ra, ba sư đoàn Bắc Việt Nam tiếp tục tiến công Xuân Lộc (tr.222), cách Sài G̣n 60 kilômét về phía Đông Bắc. Trong hai ngày đánh nhau, ngày 9 và 10 tháng 4, hơn một ngh́n quả đạn rốc kết và đại bác bắn xuống đây và một trung đoàn Bắc Việt Nam đă vượt qua được hàng rào vào thị xă. Đêm sau, lực lượng chính phủ gồm 25.000người, gần một phần ba quân đội Nam Việt Nam, phản công, đuổi quân Bắc Việt Nam ra ngoài nhưng họ bắn phá liên tục. Không quân Nam Việt Nam, ném bom từ trên cao, vu vơ, giết hại thêm nhiều người. Đó là một thói quen.

 

Trước t́nh h́nh ấy, Polgar quyết định một lần nữa đề nghị Hoa Thịnh Đốn mở một cuộc vận động chính trị. Sáng ngày 10 tháng 4, John Pittman, người phó của Polgar, gọi tôi đến pḥng làm việc, nói với tôi những nét đại cương kế hoạch của ông: lần này, tôi phải làm một bản đề nghị trong đó ghi rơ với tất cả các phương tiện có thể sử dụng được, cũng không thể nào tản cư hết người. Pittman nói khi thấy tôi hết sức ngạc nhiên: “Polgar muốn thuyết phục Hoa Thịnh Đốn là không có con đường nào khác là sự can thiệp chính trị”. Tôi trở về pḥng làm việc, bối rối và nản chí. Hoạt động quân sự chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng ngược hẳn lại với ư Polgar. Đáng lẽ phải chú trọng đến việc xin tản cư gấp, ông lại muốn có một sự dàn xếp. Trách nhiệm của tôi là tŕnh bày rơ không c̣n giải pháp nào khác.

 

Không cần phải suy nghĩ nhiều để t́m ra lư lẽ hùng hồn ủng hộ quan điểm của Polgar. Trong t́nh thế hiện nay, không thể nào tản cư được mười vạn người dù bằng đường biển hay bằng máy bay. Bản đề nghị của tôi được gửi về Hoa Thịnh Đốn không qua pḥng đánh tin của sứ quán. Nhưng Martin cũng đọc được. Ông bảo tôi ông không hoàn toàn tán thành kết luận của tôi. Ông công nhận có những khó khăn trong việc tản cư, nhất là đối với số đông người Việt Nam, nhưng việc đó không phải là không thực hiện được.

 

Khi bản đề nghị của tôi tới trụ sở CIA, tôi gần như thất vọng. Suy nghĩ về sự rộng lớn của vấn đề tản cư, tôi lo ngại cho sự thiếu chuẩn bị của chúng tôi và tôi muốn báo cho (tr.223) đồng nghiệp ở Mỹ biết. May quá, tôi không phải t́m xa mới thấy phương tiện. Chiều ngày 10 tháng 4, hai anh bạn Moose và Miessner gọi dây nói cho tôi. Họ c̣n ở Sài G̣n điều tra cho ủy ban đối ngoại thượng nghị viện. Họ yêu cầu tôi cung cấp thêm tin tức để làm bản báo cáo cuối cùng tŕnh quốc hội.

 

Tối hôm ấy, ba chúng tôi gặp nhau ở quán cà phê khách sạn Majestic, gần cảng. Uống xong cốc rượu, tôi tŕnh bày với các bạn những nét lớn của t́nh h́nh. Quân Bắc Việt Nam tiến công Xuân Lộc. Tin tức mới nhất cho biết cuộc tiến công vào Sài G̣n sẽ nổ ra vào ngày gần nhất là giữa tháng tư. Kế hoạch tản cư của sứ quán, không kể phần của phái bộ quân sự, khá vu vơ, viển vông.

 

Moose vừa lắng nghe vừa vuốt râu mép. Hai lần, Miessner suưt nghẹn v́ miếng thịt trâu. Họ vừa ở Phnôm Pênh hai ngày. Do đó họ chưa biết rơ sự suy sụp của t́nh h́nh Nam Việt Nam.

 

Sau cuộc nói chuyện, họ đến sứ quán, gửi một điện cho cấp trên của họ ở thượng nghị viện, báo tin họ sẽ trở về ngay với nhiều tin xấu. Họ cũng thảo một báo cáo sơ lược về những điều tồi tệ mà nhiều người khác nói với họ. Họ sắp gửi đi qua pḥng truyền tin của sứ quán th́ Moose, sau khi duy nghĩ thay đổi ư kiến, anh muốn gửi bản báo cáo vào hôm sau, qua sứ quán Manilla để Martin không điểm duyệt được.

 

Mấy giờ sau khi tôi gặp hai anh bạn, tổng thống Ford nói trước quốc hội phải giảm nhanh số dân Mỹ ở Sài g̣n và đề nghị được quyền sử dụng lực lượng vũ trang trong trường hợp tản cư ồ ạt. Ông cũng đề nghị viện trợ tài chính thêm 722 triệu đôla cho Nam Việt Nam. Ông giải thích: số tiền này cho Sài G̣n c̣n dịp may để tự cứu và cho phép có th́ giờ để đi đến một thỏa hiệp chính trị.

 

Phản ứng của quốc hội rất nhanh và nói chung là không tán thành. Những đề nghị của tổng thống được sử dụng lực lượng vũ trang làm bùng ngọn lửa tranh luận. Nhiều đại biểu quốc hội phản đối về nguyên tắc đề nghị của ông. Nhiều người khác đồng ư dùng lực lượng vũ trang để bảo vệ người Mỹ nhưng họ phản đối nêu lực lượng ấy tham gia vào việc (tr.224) tản cư người Việt Nam. Những điều không rơ của chính phủ là nguyên nhân đẻ ra những ư kiến trái ngược ấy. Bản tường tŕnh của tổng thống Ford đưa ra quốc hội cũng mơ hồ như nghị quyết giả tạo về sự kiện vịnh Bắc bộ năm 1964 đă làm cho Hoa Kỳ mắc nghẽn vào cuộc chiến tranh Việt Nam mà quốc hội không thể làm ǵ được.

 

Quốc hội sợ bị bó tay, nhưng những sự kiện diễn ra ở Campuchia sau đó làm cho những điều lo ngại ấy không đáng kể nữa. Sáng ngày 11 tháng 4, quân Khmer đỏ chiếm ba làng phía Bắc Phnôm Pênh và tăng cường bắn phá sân bay. Trước đó, đại sứ Dean điện cho Kissinger, một lần nữa, xin phép được tản cư số nhân viên c̣n lại. Kissinger lại không đồng ư, cho rằng, cuộc tản cư ấy chưa cần thiết. Một đại diện Hoa Thịnh Đốn lúc ấy đang ở Bắc Kinh để chiều hôm ấy, thảo luận với một nhân vật của chính phủ lưu vong Sihanouk.

 

Cuộc gặp ấy diễn ra lúc 17 giờ, giờ Bắc Kinh. Người phát ngôn Mỹ, một quan chức bộ ngoại giao, John Holdridge báo cho đại diện Sihanouk biết Hoa Kỳ nay sẵn sàng ủng hộ những nỗ lực của thủ tướng lưu vong để đi đến một cuộc dàn xếp. V́ mục đích đó, sự có mặt của người Mỹ ở Phnôm Pênh vẫn được duy tŕ. Người Campuchia trả lời Sihanouk sẽ bay đi Phnôm Pênh ngay. Nhưng trong những giờ sau, những cuộc bắn phá của cộng sản đă đóng cửa sân bay Phnôm Pênh. Một lẫn nữa, đại sứ Dean lại van nài Kissinger cho tản cư triệt để. Thấy không c̣n lối thoát nào khác, Kissinger chấp nhận. Cũng đúng lúc b́nh minh ngày 12 tháng 4, Sihanouk được tin t́nh h́nh quân sự chung quanh Phnôm Pênh rất bi đát, sứ quán phải đóng cửa. Ở Hoa Thịnh Đốn, chính phủ nhanh chóng báo tin cho các vị thủ lănh ở quốc hội biết: tổng thống, với tư cách là tổng tư lệnh tối cao quân đội, đă cho phép sử dụng máy bay lên thẳng và lực lượng an ninh thủy quân để tản cư những người Mỹ c̣n lại ở Phnôm Pênh. Chiến dịch “Phượng hoàng bay”, tên mật mă cuộc tản cư ở Campuchia trở thành sự thật.

 

Pḥng lănh sự quán Phnôm Pênh giữ nhiều chỗ hơn thực tế, dự tính đến hơn ba trăm người đi, kể cả người Mỹ (tr.225) và người nước thứ ba, những ngày trước chưa báo kịp, có thể đến phút chót sẽ đến. Như thế có đủ chỗ để tản cư tất cả.

 

Máy bay Phantom đầu tiên bảo vệ chuyến đi, bay vào bầu trời Campuchia lúc 8 giờ 34 phút. Một giờ rưỡi sau, những máy bay lên thẳng cỡ lớn CH-53, bắt đầu đến từng đợt, ba chiếc một. Mỗi chiếc đều chở đơn vị an ninh thuỷ quân.

 

Khoảng trăm người Campuchia đến tập hợp trước cửa sắt chính của sứ quán và trên sân bay gần đấy. Họ không hề sợ hăi. Ở ngoài phố cũng vậy. Phần lớn cho là những máy bay lên thẳng chở quân lính Mỹ đến để bảo vệ thành phố. Họ giúp cảnh binh Khmer điều khiển xe cộ đi lại và kiểm soát đám đông ở gần nơi máy bay đỗ. Đúng trước 12 giờ, đại sứ Dean cuốn tấm cờ Mỹ, cắp dưới nách lên máy bay lên thẳng cuối cùng. Tướng Saukham Khoy, tổng thống lâm thời Campuchia theo sát gót đại sứ. Ngược lại, nhiều nhân vật Campuchia, từ chối không đi. Một người là Sirak Matak nguyên thủ tướng của chính phủ Lon Nol, gửi cho Dean một bức thư giải thích việc từ chối của ông ta: “Thưa đại nhân và thân hữu, tôi cảm ơn về bức thư và về việc ngài dành cho tôi chỗ để đến nơi tự do. Tôi rất tiếc không đi được trong những điều kiện hèn nhát như vậy. C̣n về ngài và đại cứu quốc, tôi không bao giờ nghĩ rằng các ngài đă từ chối không bảo vệ chúng tôi nữa. Chúng tôi không có thể làm ǵ được. Các ngài lên đường, tôi chúc ngài và quí quốc t́m thấy hạnh phúc dưới bầu trời...Tôi đă mắc một sai lầm duy nhất là đă tin vào những người Mỹ!”

 

Khi máy bay lên thẳng chở đại sứ bay lên, lính thuỷ bắt đầu siết chặt hàng ngũ chung quanh nơi cất cánh. Cũng ngay lúc ấy, pháo binh Khmer đỏ nổ súng vào những ngôi nhà của sứ quán, họ bắn nhiều đạn rốc kết, đại bác, súng cối hơn hai tuần qua. Lính thuỷ vội vàng trèo lên máy bay lên thẳng c̣n đám đông th́ tản ra.

 

Trong những ngày sau, máy bay vận tải Mỹ thả dù thực phẩm xuống thành phố bị bao vây. Cuối cùng ngày 17 tháng 4, (tr.226) quân cộng sản, đă đánh dọc sông Cửu Long vào chiếm ngoại ô phía Nam thành phố. Ủy ban tướng tá được thành lập để chiến đấu trong những phút cuối, xin ngừng bắn. Đề nghị của họ bị bác. Đài phát thanh bí mật của Khmer đỏ tuyên bố: “Chúng ta đ̣i tất cả sĩ quan và nhân vật của chế độ bù nh́n Phnôm Pênh mang cờ trằng ra hàng”.

 

Hôm sau, ở Phnôm Pênh và những tỉnh khác, hằng trăm ngh́n người dân nhận được lệnh phải đi ngay và sống ở nông thôn. Cuộc di cư bắt buộc này được tiến hành theo kế hoạch làm từ lâu của Khmer đỏ, đă phá vỡ màng lưới t́nh báo của Mỹ đặt khắp nước này. Mặc dù đă có dự tính đến sự tan ră của xă hội, nhưng cơ quan CIA ở Phnôm Pênh chỉ lấy thành phố, thị xă làm địa bàn hoạt động sau khi người Mỹ ra đi, đặt ở đấy những đài phát thanh tin bí mật và tổ chức ở đây những nhóm t́nh báo nhỏ. Khi các thành phố và thị xă bị càn quét, mạng lưới bị hoàn toàn phá vỡ, CIA không c̣n nhận được tin ǵ ở Campuchia sau chiến tranh.

 

Sau khi cộng sản nắm chính quyền, một số người nước ngoài kể cả nhà báo, đều vào sứ quán Pháp trú ẩn. Họ ở đây mấy tuần, giành nhau từng khẩu phần, c̣n của sứ quán Mỹ th́ đóng kín không cho người Campuchia vào. Khi Sirak Matak và nguyên thủ tướng Long Boret đến xin cư trú, họ bị từ chối không được vào. Sau này, cả hai đều bị cộng sản hành h́nh.

 

Tháng 5 năm 1975, những người ở trong sứ quán Pháp mới đi được Thái Lan. Những nhà báo đi theo họ đă kể lại những chuyện tàn sát và chết đói dă man, rùng rợn.

 

Bức ảnh đăng trên trang đầu ở Pacific Stars and Stripes mấy ngày sau chiến dịch “Phượng hoàng bay” là ảnh đại sứ Gunther Dean, nét mặt đăm đăm, lá cờ dưới nách, chuẩn bị bước lên máy bay lên thẳng sắp rời Phnôm Pênh. Tôi nh́n bức ảnh một lúc, tự hỏi xem xét mặt ông biểu hiện cái ǵ: nhục nhă, tức giận hay an ủi. Nếu không có ảnh một lính thuỷ đứng đàng sau th́ có thể sẽ là bức ảnh một tư bản ngân (tr.227) hàng giàu có hoặc một kỹ nghệ gia Mỹ, nét mặt nghiêm trang với bộ quần áo xám, sắp lên máy bay riêng để đi dự một buổi họp của những nhà kinh doanh.

 

Bức ảnh không có vẻ ǵ bi thảm, không có ǵ báo trước một nguy cơ sắp xảy ra. V́ cuộc ra đi ấy quá đơn giản nên chúng tôi ở Sài G̣n, thấy không có ǵ đáng ngại nữa.

 

Nhưng t́nh h́nh hai nơi khác nhau, không thể so sánh được. 1.200 người Campuchia rời nước họ trong ba tuần trước khi có chiến dịch “Phượng hoàng bay”. C̣n ở Sài G̣n, số người Việt Nam cần ưu tiên di tản lên tới hàng chục ngh́n. 

 

 

Phần 3 A “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” từ tr 189– tr 228

nhandanvietnam.org, ngày 25/9/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend