NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III B)


Người Việt Nam lúc nào cũng dè chừng… Họ nói họ không ghét cộng sản nhưng
South Vietnamese uniforms lie discarded in the street
South Vietnamese uniforms lie discarded in the street
Journey From the Fall
họ sợ!
Họ đă ở lâu với người Pháp, người Mỹ sống quen với chính quyền Thiệu, họ thấy khó chịu khi phải sống dưới một chế độ khác. Có thể sự thay đổi mang lại hạnh phúc cho nông dân nhưng c̣n họ, th́ sẽ ra sao đây? (tr.237)… họ có lư. Thật vậy, ngày càng dễ có một nhận định xấu đối với người chiến thắng trước những lời phản tuyên truyền của chính phủ….

 

Những chuyện khủng bố dă man được trí tưởng tượng của đài phát thanh Sài G̣n báo chí địa phương và sứ quán Mỹ thổi phồng lên. Theo lệnh của đại sứ, cố vấn chính trị Joe Bennett đă làm một báo cáo giả nói là của một nhà sư ở Buôn Mê Thuột gửi về để vu khống cộng sản. Bản báo cáo viết: “Ở đây chúng lột móng tay phụ nữ, chặt ủy viên hội đồng thị xă ra từng mảnh...” Một cộng tác viên trẻ của Bennett sau này kể lại với tôi như thế trong một buổi chiều. Tin ấy sẽ làm cho nhiều đại biểu quốc hội suy nghĩ.

 

Nhiều người Việt Nam cho những chuyện ấy là đúng, nhất là tư ngày phải chạy trốn khỏi Campuchia. Một buổi chiều, Tư Hà hỏi tôi: có thật cộng sản hành hạ phụ nữ đă đi lại với người Mỹ không? Tôi trả lời không và nói chuyện khác. Sau này tôi trông thấy cô ta, đứng ở cửa sổ, khoái trá nh́n những ánh lửa pháo binh cộng sản bắn vào sân bay Biên Hoà. Từ đó tôi đâm nghi ngờ. Trừ những viên chức trẻ ở văn pḥng, Bennett bị nhồi sọ quá nhiều, không ai tin rằng sẽ có một cuộc thanh trừng lớn khi cộng sản nắm chính quyền…..

 

Tŕnh bày trước ủy ban, tướng Weyand nói: nếu không có viện trợ bổ sung, Sài G̣n sẽ sụp đổ trong một tháng. Bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger lấy danh nghĩa cá nhân, c̣n đưa ra một giả thuyết đen tối hơn. Theo ông, nếu cộng sản nắm chính quyền th́ có thể hai trăm ngh́n người Việt Nam sẽ bị giết. Sáng hôm sau, tờ báo Pacific Stars and Stripes (tờ báo của quân đội Mỹ), xuất bản ở Sài G̣n, đăng lại lời tuyên bố ấy bằng chữ đậm, làm cho người Việt Nam càng thêm hoảng sợ.

 

Ở Hà Nội, ban lănh đạo Đảng khai thác t́nh h́nh ấy khá mềm dẻo làm cho Hoa Thịnh Đốn càng thêm bối rối. Có vẻ họ muốn đẩy quốc hội nhanh chóng có quyết định về cuộc tản cư nên bộ trưởng ngoại giao Bắc Việt Nam ngày 10 tháng 4 tuyên bố: quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho cố vấn Mỹ rút về nước b́nh yên vô sự.(tr.244….

 

Sáng 18 tháng 4, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu thấy rơ việc không thể tránh được. Sáng sớm, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III, đi máy bay từ sở chỉ huy ở Biên Ḥa đến báo cho Thiệu biết đă thua trận rồi. Quân đội đang tán loạn, số quân quá ít. Chỉ hy vọng chống cự được hai ba ngày nữa thôi… Những người đến dự cho Thiệu biết: thời kỳ của Thiệu đă hết. Nếu ông ta không ra đi trong hạn sáu ngày th́ họ buộc phải đ̣i ông từ chức….Thiệu ra lệnh bắt nhiều sĩ quan, theo ông, thật sự là những kẻ phải chịu trách nhiệm về những thảm hoạ trong những tuần qua. Trong những kẻ bị nhốt vào nhà lao có viên tướng khốn khổ Phạm Văn Phú (tr.250) mấy ngày trước bị hôn mê được đưa vào nằm ở một bệnh viện gần Sài G̣n…

 

Cuối cùng, tối 21/4/75, lúc 19:30 PM,….Thiệu vừa khóc vừa tuyên bố từ chức và giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương. Thiệu nói: v́ nửa nước đă mất nên ông ta hy sinh v́ quyền lợi quốc dân…..

 

Phản ứng đầu tiên của cộng sản về sự thay đổi tổng thống rất rơ ràng. Ở Tân Sơn Nhất, người phát ngôn chính phủ cách mạng nói ngay với nhà báo:  việc Thiệu rút lui không thay đổi ǵ cả và ông ta bác bỏ lời kêu gọi đ́nh chiếu của Hương. Đài phát thanh Hà Nội lên án Hương là một tên phản động, phản quốc và đ̣i Hoa Kỳ phải bỏ cả tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu chứ không chỉ riêng bản thân Nguyễn Văn Thiệu và không được can thiệp vào công việc của Việt Nam, nhất là không được viện trợ quân sự. Đó là một tối hậu thư (cách duy nhất để thoát ra khỏi cuộc chiến tranh này, theo đài Hà Nội) chứ không phải là một nhân tố để thương lượng và người ta không thể nghi ngờ ǵ về lời đe doạ này…. Click đọc: Phần IA, Phần IB, Phần IIAPhần IIB, Phần III A 

 

 

 

 

 

LỊCH SỰ VÔ ÍCH

 

"TIME" Cover Story on Saigon

Hôm sau ngày Phnôm Pênh thất thủ, nhiều đội đặc công Bắc Việt Nam đi lên phía Bắc, ṿng qua Xuân Lộc, theo đường phía Tây, tiến về Biên Ḥa và Sài G̣n. Ở đồng bằng, lực lượng cộng sản chọc thủng nhanh chóng tuyến pḥng thủ của chính phủ ở phía Bắc và Tây Bắc Cần Thơ, nơi đóng trụ sở lănh sự quán Mỹ ở Quân khu IV. Song song với chiến thắng ấy, cộng sản đưa ra một lời cảnh cáo cứng rắn. một người phát ngôn Chính phủ Cách mạng ở Tân Sơn Nhất tuyên bố sẽ có tổng khởi nghĩa ở Sài G̣n nếu Thiệu không từ chức và những cố vấn quân sự Mỹ đóng giả làm dân thường không rút đi ngay.

 

Khi nghe tin ấy, tôi nói với Polgar: “Có thể Hà Nội muốn ra một tối hậu thư cho bản thân sứ quán. V́ từ lâu, cộng sản đă cho chúng ta là cố vấn quân sự, cho nên, có thể lúc này họ muốn bảo chúng ta, không úp mở “Đi đi nếu không...!” Polgar không hiểu như tôi.

 

Mấy giờ sau, Hà Nội có vẻ giải thích cho chúng tôi biết. Trong một thông báo, bộ trưởng ngoại giao Bắc Việt Nam nói rơ (tr.228): người Mỹ có thể tản cư không cần đến lính thuỷ và máy bay lên thẳng nếu họ đi ngay. Rơ ràng Bộ Chính trị lo ngại về sự có mặt ngày càng nhiều của hạm đội Mỹ ở biển Đông và họ muốn chúng tôi đi càng nhanh càng tốt.

 

Không đếm xỉa đến những tṛ ấy, tướng Dũng và Bộ tham mưu của ông, trong một buổi họp vào ngày 14 tháng 4 tại Sở chỉ huy ở Lộc Ninh, đă đề ra nhiều quyết định chính trị quan trọng. Đó là việc nghiên cứu hàng loạt phương hướng mới của Hà Nội, mà cái quan trọng nhất là thay đổi thời gian chiến dịch để đi đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Ít lâu sau cuộc tiến công đầu tiên vào Xuân Lộc, tướng Dũng đề nghị Bộ Chính trị dành cho ông nhiều th́ giờ để chuẩn bị tiến công Sài G̣n.Theo hồi kư của ông, lư do hoàn toàn thuộc về chiến thuật. Sư đoàn 18 Nam Việt Nam ở Xuân Lộc đă chống cự mănh liệt hơn dự kiến, việc chuyển quân từ Quân khu II vào miền Nam đang bị quân của tướng Nghi chặn lại ở Phan Rang. Mặt khác, việc vận chuyển vũ khí, đạn dược vào chưa được nhanh như tướng Dũng mong đợi, và những đơn vị cuối cùng của quân đoàn Bắc Việt Nam chỉ có thể đứng vào vị trí ở Quân khu III sau hơn tuần nữa, nghĩa là không thể đến trước ngày 25-4.

 

Đứng trước những khó khăn ấy - có lẽ cũng v́ lực lượng Mỹ nữa - Bộ Chính trị chấp nhận đề nghị của tướng Dũng. Ông được phép hoăn mấy ngày cuộc tiến công cuối cùng. Theo nguồn tin của chúng tôi, dự kiến là từ ngày 15 đến 19 tháng 4. Ông Lê Đức Thọ trong buổi họp ngày 14 tháng 4, nhắc cho đồng nghiệp biết mùa mưa sắp đến: Chúng ta phải hành động nhanh để hoàn thành nhiệm vụ. Một vài ngày sau, ông Phạm hùng đề nghị một ngày cuối cùng để giành thắng lợi hoàn toàn: chúng ta phải tiến đánh để giải phóng Sài g̣n đúng ngày kỷ niệm sinh nhật Hồ Chủ tịch, ngày 19 tháng 5.

 

Tướng Dũng không để mất th́ giờ vào trận Xuân Lộc, mà đánh ṿng thị trấn này. Ông cũng đề nghị Hà Nội dành cho trận đánh Sài G̣n một cái tên lịch sử. Ông Lê Duẩn, Bí thư (tr.229) thứ nhất Trung ương Đảng kư vào bức điện gửi cho tướng Dũng: “Đồng ư, chiến dịch giải phóng Sài G̣n mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh”.

 

Sáng ngày 15 tháng 4, pháo binh Bắc Việt Nam bắn phá sân bay Biên Ḥa, lần đầu tiên trong chiến tranh, bằng súng tầm xa. Ở phía Đông, sư đoàn thứ tư, tức sư đoàn 325 ở Huế, tham gia mặt trận Xuân Lộc lúc những đơn vị khác bắt đầu tràn qua pḥng tuyến bảo vệ của quân chính phủ, ở phía Bắc và phía Nam thị trấn.

 

Trong khi chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra th́ ở Sài G̣n, những người muốn giải quyết bằng thương lượng ra sức hoạt động. Bộ trưởng quốc pḥng mới, Trần Văn Đôn, bí mật gặp bạn đồng nghiệp trong chính phủ Cẩn sắp ra đời và thuyết phục họ phải ngừng bắn với bất cứ giá nào. Trong lúc ấy, người Pháp lại thăm ḍ người Mỹ. Lần này, Merillon nói chuyện với Polgar chứ không nói với Martin v́ ông biết trùm CIA ở Sài G̣n rất muốn đi đến một cuộc dàn xếp.

 

Cuộc thảo luận được tiến hành ngay bên bể bơi câu lạc bộ thể thao, chiều ngày 13 tháng 4, Polgar, mặc áo tắm màu xanh lơ nhạt, đang ngắm nh́n những phụ nữ bơi mặc bikini qua tờ báo Sài G̣n Post th́ Pierre Brochand, quan chức ở sứ quán Pháp, lên tới. Ngồi trên một ghế đẩu. Brochand tŕnh bày rơ ràng bằng những nét lớn, quan điểm của chính phủ ông: Người Pháp không cho rằng những pḥng tuyến của Sài G̣n sụp đỗ trong những tuần tới nhưng họ thấy t́nh h́nh quân sự chắc chắn là mất. Cần làm ngay một việc ǵ để đảm bảo cho một xứ Nam kỳ độc lập sống lại ít nhất trong một thời gian. Người Pháp có những lư lẽ để tin rằng Bắc Việt Nam “không vội vàng” và sẽ chấp nhận việc thành lập một chính phủ hoà b́nh hoàn toàn trung lập. Một loại cầu bắc tới trật tự cộng sản. Có vẻ họ chấp nhận Minh lớn làm tổng thống. Brochand c̣n hứa là sứ quán Pháp sẽ bảo đảm tản cư năm vạn người Việt Nam, nếu việc đó cần. Một lời hứa chưa bao giờ thực hiện.

 

Những lời nói đó lại gây cho Polgar thêm hy vọng. Ông hứa sẽ làm hết sức ḿnh để người Pháp đạt được mục tiêu.(tr.230) Ông và Brochand đều hiểu là phải thuyết phục Martin để đại sứ tin rằng Thiệu là cản trở lớn cho ḥa b́nh và phải thay ngay chính phủ.

 

Một giờ sau cuộc nói chuyện bên bể bơi, Polgar trở về sứ quán. Ông gọi tôi vào pḥng làm việc và bảo tôi làm một bản tường tŕnh, lần này để vạch rơ Thiệu là một trở ngại không thể cho qua được.

 

Đó không khác nào lời đề trên tấm bia mộ chính trị của Thiệu. Tôi viết: “Những trận thất bại kinh khủng bắt đầu ở Quân khu I và Quân khu II đă chứng tỏ cho hầu hết người Nam Việt Nam, dân cũng như lính, rằng tổng thống nước cộng ḥa này không c̣n được trời phù hộ nữa. Nhiều sĩ quan cao cấp và nhân vật chính trị mong tổng thống từ chức nếu muốn tránh một thất bại quân sự hoàn toàn. Phần lớn họ đứng về phía người ủng hộ một sự thay đổi quyền lực theo hiến pháp. Tuy nhiên, một số người sẵn sàng t́m bất cứ con đường nào khác để có thể đạt được mục đích ấy. Nếu có một cuộc đảo chính th́ chính phủ mới sẽ không thể kiểm soát được quân đội và sẽ không có phương tiện để duy tŕ luật pháp và trật tự”.

 

Sáng hôm sau, ngày 14 tháng 4, Trần Văn Đôn nói cho những người lạc quan biết thêm những lư lẽ bổ sung để họ hy vọng. Trong một buổi viếng thăm sứ quán, với tư cách cá nhân, ông báo cho Martin biết ông ta vừa gặp đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời, người này khẳng định rằng một sự dàn xếp thương lượng có thể được thực hiện. Người này nói ba vấn đề: 1) Đôn thay Thiệu rất tốt. 2) Cộng sản không phản đối việc tản cư người Việt Nam. 3) Hoa Kỳ có thể duy tŕ một sứ quán nhỏ ở Sài G̣n với điều kiện tất cả những nhân viên không chính thức khác phải ra đi.

 

Những lời ấy làm tôi thắc mắc. Chúng được tung ra quá đúng lúc và phục vụ quyền lợi của Đôn quá nhiều. Chúng làm cho tôi nhớ lại những điều người Pháp muốn làm cho chúng tôi tin. Tôi nghi Merillon chứ không nghi cộng sản đă mớm những lời ấy. (tr.231)

 

Polgar không tán thành ư kiến tôi. Martin cũng thế. Tuy nhiên, những tin tức của Đôn, cộng với những lời nói của Brochand và những vấn đề tôi nêu trong báo cáo đă làm cho đại sứ rất chú ư. Chiều 14 tháng 4, đại sứ quyết định đề nghị với Hoa Thịnh Đốn cái việc mà cho đến nay, tưởng như không thể nào có được: Thiệu phải ra đi, đó là bước đầu đi đến ngừng bắn.

 

Nhưng sáng hôm sau, ông lại gửi cho Nhà Trắng một bức điện, trong đó ông tŕnh bày một ư rất lạ. Nhắc lại nhiều đoạn trong bản báo cáo của tôi, ông nhấn mạnh sự yếu kém của Thiệu và báo rằng sự phản đối có thể nhanh chóng nổ ra chống lại ông nếu viện trợ tài chính bổ sung không đến ngay. Rơ ràng ông không đ̣i Thiệu phải đi ngay, nhưng ông muốn làm cho người ta hiểu rằng Thiệu không c̣n ích ǵ cho chính sách của Hoa Kỳ.

 

Trong phần cuối bức điện, Martin cố gắng làm yên ḷng Hoa Thịnh Đốn về tiến triển của kế hoạch tản cư. Ông khẳng định đă sẵn sàng tản cư hai trăm ngh́n người bằng tàu biển, máy bay và đường bộ và ông giảm bớt những khó khăn của t́nh h́nh chung. Một lần nữa, đề cập đến tiềm lực kinh tế của Quân khu III và Quân khu IV, ông quên không viết về sự sụp đổ hoàn toàn của quân đội, tuy nhiên, ông công nhận người Mỹ sẽ có những ngày khó khăn trong một thời gian. Điều đó không ngăn cản ông đề nghị chính phủ Hoa Kỳ cấp cho Nam Việt Nam một viện trợ năm năm, làm như nước này c̣n có thể sống được nhiều năm nữa! Mặc dù có những điểm ngoắt ngoéo ấy, bức điện cũng thể hiện một bước ngoặt đáng kể của Martin và vị trí tương lai của Mỹ ở Việt Nam. Nhưng bức điện không gây cho Hoa Thịnh Đốn phản ứng mà Martin và Polgar mong muốn. V́ dự thảo luật viện trợ 722 triệu đôla vẫn c̣n đang được bàn căi ở quốc hội, chính phủ hoăn một, hai ngày nữa mới có quyết định về số phận Thiệu.

 

Tuy có những bảo đảm của Martin đối với Nhà Trắng, sự chuẩn bị của chúng tôi cho một cuộc tản cư triệt để tiếp tục kéo dài lê thê. Đến ngày 15 tháng 4, mới có 1.500 người Mỹ đến được căn cứ không quân Clack nhờ quân đội chuyên chở từ Sài G̣n đến Philippines. Họ rất ít đi máy bay dân dụng.

 

Những thể lệ hành chính kéo dài việc tản cư nhất là những điều hạn chế người Việt Nam nhập cư vào Hoa Kỳ. Người Mỹ đă lập nghiệp lâu ở Việt Nam không muốn đi nếu họ không được phép đưa vợ, những cô hạn nhỏ và con bất hợp pháp của họ về.

 

Chính phủ đang t́m một giải pháp. Chiều 14 tháng 4, sứ quán được báo tin, cơ quan nhập cư Hoa Kỳ đă cho phép mọi người Việt Nam vào Mỹ nếu người Mỹ lấy danh dự thề rằng có một người thân là người Mỹ ở Việt Nam. Trong mấy giờ, Al Francis, làm việc kín đáo một ḿnh, đă thuyết phục được bộ trưởng nội vụ Sài G̣n, giảm nhẹ điều kiện để di cư. Đáng lẽ phải có dấu xuất cảnh hay hộ chiếu, người Việt Nam chỉ cần chứng minh có một người Mỹ đỡ đầu là nhận được giấy phép ra đi.

 

Khi tướng Smith biết tin ấy, ông triệu tập ngay những nhận viên giúp việc không cần thiết và làm hợp đồng, khuyên họ nên lợi dụng thời cơ ra đi ngay. Đáng tiếc không ai nghe ông cả. Phần lớn nhân viên của ông cho là một khi thể lệ được giảm nhẹ th́ rồi sẽ có những quyết định quan trọng hơn. Họ ở lại định chờ cho đến khi việc tản cư ồ ạt người Việt Nam không c̣n gặp trở ngại ǵ mới ra đi. Điều bất hạnh đă xảy ra. Lời thề danh dự do cơ quan nhập cư yêu cầu cấm người Mỹ ở ngoài Việt Nam không được đứng ra bảo lănh người Việt Nam. Hạn chế ấy gây một làn sóng bất ngờ. Chỉ một, hai ngày, hàng trăm công dân Mỹ sống ở Hồng Kông, Bangkok, Singapour kéo đến Sài G̣n để kết hôn hay sống hợp pháp với những cô bạn nhỏ hoặc nhận nuôi những trẻ em Việt Nam. Bên cạnh những người tốt bụng, có khá nhiều kẻ lợi dụng việc “nhận nuôi” người Việt Nam để làm tiền, lấy vàng. Phải mất hàng ngh́n đôla, mươi lạng vàng mới được họ bảo lănh như thế. Lại c̣n nhiều binh lính trong quân đội Mỹ, đào ngũ nhiều năm qua, nay bất ngờ xuất hiện trước sứ quán với (tr.233) những người phải nuôi, xin ghi tên tản cư. Kết quả, chỉ trong một, hai ngày, danh sách người Mỹ xin ra đi lên tới hơn một ngh́n người.

 

Để mong chấm dứt t́nh h́nh trên, tướng Smith đề nghị với Martin nói với chính quyền Thiệu ra tuyên bố: tất cả những người Mỹ không nỗ lực tham gia vào chiến tranh, đều không đủ tư cách “nhận nuôi” người Việt Nam, nhưng Martin bác đi, sợ quốc hội hiểu lầm.

 

Ít lâu sau chiến dịch “Phượng hoàng bay” ở Campuchia, Martin nói với một nhà báo: không khí nào ông để cho người Mỹ tản cư nếu những người Việt Nam giúp việc ở sứ quán chưa được đi. Nhưng lúc bấy giờ, kế hoạch tản cư người Việt Nam do chúng tôi thảo chưa làm xong. Họ quá đông, Martincho rằng một cầu hàng không xuất phát từ Tân Sơn Nhất không thể nào chở hết. Do đó, ông sự kiến đến ngày E, sẽ cho những người Việt Nam đi Vũng Tàu, một thanh phố bên bờ biển, ở đó, tàu và máy bay lên thẳng của Hoa Kỳ sẽ đón họ. Nhưng giải pháp ấy cũng không chắc chắn. Như tôi đă nhấn mạnh trong bản nghiên cứu mới đây của tôi về triển vọng cuộc tản cư, không có nhiều hy vọng đi được con đường ấy v́ khi tiến đánh Sài G̣n, cộng sản hay quân đội họ sẽ chặn quốc lộ Sài G̣n - Vũng Tàu.

 

Trong những ngày qua, tướng Smith và nhân viên của ông bắt đầu cho tản cư không ồn ào những người Việt Nam mà tính mạng dễ bị uy hiếp nhất.

 

Chiều 15 tháng 4, tuỳ viên không quân đại tá Mc Cardy đă làm một lịch tối mật những “chuyến bay đen”, nghĩa là ông đă thương lượng được với nhân viên an ninh Việt Nam ở Tân Sơn Nhất cho người Việt Nam bí mật lén vào đường băng càng nhiều càng tốt. Để trả công, ông sẽ dành cho gia đ́nh các sĩ quan những chỗ trên máy bay.

 

Giữa lúc đó, hai nhân viên sứ quán Bob Lanigan và mel Chatman, lúc trước làm việc ở Nha Trang và Đà Nẵng, đưa một đoàn sà lan cũ đến đậu ở cảng mới, bên ngoài Sài G̣n (tr.234) đề pḥng khi tới ngày E, lại thiếu những phương tiện vận tải khác. Smith cà cộng tác viên của ông chế nhạo họ, cho rằng sà lan và tàu kéo không thể nào chạy được trên sông khi cuôc tản cư diễn ra lộn xộn và ồ ạt.

 

Lanigan và Chatman không phải là những người duy nhất trong sứ quán t́m cách cải thiện kế hoạch tản cư. Marvin Garrett, sĩ quan an ninh và nhiều đồng nghiệp của anh hùng tham gia việc này, một việc mà giới quân sự không biết: thu xếp, dọn dẹp những ngôi nhà trong sứ quán để đón được nhiều người tản cư trong ngày E. họ dựng một hàng rào sát trên đường từ sứ quán đến sân chơi và mắc dây thép gai lên tường chung quanh sứ quán.

 

Rồi Garrett và đồng nghiệp anh duyệt lại kế hoạch tản cư không cho phái bộ quân sự biết. Công việc ấy đáng tiếc không có kết quả. Sáng 15, tôi nhận được nhiều tờ giấy stencils đánh máy kế hoạch của họ đặt trong pḥng họp. Tôi nhặt một tờ, đọc kỹ th́ thấy hỏng. Garrett đă sửa đổi kế hoạch đến mức nếu sáng đó là ngày E th́ hàng trăm người Mỹ bị bỏ lại.

 

Tôi chạy lên pḥng làm việc của đại sứ và quăng bản kế hoạch cho Brunson Mc Kinley, một viên chức trẻ của bộ ngoại giao từ Quân khu I về, nay được làm thư kư riêng cho Martin. Tôi nói nghẹn ngào: Ai cho phép phân phát cái này? Tái mặt, Kinley trả lời anh không biết ǵ cả.

 

Một lúc sau, Garrett được gọi lên pḥng làm việc của Martin. Không biết họ nói với nhau những ǵ. Một giờ sau, ḷ sưởi đặt trên mái nhà ngốn cháy hàng trăm bức điện.

 

Giữa mớ ḅng bong ấy, Polgar tỏ ra dè dặt một cách lạ lùng. Càng ngày càng bị những hứa hẹn về một giải pháp chính trị ám ảnh, ông không thiết ǵ đến kế hoạch tản cư của cơ quan ông. Ông biết rằng những người trong chúng tôi muốn cho người Việt Nam di tản nên đă cung cấp cho họ nhiều giấy tờ giả mạo, nhưng ông khuyến khích cũng không chê trách ǵ.

 

Trong khi người Mỹ chật vật với những vấn đề tản cư th́ người Việt Nam mất dần hy vọng và ảo tưởng. Chính (tr.235) phủ mới, chính phủ Cẩn được thành lập ngày 14 tháng 4, nhanh chóng trở thành một tṛ cười. Người ta nhạo báng: Rượu cũ, b́nh mới. C̣n bản thân Thiệu, ông ta có vẻ xa dần thực tế. Ông chỉ có một quyết định quan trọng từ ngày cộng sản tiến công Xuân Lộc: Ra lệnh đóng cửa - tạm thời - những “ba” và pḥng xoa bóp ở Sài G̣n để dành tiền mua vũ khí.

 

Sự hoang mang của giới chính trị cao cấp dẫn theo ngay chủ nghĩa thất bại ngày càng lớn trong mọi tầng lớp xă hội. Có người nói: “Chiến tranh và thất bại. Mất hết. Kể cả tôn giáo Cộng sản sẽ nắm chính quyền”.

 

Chiều 15 tháng 4, tôi viết trong sổ tay: khá bận. Luôn luôn căng thẳng. Ngày dài. Tôi gầy đi. Sáng sáng, vào sáu giờ, tôi thấy trên bàn làm việc những bản báo cáo ma đưa đến ban đêm.

 

Lạ lùng, ảnh hưởng của sự căng thẳng. Tôi thấy có thói quen xấu là thích dùng vũ khí. Mỗi buổi chiều, tôi dành mấy phút để kiểm tra lại súng và xép lựu đạn ở khắp pḥng. Thích điệu rock, thích Joe Cocker, Neil Diamond và nhất là thích điệu nhạc buồn của phim Jonathan Livingston Seagull. Chập tối, tôi mở nhạc thật to để mong đỡ căng thẳng.

 

Vô ích, mọi cái đều báo hiệu: đă hết. Hôm qua, tôi đi qua bể bơi của sứ quán, mặt nước đầy tro giấy tờ bí mật đốt ở ḷ sưởi.

 

Những đồng nghiệp của tôi đă chứng kiến Đà Nẵng hay Phnôm Pênh trong những giờ chót đă thấy xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của sự bao vây mà họ quá biết. Ngoài phố, những đám ăn xin ngày càng tỏ ra hung dữ. Chúng bám lấy khách bộ hành. Bám vào cửa xe hơi. Có cảm tưởng người ta t́m bán đến chiếc áo sơ mi cuối cùng. Chợ kẻ cắp dọc đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi, đầy hàng xa xỉ bán giá rẻ. Tủ lạnh, máy điều ḥa không khí, máy thu thanh, truyền h́nh. Hàng hoá lớn không thể cho vào một chiếc va ly cũng có thể mua được ở đây, bằng một phần ba hoặc một phần tư giá b́nh thường. Hơi xa một chút, trên đường Pasteur hay Tú Xương (tr.236) những biệt thự cũ, đẹp theo kiểu Pháp không c̣n ai ở. Chủ nhà đă vội vàng đi rồi.

 

Đối với những người Việt Nam không có bạn bè, người bảo lănh là người Mỹ, th́ giá chuyến đi đắt kinh khủng. Trong hai tuần, tiền đút lót để có một dấu xuất cảnh hay một hộ chiếu tăng từ năm trăm lên ba ngh́n đôla. Giá vàng nhảy vọt 725 đôla một lạng. nhưng rất ít người buôn Trung Quốc ở Chợ Lớn nhận bán vàng. Phần lớn họ giữ vàng lại, cho rằng vàng cũng có giá trị hợp pháp trong xă hội cộng sản. Ít người c̣n tin tưởng vào đồng đôla Mỹ. Mặc dù lúc này, nó vẫn giá trị hơn đồng bạc. Chỉ trong năm ngày, trên chợ đen, giá một đôla đă tăng từ 1200 lên hai ngh́n đồng.

 

Thiết quân luật từ 21 giờ. Bạn bè và đồng nghiệp người Việt Nam đến làm việc từ sáng. Bữa ăn lót dạ là lúc chào nhau và trao đổi công việc ngoài giờ hành chính. Quan hệ cá nhân trở nên khó khăn. Phải cẩn thận, không được gây cho cô bạn nhỏ hoặc người quen biết sự lo lắng, không được nói rơ sự thật trần truồng cho họ biết, bất cứ ở đâu. Người ta nói xa xôi, bóng gió, úp mở, dùng những ẩn dụ, liên tưởng đến những thời kỳ khó khăn sau này, nói về sự cần thiết phải nhớ đến người Mỹ, đề pḥng cái ǵ sẽ xảy ra v.v...

 

Người Việt Nam đều khôn ngoan. Không ai đề nghị công khai hay giúp đỡ để di tản mà họ tỏ ra khéo léo hơn. Thoạt đầu họ nói: ông làm ơn đổi cho tôi mấy đồng bạc, giá cả lên, ngân hàng giữ tiền lại. Tôi mong có mấy đôla bỏ túi đề pḥng khi cơ nhở. Thế là, anh sa vào việc buôn đôla, đổi đồng bạc lúc nào không biết. Anh đă giúp người này, người khác có một số vốn nhỏ có thể cứu người ấy.

 

Không phải có luật lệ bị vi phạm. Người Việt Nam lúc nào cũng đè chừng, nay bắt đầu tin anh. Họ nói chuyện gia đ́nh, làm ăn, t́nh yêu và nhất là xu hướng chính trị của họ mà trước đây họ thường giữ kín cẩn thận. Họ nói họ không ghét cộng sản nhưng họ sợ! Họ đă ở lâu với người Pháp, người Mỹ sống quen với chính quyền Thiệu, họ thấy khó chịu khi phải sống dưới một chế độ khác. Có thể sự thay đổi mang lại hạnh phúc cho nông dân nhưng c̣n họ, th́ sẽ ra sao đây? (tr.237)

 

Dù nghi ngờ hay cứng rắn đến mấy, cũng không thể không nghĩ rằng, họ có lư. Thật vậy, ngày càng dễ có một nhận định xấu đối với người chiến thắng trước những lời phản tuyên truyền của chính phủ. Nhiều nét tỏ rơ khả năng của kẻ thù, tính tự chủ của họ trước khi lựa chọn một công việc. Những người tị nạn từ Quân khu I và Quân khu II đến kể lại rằng Bắc Việt Nam đă thành lập Ủy ban Quân quản ở những thành phố chiếm đóng.

 

Những chuyện khủng bố dă man được trí tưởng tượng của đài phát thanh Sài G̣n báo chí địa phương và sứ quán Mỹ thổi phồng lên. Theo lệnh của đại sứ, cố vấn chính trị Joe Bennett đă làm một báo cáo giả nói là của một nhà sư ở Buôn Mê Thuột gửi về để vu khống cộng sản. Bản báo cáo viết: “Ở đây chúng lột móng tay phụ nữ, chặt ủy viên hội đồng thị xă ra từng mảnh...” Một cộng tác viên trẻ của Bennett sau này kể lại với tôi như thế trong một buổi chiều. Tin ấy sẽ làm cho nhiều đại biểu quốc hội suy nghĩ.

 

Nhiều người Việt Nam cho những chuyện ấy là đúng, nhất là tư ngày phải chạy trốn khỏi Campuchia. Một buổi chiều, Tư Hà hỏi tôi: có thật cộng sản hành hạ phụ nữ đă đi lại với người Mỹ không? Tôi trả lời không và nói chuyện khác. Sau này tôi trông thấy cô ta, đứng ở cửa sổ, khoái trá nh́n những ánh lửa pháo binh cộng sản bắn vào sân bay Biên Hoà. Từ đó tôi đâm nghi ngờ. Trừ những viên chức trẻ ở văn pḥng, Bennett bị nhồi sọ quá nhiều, không ai tin rằng sẽ có một cuộc thanh trừng lớn khi cộng sản nắm chính quyền.

 

Cộng sản cũng nói rơ chính sách của ḿnh. Từ đầu tháng tư, đài phát thanh Giải phóng tuyên bố sẽ khoan hồng đối với những người hối cải về hoạt động của họ chống chính phủ cách mạng và sẽ nghiêm trị những kẻ chống lại cách mạng.

 

Tôi không muốn đem tính mạng ḿnh ra chơi với những tṛ mập mờ ấy. Tôi có quyền chơi bằng tính mạng người khác không? Bạn bè và hàng xóm ở cùng ngôi nhà với tôi đă trang bị vũ khí để chiến đấu tới cùng. Mấy ngày trước, tôi nhận cùng với Joe Kingsley bảo đảm an ninh cho ngôi nhà (tr.238) và đến ngày E, bảo vệ mái nhà làm nơi dành cho máy bay lên thẳng hạ cánh. Nhưng ngay từ bây giờ, buổi tối trở về, chúng tôi đă lên mái nhà để chỉnh lại đường ngắm của súng M-16 và chuẩn bị những nơi trú ẩn đề pḥng những kẻ bắn lên. Ngôi nhà được dành làm nơi tập hợp của phái bộ quân sự. Do đó, sự kiện đến ngày E, sẽ có hàng trăm người Việt Nam tức giận đến bám vào cửa sắt ra vào.

 

Trong khi đó, ở sứ quán, mọi người sống như nhà có đám tang. Người nghiện rượu uống từ lúc b́nh minh . Nhưng người khác nhai thuốc an thần như nhai kẹo. Riêng tôi, tôi cố không uống nhiều chất cay và không dùng thuốc an thần. Tôi không muốn bối rối hơn những ngày thường.

 

Joe và tôi, hai đứa cố gắng, nhưng vô ích, tỏ ra b́nh tĩnh trước mặt đồng nghiệp Pat đă quá bi quan. Nhưng mỗi lần: Joe đến, hai tay ôm đầy vũ khí, đạn dược, bà không thể không chế nhạo anh ta: “Păng, păng, păng. Chiến sĩ chúng ta đă trở lại”. Thường, Joe trả lời bà bằng một nụ cười hay đưa cho bà một mũ sắt hay một trái lựu đạn. Sáng nay, bà đáp lại: “Không, cảm ơn” trong khi đó Joe đặt một khẩu súng liên thanh Thompson lên bàn. Tôi giảng hoà: “Sân bay có thể đóng cửa bất cứ lúc nào. Vũ khí của anh chẳng dùng làm ǵ cả.”

 

Chiều 15 tháng 4, lúc tôi ghi những gịng chữ cuối cùng th́ t́nh h́nh càng tồi tệ. Chập tối, nhiều trận đánh lớn, ác liệt diễn ra trên đường số 14, cách Sài G̣n 38 kilômét về phái Đông Nam. Ở phía đông, máy bay lên thẳng đang chở quân chính phủ rút khỏi Xuân Lộc đă trở thành cái lỗ cho đạn đại bác. Một sư đoàn xe bọc thép đang pḥng thủ ở phía Bắc thủ đô, được chuyển đi để giải toả con đường nối Xuân Lộc với Biên Ḥa và Sài G̣n. Việc pháo kích sân bay Biên Ḥa đă ngăn chặn máy bay c̣n lại ở đấy không cất cách được.

 

Sáng hôm sau lực lượng Bắc Việt Nam chuẩn bị một trận đánh mới. Quân của tướng Dũng sau khi chiếm Nha Trang, Cam Ranh, trên bờ biển, đang bao vây sở chỉ huy của tướng Nghi ở Phan Rang, phía Nam Quân khu II. (tr.239)

 

Mấy ngày trước, CIA điện cho một nhân viên ở Phan Ranh bắt liên lạc với bộ tham mưu của Nghi. Anh ta đang ở trên đường hành quân của 25.000 quân Bắc Việt Nam. Lew James, con người không gặp may ấy, là một t́nh báo trẻ, 15 ngày trước, đă từ chối không rời Nha Trang trước khi làm hết sức ḿnh để cứu nhân viên CIA người Việt Nam ở địa phương. Polgar quyết định một lần nữa sử dụng ḷng dũng cảm của anh và đổi đi công tác ở bộ tham mưu tướng Nghi.

 

Mọi việc diễn ra nhanh hơn dự kiến. Sáng 16 tháng 4, tôi vừa đọc xong tin tức nhận được ban đêm th́ có một tin radiô do James điện về. Tôi vội cùng Joe Kingsley chạy đến pḥng nhận tin. Liên lạc rất xấu, nhưng James chỉ biết anh đang chú trọng một bunker với Nghi và tướng Phạm Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn không quân thứ sáu. Anh cho biết: mọi việc tốt đẹp, xe tăng Bắc Việt Nam đang tiến công vùng ngoại ô. Joe trả lời sẽ cho máy bay lên thẳng đến cứu. James nói: Không cần thiết. Chưa đến lúc phải làm thế. Quân Nam Việt Nam c̣n cầm cự được. Và Nghi có máy bay lên thẳng riêng

 

Lúc đó, Howard Archer, nguyên trưởng chi nhánh CIA ở Nha Trang đến. Anh dằng lấy micro và đ̣i James cho biết rơ t́nh h́nh. Anh ra một quyết định làm tôi và Kingsley ngạc nhiên: James phải ở lại, ít nhất lúc này. Nhưng cứ nửa giờ James phải cho chúng tôi biết t́nh h́nh. Đó là chuyến liên lạc bằng radiô cuối cùng với Lew James.

 

Mấy giờ sau, khi quân cộng sản chiếm được Phan Rang, họ bắt James, Nghi và Sang. Đài phát thanh giải phóng báo tin rất nhanh bắt được hai tướng Việt Nam nhưng không nói ǵ về người Mỹ. Việc đó có nghĩa là có thể James đă trốn thoát, có thể anh bị chết. Thật ra, Bắc Việt Nam muốn giữ yên lặng cho đến khi biết rơ căn cước của anh ta.

 

Điều đó đối với họ tương đối dễ. Nhưng phần đông chúng tôi, James được cử sang Việt Nam dưới một danh nghĩa khác. Trên thẻ căn cước chính thức của anh có ghi: quan chức bộ ngoại giao bổ sang làm nhân viên sứ quán Mỹ. Danh nghĩa ấy rơ nhất. Các nhà báo, nhà chức trách Việt Nam và những người muốn biết tông tích nhân viên CIA làm việc ở sứ quán từ lâu đă biết rơ bí mật này.

 

Hôm sau ngày James bị bắt, sĩ quan Bắc Việt Nam bắt đầu hỏi cung anh. James không khai ǵ, chỉ trả lời: không biết tí ǵ về t́nh h́nh chung. Một tuần sau, James và hai tướng Việt Nam được chuyển ra Hà Nội giam ở Sơn Tây cùng với nhiều phi công Mỹ đă bị giam ở đây hàng năm nay. Bắc Việt Nam tiếp tục hỏi cung James. Họ có cả một hồ sơ lớn về anh, gửi từ Lào sang, nơi trước kia James công tác. Hồ sơ ghi rơ anh là nhân viên t́nh báo CIA. Từ đó, James không thể trả lời là không biết ǵ về CIA, về các nhân viên và hoạt động của cục t́nh báo trung ương Mỹ.

 

Sáu tháng sau khi Nam Việt Nam thất thủ, Hà nội thả James cùng với mấy người phương Tây bị bắt ở Buôn Mê Thuột nhờ một cuộc “dàn xếp về nghề nghiệp” do CIA phối hợp với một tổ chức t́nh báo khác ở phương Tây tiến hành. James thật sự là nhân viên t́nh báo CIA cuối cùng ở Việt Nam.

 

 

TRONG TRƯỜNG HỢP BI ĐÁT NHẤT

 

 

Khi tin James mất tích loan ra khắp cơ quan CIA ở Sài G̣n, nhiều bạn vội vàng lên máy bay lên thẳng, đi t́m anh dọc bờ biển từ Vũng Tàu đến Phan Rang suốt 48 giờ sau. Cuộc t́m kiếm vừa vô ích vừa nguy hiểm. Lực lượng Bắc Việt Nam lúc này hành quân suốt ngày dọc bờ biển, đặc biệt không thích tiếng gầm rú của máy bay không quân Mỹ. Có một lúc, một máy bay hai động cơ Volgar bay quá thấp trên đầu họ, dọc con đường phía Bắc Phan Thiết, đă bị súng AK-47 của họ bắn thủng. Viên phi công bất chấp nguy hiểm, vội nhảy dù xuống một băi biển cách đó mấy kilômét. Một máy (tr.241) bay Huey của không quân Mỹ vội đi cứu, cứu được cá nhân viên CIA cùng đi với người lái. Một tiếng nói trên hệ thống radiô Diamant báo tin: không ai việc ǵ. Từ đó, Polgar từ chối không dám mạnh dạn cho người đi t́m kiếm nữa.

 

Trong khi đó, ở Hoa Thịnh Đốn, chính phủ gặp thêm nhiều khó khăn. Cuộc vận động ḥa b́nh gián tiếp của Kissinger không có kết quả. Liên Xô và Trung Quốc đều từ chối không triệu tập một hội nghị quốc tế mới bàn vấn đề hoà b́nh ở Đông Dương như Nhà Trắng yêu cầu.

 

Chủ nghĩa bi quan, ngay cả chủ trương thất bại nữa đă tràn vào bộ máy cai trị, Habile và Ingersoll, cố vấn chính của Kissinger, đều rất bối rối về sự đánh giá của Martin, hay đúng hơn là về việc đại sứ thiếu sự đánh giá. Bill Hyland, trưởng ban tin tức bộ ngoại giao, vừa tuyên bố rằng Nam Việt Nam chỉ c̣n giữ được mấy ngày nữa. Những cán bộ nhận định t́nh h́nh ở bộ quốc pḥng nói riêng với các nhà báo: bộ tổng tư lệnh Sài G̣n chắc chắn không thể thu thập được tàn quân chạy từ Quân khu I và Quân khu II về để ngăn chặn cộng sản, giành chiến thắng cuối cùng.

 

CIA và những người nhận định tin của bộ quốc pḥng đặc biệt lo ngại về tin báo tên lửa Sam-2 đă xuất hiện trong Quân khu III. Nếu Bắc Việt Nam đặt xong tên lửa ở vùng phụ cận Sài G̣n th́ mọi cuộc tản cư bằng máy bay ở đây không thể nào thực hiện được.

 

Nhiều ngày qua, các hệ thống vô tuyến thuyền h́nh, báo chí đều nói Nhà Trắng xúc tiến việc tản cư nhân viên người Việt Nam ở Sài G̣n. Các cơ quan thông tin đều nhất trí cho rằng một ḿnh Martin không thể điều khiển được việc này. Quốc hội cũng bắt đầu lo ngại. Rơ ràng là chính phủ muốn giữ kiều dân Mỹ lại ở Sài G̣n để buộc quốc hội phải thông qua luật bổ sung viện trợ cho Việt Nam và hợp pháp hoá sự can thiệp của quân đội Mỹ.

 

Bản tường tŕnh do các bạn tôi: Dick Moose và Chuck Miessner, làm theo lệnh của ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện, giữ một vai tṛ quan trọng hàng đầu. Ngày thứ hai, 14 tháng 4, chỉ mấy giờ sau khi họ trở về Hoa Thịnh Đốn, họ đă báo cho ủy ban kết quả cuộc điều tra, sự khám phá của họ. Dựa vào những tài liệu của tôi và nhiều người khác cung cấp ở Sài G̣n, họ dự đoán quân cộng sản sẽ chiếm vúng phụ cận Sài G̣n từ nay đến ngày 1 tháng 5.

 

Vạch rơ sự phản đối chống Thiệu ngày càng tăng và sự căm ghét mỗi lúc một lớn đối với kiều dân Mỹ, họ nói rằng ngay ở sứ quán cũng có một nhóm người tán thành tản cư cấp tốc. Tuy nhiên đại sứ Martin và quan chức cao cấp của ông không đồng ư với tính chất cấp tốc ấy. Họ đề nghị với quốc hội can thiệp với chính phủ bỏ ngay những hạn chế về việc nhập cư trước khi bỏ phiếu về viện trợ tài chính cho Việt Nam. Điều đó trái với chính sách của Kissinger. Hai anh bạn tôi cũng đề nghị hoăn cuộc tranh luận về việc sử dụng lực lượng vũ trang cho đến khi hầu hết người Mỹ đă rời Sài G̣n v́ rằng: “nhiều phần tử trong nhân dân Việt Nam đă quá tức giận, có thể rất khó chịu về cuộc tranh luận ấy”. C̣n về viện trợ tài chính th́ không có ai, kể cả giới quân sự Việt Nam nghĩ rằng, viện trợ bổ sung có thể đảo lộn được t́nh h́nh đang diễn ra!

 

Hai người cũng không lạc quan về triển vọng của một cuộc đàm phán. Họ tŕnh bày rằng: “Cuộc đàm phán chỉ dẫn đến việc thảo luận những điều kiện đầu hàng, việc thành lập một đầu cầu chống lại chính phủ hiện nay”. Nhưng họ nói vẫn có thể thử xem.

 

Sau khi họ đọc xong tham luận, thượng nghị sĩ Clifford Case gọi Nhà Trắng, đề nghị với tổng thống tiếp xúc ngay với ủy ban đối ngoại thượng nghị viện. Sau đó, tất cả các ủy viên họp ở pḥng bầu dục. Trong buổi họp, họ đề nghị bỏ phiếu chuẩn y một số tiền nhỏ làm viện trợ nhân đạo và cho phép sử dụng quân đội để bảo vệ người Mỹ tản cư, với điều kiện việc tản cư được tổ chức trong những thời hạn nhanh nhất. Ford tránh né. Ông từ chối không cam kết tôn trọng ngày giới hạn và không đồng ư buộc việc viện trợ bổ sung, việc sử dụng quân đội phải phụ thuộc vào việc tản cư hoàn toàn người Mỹ.(tr.243) Ông cũng không muốn nghe thấy từ nghĩa vụ đối với người Việt Nam muốn di tản.

 

Kissinger và các đồng nghiệp ông trong chính phủ t́m hết cách để làm yên ḷng quốc hội nhưng họ vẫn mong số tiền 722 triệu đôla được chuẩn y, họ không muốn bỏ Thiệu như giải pháp của Martin.

 

Sáng 15 tháng 4, chỉ mấy ngày sau khi Martin điện cho Nhà Trắng, Kissinger và nhiều nhân viên chính phủ mở cuộc tiến công cuối cùng vào quốc hội. Kissinger cũng làm việc gần cả ngày với ủy ban đối ngoại thượng nghị viện. Ông t́m ra một lư lẽ mới: “Số tiền chúng tôi yêu cầu sẽ giúp chính phủ Nam Việt Nam thương lượng với những điều kiện gần như tự trị”. Có người hỏi: như thế nghĩa là thế nào, ông giải thích: “Tôi đặt giả thuyết là họ (người Nam Việt Nam) mong thực hiện những điều khoản của Hiệp định Paris qui định sẽ thành lập một hội đồng quốc gia ḥa giải và ḥa hợp dân tộc”. Điều đó không phải giải thích dài. Không ai, kể cả người Pháp dám nghĩ rằng cộng sản nay sẵn sàng liên hiệp tay ba. Bản tường tŕnh của chúng tôi về ư đồ cụ thể của Hà Nội, ngày 8 tháng 4 đă loại trừ hẳn trường hợp này. Kissinger đă lấy nguyện vọng của ḿnh làm sự thật.

 

Tŕnh bày trước ủy ban, tướng Weyand nói: nếu không có viện trợ bổ sung, Sài G̣n sẽ sụp đổ trong một tháng. Bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger lấy danh nghĩa cá nhân, c̣n đưa ra một giả thuyết đen tối hơn. Theo ông, nếu cộng sản nắm chính quyền th́ có thể hai trăm ngh́n người Việt Nam sẽ bị giết. Sáng hôm sau, tờ báo Pacific Stars and Stripes (tờ báo của quân đội Mỹ), xuất bản ở Sài G̣n, đăng lại lời tuyên bố ấy bằng chữ đậm, làm cho người Việt Nam càng thêm hoảng sợ.

 

Ở Hà Nội, ban lănh đạo Đảng khai thác t́nh h́nh ấy khá mềm dẻo làm cho Hoa Thịnh Đốn càng thêm bối rối. Có vẻ họ muốn đẩy quốc hội nhanh chóng có quyết định về cuộc tản cư nên bộ trưởng ngoại giao Bắc Việt Nam ngày 10 tháng 4 tuyên bố: quân giải phóng lúc nào cũng sẵn sàng tạo điều kiện cho cố vấn Mỹ rút về nước b́nh yên vô sự.(tr.244)

 

Đại sứ Martin theo dơi diễn biến ở quốc hội với tâm trạng đau khổ. Ông cho rằng nếu chính phủ Hoa Kỳ xúc tiến việc tản cư th́ lâu đài bằng b́a giấy Sài G̣n sẽ sụp đổ. Đối với ông, không có lựa chọn nào khác là tranh thủ thời gian cho đến lúc quốc hội có quyết định về viện trợ cho Việt Nam.

 

Cuộc đánh đố giữa đại sứ Martin, Nhà Trắng, các bộ ngoại giao và quốc pḥng và nhất là giữa các vị đại biểu quốc hội về số phận của Việt Nam, kéo dài một vài ngày nữa. Để được ḷng đại chúng, Martin cho phép giám đốc vô tuyến truyền h́nh Mỹ CBS (Columbia Broadeating System) bí mật tổ chức một cầu hàng không để tản cư các nhân viên người Việt Nam. Khoảng sáu trăm người nhờ đó rời được Sài G̣n.

 

Trong khi đó các cơ quan t́nh báo, viên chức dân sự và quân sự Mỹ tranh nhau để được tản cư sớm. Họ đưa ra nhiều lư do, nào là cấp bậc nghệ nghiệp, quyền lợi bản thân, những cái đó đáng kể hơn số phận của hai trăm ngh́n người Việt Nam chỉ sợ cộng sản đến. Trường hợp bi đát nhất, cuộc tản cư nguy hiểm bằng máy bay lên thẳng giữa cuộc chiến ở Sài G̣n mà các cơ quan rất lo sợ, chưa được đại sứ bàn đến. Và Hoa Thịnh Đốn cũng chưa có quyết định về số phận Thiệu. Ông ta ra đi. Hay không ra đi? Nhất là ư đồ của Hà Nội ra sao đây?

 

Sáng 17 tháng 4, chúng tôi được tiếp một nhân viên t́nh báo CIA có tài. Anh nói: Bắc Việt Nam tiếp tục tiến công cho đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn, dù Thiệu có đổ hay Hoa Kỳ có cung cấp viện trợ bổ sung cho Sài G̣n, cũng thế. Hà Nội kiên quyết thực hiện nghị quyết cuối tháng 3 năm 1975, dù có phần hy sinh nhiều trong một cuộc tổng tiến công c̣n hơn là mất th́ giờ để t́m thắng lợi qua việc thành lập một chính phủ liên hợp. Hà Nội kiên quyết không có thương lượng, không có chính phủ liên hợp.

 

Khi tôi hỏi anh về ngày tiến công cuối cùng vào Sài G̣n, anh trả lời, ngày đó được hoăn lại. Trước định vào ngày 19 tháng 4 nhưng bộ tổng tư lệnh cộng sản mới quyết định là sẽ kỷ niệm ở Sài G̣n ngày sinh của cụ Hồ Chí Minh nghĩa là 19 tháng 5 (đúng là mục tiêu cụ thể do tướng Dũng và các đồng (tr.245) chí của ông định ra chỉ cách đây một hay hai ngày). Anh cho rằng để đạt được mục tiêu ấy, muộn lắm là ngày 1 tháng 5, Bắc Việt Nam phải bắt đầu tiến công.

 

Trước hết họ đánh các sân bay, những kho vũ khí và các căn cứ quân sự. Trong cuộc tiến công Sài G̣n không những họ sử dụng pháo binh hạng nặng mà cả cả không quân. Trạm ra đa đă được đặt trên núi Bà Đen, phía Bắc Tây Ninh, sẽ hướng dẫn cuộc đánh phá bằng máy bay. Anh nói thêm: bộ tổng tư lệnh c̣n đề ra biện pháp để bảo vệ những đoàn đại biểu cộng sản ở sân bay Tân Sơn Nhất.

 

Khi tôi trở lại sứ quán, Polgar không có trong pḥng làm việc. Tôi đến gặp Pittman, người phó của ông, ngồi pḥng bên. Tôi đang thuật lại cho Pittman nghe cuộc nói chuyện trên th́ Polgar vào. Ông chú ư lắng nghe ngay mấy phút, mặt tỉnh bơ, rồi ngắt lời tôi: “Không có ǵ mới trong câu chuyện ấy. Chúng tôi biết cả rồi. Nói ra vô ích”. Nói xong, ông bỏ ra.

 

Tôi ngạc nhiên. Không có ǵ mới? Chắc ông lầm. Quên cả Pittman, tôi vội vàng chạy đến pḥng Polgar cố làm cho ông thay đổi ư kiến. Đúng, có thể chúng ta đă nhận được những mẩu tin xấu về vấn đề này. Nhưng lần này, nhân viên của ta cung cấp đầy đủ hơn với những cho tiết quan trong, mục tiêu của chiến dịch và nhất là việc hoăn ngày tiến công. Không một báo cáo mới nhất nào của chúng ta cung cấp nhiều tin như thế về kế hoạch gần đây của Hà Nội.

 

Polgar găi mũi một cách khó chịu. Ông tỏ ra không nghe tôi nói. Tôi đề nghị ông để tôi gửi những điều ghi chép về Hoa Thịnh Đốn bằng đường dây nội bộ, để cán bộ nghiên cứu tại chỗ của CIA phân tích làm tài liệu cho họ. Măi ông mới đồng ư và nhấn mạnh: gửi bằng đường dây nội bộ, đó là bản báo cáo của tôi chỉ dành riêng cho bộ chỉ huy CIA. Ở Hoa Thịnh Đốn, không ai được nhận nữa. Hiếm khi có một tin quan trọng như thế lại chỉ được một cấp thấp tiếp nhận.

 

Trời ơi, may quá, Hoa Thịnh Đốn lại nhận nó một cách vui vẻ. Bộ chỉ huy CIA liền công khai hoá nó ngay và xếp vào loại tin tối ưu gửi cho khách hàng chính: Kissinger, Bộ tổng tư lệnh Gayler ở Honolulu và cả sứ quán Sài G̣n nữa. Gayler sốt ruột đến mức gọi dây nói thẳng cho chi nhánh CIA Sài G̣n bằng đường dây nóng để kiểm tra mấy điểm, nhất là điểm nói về cuộc tiến công bằng không quân có rađa hướng dẫn.

 

Nhiều tin tức đến ban đêm bằng nhiều đường khác nhau khẳng định những tin vừa biết là đúng. Những nguồn đáng tin cậy nêu rơ phi công Bắc Việt Nam đang tập luyện với những máy bay chiếm được ở Đà Nẵng. Một nhân viên t́nh báo chắc rằng cuộc tiến công vào Sài G̣n từng hoăn lại những vẫn sẽ được tiến hành.

 

Mặc dù sau này, đại sứ Martin công nhận rằng, ông cũng như Polgar, không đánh giá đúng mức giá trị của tin trên, nhưng lúc này, ông tỏ ra chấp nhận tin ấy hơn. Chấp nhận những kết luận của bản tin có nghĩa là công nhận sắp có thảm họa đến nơi.

 

Sự hiểu lầm của Polgar làm tôi cay đắng và sợ hăi. Martin và Polgar càng không cho là cuộc tiến công của cộng sản sắp diễn ra. Họ đành để cuộc tản cư phải phụ thuộc vào tṛ chơi ḥa b́nh. Quá băn khoăn về điều đó, một lần nữa, tôi báo cho Hoa Thịnh Đốn biết (như tôi đă làm trước qua Moose và Miessner) Martin và Polgar xa thực tế quá mức.

 

Chiều ấy, Alan Carter, phụ trách cơ quan thông tin, mời mấy nhà báo Mỹ ăn cơm. Bữa tiệc đối với anh là một hành vi phản kháng v́ Martin đă cấm không cho Alan Carter tiếp xúc với giới báo chí, trừ những nhà báo do Martin giới thiệu với anh.

 

Tôi nói với Carter cho tôi dự. Anh trả lời: Được thôi, không có vấn đề ǵ cả. Nhưng tôi phải báo cho anh biết, hầu hết khách mời của tôi đều biết anh là CIA. Họ sẽ hỏi anh những vấn đề cơ bản. Tôi nói: Đúng là những điều tôi muốn nói.

 

Họ là những người được lựa chọn đúng. Vô tuyến truyền h́nh có Garrich Utley ở đài NBC và Bob Simon thuộc đài (tr.247) CBS. Có bốn người viết báo: Keyes Beeck ở tờ Chicago Daily News và George Mc Arthur ở tờ báo Los Angeles Times, là hai phóng viên chiến tranh lâu ngày đă sống và làm việc ở Việt Nam. Fose Betterfield thuộc tờ New York Times đến muộn, anh khoe khoang về cuộc tiếp xúc giữa anh với Martin và Polgar. Phil Mc Comles cũng thế. Ông là con vật đen mới của sứ quán. Là người trước đây thảo diễn văn cho thượng nghĩ sĩ bảo thủ ở New York, James Buekley, mấy tháng trước, ông đă viết trên báo Washington Post một loạt bài về các vấn đề tham nhũng và tinh thần sa sút của quân đội Nam Việt Nam làm Martin tức giận.

 

Hầu hết khác dự tiệc đă nghe tôi nói chuyện. Họ biết tôi nhận được nhiều tin. Do đó họ rất chú ư nghe tôi trong bữa ăn. Sau khi nói vắn tắt về cân bằng lực lượng, tôi nhấn mạnh: chắc chắn cộng sản đă chọn giải pháp quân sự và họ định kỷ niệm ngày sinh của cụ Hồ Chí Minh ở Sài G̣n. Họ không có ư ǵ về dàn xếp thương lượng hoặc một sự đầu hàng trá h́nh. Tôi nói với các nhà báo: Tôi nêu ra những tin này mong các bạn viết ngay về Hoa Thịnh Đốn.

 

Mc Arthur và Betterfield ngạc nhiên về ư kiến của tôi. Hai người vừa phỏng vấn quan chức cao cấp ở sứ quán. Họ nhắc lại những điều nghe được: 1) Cộng sản không có đủ người, đủ con bài chính trị để nuốt một lúc cả nước, 2) Với một vài thay đổi trong chính phủ Sài G̣n, họ có thể chấp nhận, trong một thời gian, cơ cấu chính trị hiện nay, có lẽ để tăng thêm hy vọng được nhận viện trợ và tài chính của các nước không cộng sản.

 

Tôi công nhận những điều ấy có một ư nghĩa nào đó nhưng hoàn toàn là dựng đứng. Và tôi nhấn mạnh những điều tôi nói với họ phản ảnh đúng lập trường mới đây của Hà Nội, không có ǵ bịa đặt. Không một phóng viên nào dám viết bài thuật lại những điều tôi nói. Mấy tháng sau, Beeck xin lỗi tôi:  Đại sứ dọa giới báo chí đến mức không nhà báo nào dám viết những bài không do giới chính thức (trừ Polgar) cho biết. (tr.248)

 

Những nổ lực của tôi không hoàn toàn vô ích. Nhiều nhà báo dự bữa cơm hôm ấy, sau này thường gọi tôi, hỏi thêm tin phụ hay bảo tôi cho nhận xét về những bài phóng sự mặt trận.

 

Ngày ngày qua đi, nhân viên của chúng tôi biến dần. Tin tức do các phóng viên viết chỉ phản ánh t́nh h́nh ở cách Sài G̣n mấy kilômét mà thôi.

 

 

MỘT CUỘC TẢN CƯ “CÓ TRẬT TỰ”

 

 

Sáng thứ sáu 18 tháng 4, bộ ngoại giao ở Hoa Thịnh Đốn có bàn đến bản tin của nhân viên t́nh báo của tôi. Tuy nhiên, di trục trặc đường dây nên bản tin đưa đến nđược pḥng làm việc của Kissinger quá muộn. Bộ trưởng ngoại giao đă chủ động đề ra việc nối lại đàm phán, coi như đă có sự thoả thuận.

 

Đêm trước, Kissinger nói chuyện bằng dây nói rất lâu với Martin. Ông bảo đại sứ thăm ḍ không những Hà Nội mà nhiều nơi khác nữa...Trong khi nhiều hoạt động chính trị diễn ra th́ các cơ quan Mỹ bắt đầu giản nhân viên người Mỹ cũng như người Việt Nam. Những chuyến “bay đen” được tổ chức giữa Thái Lan, Philippines và Hoa Kỳ. Những quan chức cao cấp Mỹ lợi dụng sự mềm dẻo của thể lẹ nhập cư, cho lái xe, đầu bếp, người làm vườn ra đi. Ở lại chỉ c̣n những người Việt Nam mà tính mạng dễ bị uy hiếp.

 

Trong khi sứ quán bắt đầu giai đoạn thứ nhất giảm số nhân viên th́ lănh sự quán Biên Hoà cũng thu xếp hành lư. Sáng 18, chỉ c̣n ở đây 8 nhân viên CIA và năm viên chức bộ ngoại giao. Một đám mây tro bụi từ ḷ sưởi bốc lên: lính thuỷ đốt những hồ sơ mật cuối cùng.

 

Trước buổi trưa, Taggart, trùm chi nhánh CIA ở đây, cho nhân viên trẻ là John Stockwell, lên máy bay lên thẳng về Sài G̣n (tr.249). Trong ba ngày qua, hai người căi nhau kịch liệt và Stockwell đ̣i tản cư tất cả nhân viên người Việt nam giúp việc. Không để đến lệnh của Taggart, anh ta định tổ chức một đoàn tàu chạy từ sông ra biển. Nghe tin ấy, Taggart vội vàng cho nhân viên hấp tấp về Sài g̣n, sợ ông gieo rắc hoang mang trong thị xă Biên Ḥa.

 

Xế chiều, khi Taggart cùng Stockwell đến gặp Polgar, Taggart đă lên án Stockwell là không tuân lệnh và đệ nghị với Polgar cấm không cho thực hiện cuộc tản cư bằng đường thuỷ. Polgar thông cảm với Stockwell ôm rơm dặm bụng. Có phải để bảo đảm cho đoàn tàu đến nơi, đến chốn, anh ta định đi theo đoàn tàu không? Lew James vừa bị cộng sản bắt. Polgar không thể để Stockwell đem vạ vào thân.

 

Sau buổi họp ấy, Taggart một ḿnh trở lại Biên Ḥa, đem trả tỉnh trưởng tất cả tàu bè do Stockwell thu thập. Một số nhân viên người Việt Nam giúp việc Taggart về Sài G̣n bằng phương tiện riêng. Không có nhiều người đi được máy bay. Taggart và Dick Peter, tổng lănh sự ở Biên Ḥa rời nước này trước khi Sài G̣n thất thủ mấy ngày. Họ để mặc sứ quán lo cho những người Việt Nam giúp việc họ.

 

Sáng 18 tháng 4, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bắt đầu thấy rơ việc không thể tránh được. Sáng sớm, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III, đi máy bay từ sở chỉ huy ở Biên Ḥa đến báo cho Thiệu biết đă thua trận rồi. Quân đội đang tán loạn, số quân quá ít. Chỉ hy vọng chống cự được hai ba ngày nữa thôi.

 

Để đánh dấu buổi sáng ấy, Thiệu tiếp một đoàn đại biểu các nhân vật ôn ḥa vào trước buổi trưa. Những người đến dự cho Thiệu biết: thời kỳ của Thiệu đă hết. Nếu ông ta không ra đi trong hạn sáu ngày th́ họ buộc phải đ̣i ông từ chức.

 

Để làm yên ḷng những người đối lập, Thiệu ra lệnh bắt nhiều sĩ quan, theo ông, thật sự là những kẻ phải chịu trách nhiệm về những thảm hoạ trong những tuần qua. Trong những kẻ bị nhốt vào nhà lao có viên tướng khốn khổ Phạm Văn Phú (tr.250) mấy ngày trước bị hôn mê được đưa vào nằm ở một bệnh viện gần Sài G̣n.

 

Buổi chiều, sứ quán đến cứu Thiệu một lần nữa. Đêm trước, do một nguồn tin Việt Nam tướng Charles Timmes được biết Nguyễn Cao Kỳ định làm đảo chính. Nghe thấy chuyện đó, Martin quyết định thuyết phục Kỳ. Ông cùng Timmes đến gặp Kỳ ở sân bay Tân Sơn Nhất.

 

Họ thảo luận với nhau trong hai giờ. Martin và Timmes cố nói cho Kỳ rơ: Ông ta và chiến hữu có một vị trí trong ván bài đang chơi. Thực tế, Martin nghĩ khác: Việc Kỳ tham gia chính phủ sẽ tiêu tan mọi hy vọng thương lượng. Nhưng đại sứ cho rằng cách duy nhất để bảo đảm cho việc thay đổi chính phủ theo hiến pháp là gây cho Kỳ và những cái đầu nóng khác cảm tưởng rằng họ có phần trong đó. Martin đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuối buổi họp, Kỳ chấp nhận để Thiệu yên vị miễn là thực quyền được trao cho một người khác, như ông ta chẳng hạn. Tiếc thay, đối với những nhà viết sử, cuộc trao đổi giữa Martin và Kỳ chưa bao giờ được dựng lại đầy đủ. Tối hôm đó, lúc Timmes ngồi viết lại tường thuật buổi nói chuyện th́ ông thấy mấy thu thanh giấu trong cặp đă bị hỏng. Suốt đêm, ông ngồi cố nhớ lại những cũng chỉ ghi đúng được một phần cuộc thảo luận. Sau đó, đại sứ đă phê b́nh ông.

 

Ngoài những người định lật đỗ và Bắc Việt Nam, Thiệu c̣n vấp phải một vấn đề nữa: đó là tiền. Trước đó gần một tháng, ông ta đă gửi tàu thuỷ đi Đài Loan và Canada phần lớn gia tài và đồ đạc. Nhưng c̣n tài sản quốc gia gồm 16 tấn vàng đáng giá 220 triệu đôla chiếm gần hết dự trữ của nhà nước vẫn chưa được gửi đi.

 

Trước đó, Thiệu định giữ kín và gửi đi Paris cho ngân hàng quốc tế, ở đấy đă giữ một phần vàng của Nam Việt Nam, đáng giá năm triệu đôla. Như ông ta nói với những người hợp tác với ông, 16 tấn vàng này dùng để mua vũ khí, đạn dược cho quân đội. Nhưng mấy ngày trước khi gửi đi, một người báo tin cho sứ quán biết. Một cộng tác viên của Martin cho là (tr.251) không thể tin được Thiệu, nên đă tố cáo với giới báo chí. Kết quả: các hăng Hàng không Thiệu điều đ́nh để chở số vàng ấy đi, không nhận chở nữa. Kế hoạch của Thiệu bị vỡ.

 

Martin cũng can thiệp kịp thời. Để đánh tan mọi điều nghi ngờ, ông khuyên Thiệu gửi vàng sang ngân hàng New York, việc đó rất hợp pháp. Thiệu chấp nhận. Ngày 16 tháng 4, sứ quán điện cho Hoa Thịnh Đốn xin một chuyến máy bay quân sự đặc biết được bảo hiểm để chở số vàng đi New York. Nhưng không quân và ngân hàng New York không sẵn sàng bảo hiểm cho một tài sản lớn như thế gửi từ một nước đang có chiến tranh. Công việc kéo dài một hai ngày, 18 sư đoàn Bắc Việt Nam tiến vào Sài G̣n bằng mọi đường. Vàng vẫn nằm yên trong kho ngân hàng quốc gia. 

 

NÚT CỦA HOẢNG LOẠN

  

Có thể tin những bản báo cáo đến mức nào? Không thể biết chắc được. Ngày thứ bảy, 19 tháng 4 trôi qua. Không có cuộc tiến công thẳng vào Sài G̣n. Quân cộng sản tiến chậm. Có thể tin rằng các nhân viên t́nh báo của chúng tôi nói đúng. Nhưng cuộc tiến công của quân Bắc Việt Nam không phải được hoăn lại. Pháo binh của họ lần đầu tiên bắn phá đảo Phú Quốc, ở đấy có năm mươi ngh́n người tị nạn. Hai sư đoàn Bắc Việt Nam đánh Phan Thiết. Đáng sợ nữa là những xe tải chở tên lửa Sam-2 đang từ hướng Đông Bắc tiến về phía Sài G̣n.

 

Những dấu hiệu chính trị không có ǵ phấn khởi. Trong buổi họp báo thường kỳ vào sáng thứ bảy hàng tuần, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Tân Sơn Nhất, đại tá Vơ Đông Giang, đă nâng cao giá lên. Ông đ̣i như trước, tất cả cố vấn Mỹ giả làm dân thường phải rút đi và điều mới là Martin cũng phải ra đi. Ông Giang nói: “Martin có vẻ là một nhà ngoại giao Mỹ nhưng thực tế ông đă điều khiển mạnh mẽ mọi lĩnh vực quân sự, chính trị và kinh tế. Ông ấy phải chịu trách nhiệm về mọi hành động tội ác do chế độ Thiệu gây ra”. Điều đó có phải có nghĩa là ông Giang muốn xoá mọi vết tích về sự có mặt của Mỹ ở Sài G̣n một khi Hà Nội chiến thắng không? Những điều ông Giang nói khá ngoắt ngoéo: “Nếu một ngh́n kiều dân Mỹ ở lại th́ không có vấn đề ǵ cả những sự có mặt của một cố vấn Mỹ cũng là một điều vi phạm nghiêm trọng hiệp định Paris!”

 

Polgar lại hiểu lời ông Giang như sau: Có khả năng duy tŕ sự có mặt tối thiểu của Mỹ ở Sài G̣n dù t́nh thế nào xảy ra, đúng như lời Trần Văn Đôn nói với chúng tôi mấy hôm trước đây. Có thể ta vẫn mở ra con đường thương lượng chính trị trật sự.

 

Tôi viết một bản tường tŕnh bác bỏ luận điểm ấy, nhấn mạnh những điều không rơ ràng của ông Giang nhất là không có sự có đi có lại. Polgar đọc bản trường tŕnh ấy, để ra một bên, không gửi đi đâu cả, kể cả cho đại sứ.

 

Vả lại, Malcolm Brown, tổng biên tập báo New York Times chẳng đă viết rằng những ư kiến của ông Giang làm cho người ta hiểu là vẫn c̣n th́ giờ để thoả thuận về những điều kiện của cộng sản là ǵ? Thật ra, không có một sự trùng hợp nào về vấn đề này cả. Trong những ngày qua. Polgar đă cung cấp cho Brown nhiều tin bí mật. Ông lấy Brown làm người tâm sự...Polgar vào pḥng tôi, bảo tôi làm tôi bản báo cáo về t́nh h́nh quân sự. Ông nói: viết thật đen tối vào, đại sứ sẽ dùng bản báo cáo để thuyết phục Thiệu rút lui. Polgar làm tôi nản biết mấy, đến mức phải mất một lúc tôi mới hiểu ra những điều ông dặn ḍ.

 

Tôi không có ǵ phải thêm vào bản báo cáo: phản ánh đúng sự thật là thấy rơ sự đen tối ngay: với sự sụp đổ của quân đội chính phủ ở Xuân Lộc, và sự tiếp viện của quân đội Bắc Việt Nam ở Quân khu III, cán cân lực lượng ở vùng (tr.253) rông lớn Sài g̣n đă nghiêng hẳn về phía Bắc Việt Nam và Việt cộng. Đó là kết luận bản báo cáo của tôi. Mười lăm ngày nữa th́ Sài G̣n sẽ bị bao vây hoàn toàn. Có khả năng trong ba hay bốn tuần nữa sẽ rơi vào tay cộng sản. Tôi định viết: có thể nhanh hơn nữa nhưng Polgar đă ngăn lại.

 

Sau này, bản báo cáo của tôi gần như trở thành một tài liệu lịch sử nhưng  không phải v́ những lư do tôi tưởng. Khi Thiệu rời bỏ chính quyền, ông ta để hồ sơ nguyên vẹn. Không ai mất công phá huỷ đi cả. Cộng sản bắt được giấy tờ của Thiệu trong đó có bản báo cáo của tôi. Tướng Dũng thấy thú vị về bản báo cáo ấy, ông đă chép nhiều đoạn, từng chữ một vào hồi kư của ông viết sau chiến tranh.

 

Tôi đang đánh máy bản báo cáo th́ Polgar cùng mấy đồng nghiệp CIA họp kín trong pḥng riêng, bàn vấn đề chuyển giao nhanh chính quyền. Phải làm thế nào khi Thiệu rút th́ phó tổng thổng Trần Văn Hương lập tức nhường chỗ cho Minh lớn và quốc hội chuẩn y ngay sự thay đổi ấy để mọi việc được tiến hành đúng hiến pháp (như yêu cầu của Martin) và nhanh chóng (như yêu cầu của một số người khác).

 

Ở sứ quán Pháp, cách đó vài bước, Mérillon và đồng nghiệp cũng dành cả buổi sáng để thu xếp như trên. Mérillon nói với Martin sáng hôm sau đi gặp Thiệu.

 

Thiệu và giới thân cận không phải là không biết âm mưu lật đổ ông ta. Sáng hôm sau, tổng thống Singapour Lư Quang Diệu gọi dây nói mời Hoàng Đức Nhă, đến ngay. Diệu nói: mọi việc gai góc cần thảo luận. Mấy giờ sau khi Nhă đến Singapour, Diệu cho ông ta biết: nhà chức trách Mỹ đề nghị Singapour và mấy chính phủ ở Đông Nam Á cho Thiệu sống lưu vong. Nhă gọi ngày về Sài G̣n. Thiệu vừa nghe xong trả lời ngay: “Ừ, tôi đă chờ đợi việc đó”.

 

Trong khi đó, Nhà Trắng tiếp tục đ̣i giăn cộng đồng người Mỹ và di tản người Việt Nam mà tính mạng dễ bị uy hiếp. Các cơ quan của sứ quán cứ dẫm chân tại chỗ v́ những khó khăn hành chính. Những thể lệ mới của cơ quan nhập cư cho phép (tr.254) người Việt Nam ra đi nếu họ được người Mỹ bảo lănh, gây ra nhiều phiền phức. Một người Mỹ có thể chịu trách nhiệm tới 60 người Việt Nam. Số phận hàng ngh́n người phụ thuộc vào một con dấu, một chữ kư, một giấy đi đường. Trước các viên chức đang phân loại người đi, hàng đoàn người xếp hàng dài chờ đợi và những cảnh thất vọng, thương tâm đang diễn ra. Đô đốc Noel Gayler, tổng tư lệnh hạm đội Thái B́nh Dương, đến Sài G̣n nghiên cứu biện pháp di tản. Giữa sứ quán Sài G̣n và Nhà Trắng, các viên chức chửi mắng nhau, gọi nhau là đồ nọ đồ kia qua dây nói. Bên này, bảo bên kia: chính anh đă ấn nút của hoăng loạn! Thật vô cùng lộn xộn! 

 

THIỆU RA ĐI

 

Một năm sau ngày Nam Việt Nam thất thủ, một công tố viên của quốc hội hỏi Martin: “Ông giữ vai tṛ ǵ trong việc Thiệu từ chức, nếu ông có giữ một vai”. Đại sứ trả lời: “Không đóng vai tṛ nào cả”. Tôi xin cố gắng tŕnh bày với ông t́nh h́nh hết sức thật thà, rơ ràng và khách quan.

 

- Thiệu có khi nào hỏi ông, ông ta có phải từ chức không?

 

- Có, ông ta có hỏi...Tôi trả lời: Việc đó do ông ta quyết định tuỳ theo quyền lời của người Sài G̣n, của nước Việt Nam nói chung, tuỳ theo tất cả mọi cái mà ông ta đă bảo vệ, đồng thời tuỳ theo cảm t́nh và văn hoá của người Việt Nam.

 

Sáng 20 tháng 4, Martin đến gặp Thiệu sau khi Merillon, đại sứ Pháp, đến nói chuyện với ông cũng về việc này, với mục địch này. Martin nói “Tôi được phái bộ quân sự và CIA cho biết những tin tức mới nhất về t́nh h́nh quân sự và những t́nh cảm của giới quan chức cao cấp, dân sự cũng như quân sự...Tóm lại là nếu Hà Nội quyết định đánh nhanh th́ Sài G̣n không giữ nổi một tháng, chắc chắn không giữ được (tr.255) ba tuần dù có bảo vệ tốt và tài. Mặc dù ta biết Hà Nội muốn chiếm Sài G̣n nguyên vẹn chứ không thấy Sài G̣n đổ nát, cũng không nên loại trừ khă năng thứ hai nếu không đi đến thương lượng”.

 

Tổng thống Thiệu hỏi về triển vọng việc xin viện trợ quân sự bổ sung. Tôi trả lời: nếu may mà số tiền đó được chuẩn y th́ chúng sẽ giúp ta củng cố địa vị ở bàn đàm phán nhưng chúng đến quá chậm để có thể thay đổi cân bằng lực lượng. Ông ta biết rơ điều này: Ngay bây giờ cán cân nghiêng rất nguy hiểm không lợi về phía ông ta.

 

Tôi nói với Thiệu tôi đến gặp ông ta với tư cách cá nhân chứ không phải thay mặt tổng thống hay bộ trưởng ngoại giao mà không phải với tư cách đại sứ Hoa Kỳ. Tôi bảo Thiệu, tôi nói chuyện với ông ta như một người từ lâu đă theo dơi t́nh h́nh ở Đông Nam Á và hai năm nay, cố gắng t́m hiểu những khó khăn của vấn đề Việt Nam. Tôi bảo Thiệu, tôi càng già, càng hiểu rằng ḿnh không biết nhiều và bao giờ cũng có một sự nghi ngờ phải chăng. Nhưng lúc này có quá nhiều khó khăn và có thể nhận định của tôi về các sự việc xảy ra cũng đúng như nhận định của bất cứ một người phương Tây nào khác. Nhiều vấn đề đối với tôi rất rơ. T́nh h́nh quân sự cực kỳ xấu và nhân dân Việt Nam đổ cho Thiệu phải chịu trách nhiệm. Giới chính trị, người cùng phe cánh với ông ta cũng như đối thủ của ông ta, đều cho rằng ông ta bức lực để có thể đưa nước này thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Tôi nói: tôi đi đến kết luận rằng, tất cả các tướng của Thiệu, mặc dù quyết tâm chiến đấu, đều cho rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa nếu không có một cuộc đàm phán cứu họ. Tôi nói: các tướng của Thiệu sẽ yêu cầu ông ra đi, nếu ông không từ chức lúc này.

 

Tổng thống Thiệu hỏi việc ông ra đi có ảnh hưởng ǵ đến cuộc bỏ phiếu ở quốc hội không? Tôi nói việc đó có thể có ảnh hưởng nếu xảy ra sớm mấy tháng trước nhưng nay cần phải làm nhiều việc mới mong thay đổi kết quả. Nói một cách khác là nếu Thiệu nghĩ rằng từ chức mà đổi được việc chuẩn y của quốc hội nhận viện trợ đủ cho Việt Nam sống lại th́ ông ta (tr.256) đưa món này ra quá muộn rồi! Vấn đề quan trọng nhất có lẽ là ảnh hưởng việc Thiệu rút lui đối với kẻ thù. Tôi bảo Thiệu tôi không rơ việc này nhưng h́nh như hầu hết người Nam Việt Nam đều cho rằng việc ông ta ra đi sẽ thuận lợi cho những cuộc thương lượng. Riêng tôi nghĩ rằng điều đó không khác mấy. Hà Nội phản đối mọi thủ lĩnh có thế lực. Bắc Việt Nam đ̣i nếu họ mong muốn thương lượng thật sự, có một nhân vật yêu đối thoại với họ. Đồng nghiệp của Thiệu cho rằng điều cốt yếu lúc này là tranh thủ thời gian. Nếu có thể tránh cho Sài G̣n khỏi bị tàn phá, nếu một nước Việt Nam độc lập có thể tiếp tục tồn tại th́ ta vẫn hy vọng t́nh h́nh độc lập có thể tiếp tục tồn tại th́ ta vẫn hy vọng t́nh h́nh được cải thiện dù là hy vọng mỏng manh.

 

Cuộc nói chuyện diễn ra gần một giờ rưỡi. Lúc tôi từ biệt Thiệu, ông nói: “Sẽ hành động v́ quyền lợi của đất nước này”.

 

Trong một điện ngắn gửi cho Kissinger, Martin báo tin Thiệu sẽ từ chức sau một thời gian ngắn, có lẽ hay hay ba ngày nữa. Rồi đại sứ trở về nhà riêng, đi tắm bằng xà pḥng, ngủ trưa như ông kể lại. Có phải ông muốn xoá sạch những việc ông làm buổi sáng ấy không? Sớm ngày 21 tháng 4, pḥng tuyến bảo vệ của chính phủ ở Xuân Lộc sụp đổ. Máy bay lên thẳng phải đến cứu tiểu đoàn cuối cùng của bốn tiểu đoàn sống sót thuộc sư đoàn 18 Nam Việt Nam và cứu cả viên tư lệnh, tướng Đảo. Sáu trăm người dưới quyền chỉ huy của đại tá Lê Xuân Hiền, xung phong ở lại chặn hậu, bảo vệ cuộc rút lui. Trong vài giờ, họ bị quân tiên phong của 40.000 binh lính Bắc Việt Nam đánh tràn qua. Buổi sáng, bộ trưởng quốc pḥng Trần Văn Đôn cầm đầu một nhóm liên hợp chống Thiệu, trong đó đáng kể có tướng Viên. Viên công nhận, bất đắc dĩ, quân đội không c̣n chiến đấu được nữa và không c̣n hy vọng ǵ thắng trận. Đôn tuyên bố: trong những điều kiện như thế th́ chỉ có xin điều đ́nh. Điều đó có nghĩa là Thiệu phải rút lui và phải thay ông ta bằng một người khác - tướng Minh là hơn ai hết - có thể thương lượng với kẻ thù. Viên có đồng ư không? Ông ta tán thành. Có Viên ủng hộ. Đôn gây được ảnh hưởng đối với nhiều bộ trưởng quan trọng trong chính phủ Cẩn: bản thân thủ tướng và bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hảo. Bốn người (tr.257) đi đến thoả hiệp. Hôm sau, họ sẽ đ̣i Thiệu từ chức. Nếu không được họ sẽ sử dụng lực lượng vũ trang để đuổi ông ta. Thiệu đă chuẩn bị. Tối đó, ông ta từ chức ngay, để cho họ hội họp mà không để họ phải sử dụng vũ lực.

 

Trước trưa ngày 21 tháng 4, Thiệu triệu tập Khiêm và Hương đến báo cho hai người biết ông sắp từ chức và sẽ báo tin ngay tối nay. Kể lại cuộc nói chuyện giữa Thiệu với Merillon và Martin, Thiệu nhấn mạnh rằng hai người này không ai khuyên ông ta rút lui nhưng trước t́nh h́nh quân sự đă bi đát (Khiêm và hương tán thành) sự có mặt của Thiệu không c̣n lư do nữa và có thể là một trở ngại cho một giải pháp. Thiệu chỉ có một yêu cầu: việc chuyển giao chính quyền được thực hiện đúng hiến pháp để tránh lộn xộn. Rất khó có thể hiểu rằng Thiệu muốn ám chỉ Minh lớn. Ngoài phó tổng thống ra, ông ta không nên tin một ai làm người thay thế.

 

Máy ghi âm do CIA đặt trong pḥng làm việc của Thiệu truyền đi từng lời ông ta nói. Mười ba giờ, giờ địa phương Polgar chạy vào pḥng tôi. Ông nói to với tôi: chúng ta là những người đầu tiên nhận được một tin tối quan trọng kể từ ngày ngừng bắn đến nay. Không phải lo ngại về t́nh h́nh quân sự nữa. Cái phải chú trong bây giờ là chính sách liên hợp.

 

Không để mất th́ giờ, Polgar báo tin cho người Pháp về việc Thiệu sắp rút lui, rồi đến chiều, cử tướng Timmes đến gặp Minh. Timmes đi ngay. Minh có bằng ḷng nắm quyền và thương lượng ḥa b́nh trước khi loại được Hương không? Minh gật đầu. Ông ta nói có thể làm yên ḷng kẻ thù và sẽ cử ngay đại diện đi Paris để mở cuộc thảo luận. Timmes rút trong cặp ra một nắm giấy bạc mới, một triệu đôla để làm phí tổn (chưa bao giờ Minh sử dụng món tiền ấy và ông ta cũng không hề trả lại).

 

Trong lúc đó, một viên chức khác của CIA bàn chiến thuật với một người thân cận của Minh. Viên chức CIA nói: Tiện hơn cả là Minh nhận làm thủ tướng của Hương, như thế thuận lợi cho việc chuyển giao chính quyền. Người nghe lắc đầu: không, không bao giờ Minh tham gia chính phủ của Hương. (tr.258) Minh phải nắm chính quyền như đă thoả thuận. Những điều đó cho thấy việc chuyển giao chính quyền sẽ không được thực hiện như kế hoạch của sứ quán.

 

19 giờ rưỡi, giờ Sài G̣n, Thiệu nói chuyện với quốc dân đồng bào. Có khoảng hai trăm nhân vật Nam Việt Nam được ông ta mời đến dinh tổng thống trực tiếp nghe ông ta nói. Nhiều người vừa nghe vừa ngáp hoặc có những cử chỉ khác. Điều biết trước là không những Thiệu bảo vệ ḿnh trước lịch sử mà c̣n lên án người Mỹ đă mất ư chí sau vụ bê bối Watergate. Gần hai giờ sau, Thiệu vừa khóc vừa tuyên bố từ chức và giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương. Thiệu nói: v́ nửa nước đă mất nên ông ta hy sinh v́ quyền lợi quốc dân.

 

Tướng viên đọc một tuyên bố ngắn. Ông nói quân đội tiếp tục chiến đấu để bảo vệ tổ quốc chống bọn xâm lược nước ngoài. Trong lễ bàn giao chính quyền, tổng thống mới Trần Văn Hương, 71 tuổi, liệt, nửa mù, thề chiến đấu cho đến lúc quân đội bị tuêu diệt, nước mất.

 

Những người biết suy nghĩ ở sứ quán Mỹ không lấy những lời thề đó làm quan trọng. Họ nói: “đó là một cái xương cho Kỳ và phải hữu gậm để ngăn họ xen vào công việc. Sự thật là Hương muốn thương lượng”. Như là đổ nước vào cối, chính phủ mới nhanh chóng đề nghị ngừng bắn và thành lập một hội đồng quốc gia hoà giải ḥa hợp tay ba có cộng sản tham gia.

 

Nhưng tất cả tṛ chiêng trống ấy làm một số đông chúng tôi lo ngại. Để làm yên ḷng Kỳ và những phần tử phái hữu, chính phủ mới có thái độ có thể xúc phạm đến cộng sản. Tôi viết trong sổ tay: Thiệu từ chức, Sài g̣n yên tĩnh. Tối 21 tháng 4, lại thiết quân luật từ 8 giờ tối đến 6 giờ sáng để ngăn chặn những cuộc biểu t́nh nhưng tôi nghĩ người ta đă quá mệt mỏi, không c̣n muốn nhảy ngoài đường phố nữa.

 

Một số đồng nghiệp lấy làm thú vị khi được biết tin này. Tôi th́ không. Tôi chỉ thích buồn - không phải v́ Thiệu ra đi - việc đó không thể tránh được - mà buồn chính v́ bản (tr.259) thân cảnh này. Chúng tôi đều biết mọi việc đều giả dối, nói một cách khác, việc chiết cành của chúng tôi không bén rễ. Tuy thế, ai cũng mong không kết thúc như thế này hya ít nhất là không phải chứng kiến cảnh ấy.

 

Trong khi tin Thiệu từ chức bay về Hoa Thịnh Đốn th́ Kissinger gửi một điện chia buồn cho Martin, bày tỏ sự kính trọng không suy xuyển của ông đối với người lănh đạo Nam Việt Nam, ông đề nghị được giúp đỡ Thiệu rời khỏi nước này. Ông nhấn mạnh: Chính phủ Mỹ không hề hợp tác với người Pháp để chống Thiệu. Và ông nói thêm đến nay cũng chưa nhận được tin tức ǵ của Liên Xô.

 

Trong giới chính trị Sài G̣n, phản ứng rất khác nhau về việc Thiệu ra đi và về những thế lực đă đánh đổ ông ta. Một số người hoan nghênh những lời chỉ trích của Thiệu đối với người Mỹ. Một số khác, nhất là sĩ quan trẻ, tỏ vẻ khó chịu. Hương h́nh như không được ḷng ai. Nói chung họ nói: “Già rồi, không làm ǵ được! Không một người nào tán thành sự kiện diễn ra sau đó. Những người đứng về phe ngừng bắn tỏ ḷng tin tưởng, họ cho rằng có thể thương lượng b́nh đẳng với cộng sản. Minh lớn là một người trong số đó, ông b́nh tĩnh chuẩn bị nói chuyện ngă ngũ với phía bên kia, trong khi đó, người phát ngôn của ông ta ở Paris công khai yêu cầu ngừng bắn, nối lại cuộc đàm phán và thành lập một chính phủ thật sự tiêu biểu.

 

Khó mà biết Minh có tin thật sự vào chuyện đó hay không. Ông ta vẫn được coi là người của đời sống chính trị hiện nay ở Sài G̣n. Đối với những người ôn ḥa, sự dũng cảm của Thiệu là ch́a khoá của sự sống c̣n của họ và của nước Việt Nam cộng ḥa. Đó là cách làm duy nhất để làm yên ḷng Kỳ và phe lũ trong khi tiếp tục giương cao ngọn cờ hoà b́nh.

 

Martin và Polgar, chắc chắn đều hiểu mối nguy hiểm do Kỳ có thể gây ra và họ chuẩn bị để gạt mối nguy hiểm ấy. Chiều thứ ba, Polgar nói với Timmes đến thăm Kỳ. Cuộc gặp mặt như dầu đổ vào lửa. Như sau đó Kỳ công nhận, ông nghĩ rằng nhân viên CIA đến gặp Kỳ như gặp người thay Hương. Và chỉ một câu hỏi vụng về của Timmes về sự nguy hiểm của một (tr.260) cuộc đảo chính chống Minh lớn là Kỳ biết ngay ai là người được Hoa Kỳ chọn làm tổng thống. Kỳ quyết định thu xếp ngay vị trí của ḿnh. Sự vụng về của Timmes đă làm cho những người ôn ḥa khó hoạt động và phái hữu báo động.

 

Trong khi đó, người Pháp tiếp tục xen vào. Pierre Brochand ở cạnh Minh suốt ngày, khuyến khích và bảo vệ Minh chống mọi kẻ cạnh tranh. Sáng 22, khi Brochand được tin Trần Văn Đôn muốn lên làm tổng thống, ông vội vàng đến gặp Đôn và nói rằng chỉ có Minh mới được cộng sản công nhận.

 

Phản ứng đầu tiên của cộng sản về sự thay đổi tổng thống rất rơ ràng. Ở Tân Sơn Nhất, người phát ngôn chính phủ cách mạng nói ngay với nhà báo:  việc Thiệu rút lui không thay đổi ǵ cả và ông ta bác bỏ lời kêu gọi đ́nh chiếu của Hương. Đài phát thanh Hà Nội lên án Hương là một tên phản động, phản quốc và đ̣i Hoa Kỳ phải bỏ cả tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu chứ không chỉ riêng bản thân Nguyễn Văn Thiệu và không được can thiệp vào công việc của Việt Nam, nhất là không được viện trợ quân sự. Đó là một tối hậu thư (cách duy nhất để thoát ra khỏi cuộc chiến tranh này, theo đài Hà Nội) chứ không phải là một nhân tố để thương lượng và người ta không thể nghi ngờ ǵ về lời đe doạ này.

 

Cộng sản cũng không để cho có hy vọng một cuộc tản cư yên ổn mặc dù việc Thiệu rút lui cho phép hoăn một thời hạn việc ra đi của chúng tôi. Trái lại chỉ mấy giờ sau lời tuyên bố của Thiệu, đài giải phóng chỉ dành hai hay ba ngày, thậm chí có 24 giờ đ̣i cố vấn Mỹ phải rút đi.

 

Mặc dù như thế, Martin, Polgar và cả Kissinger ở Hoa Thịnh Đốn nữa vẫn c̣n tin rằng có thể vận động thương lượng được. Sau ngày Thiệu từ chức một ngày, Polgar tiếp tục đi t́m gặp người này, người khác...

 

Trong khi đó, cộng sản giành thắng lợi vang dội: chiếm Phan Thiết, thị xă cuối cùng ở Quân khu II, Hàm Tân, một huyện lỵ cách thị xă 46 kilômét về phía Nam và Xuân Lộc. Từ đây, quân Bắc Việt Nam tiến đến Biên Ḥa về phía Đông và Vũng Tàu về phía Nam. Trước năm sư đoàn Bắc Việt Nam trong vùng, Nam Việt Nam chỉ c̣n tàn quân của sư đoàn 18, (tr.261) hai lữ đoàn lính thuỷ bị nghẽn ở phía Đông Biên Ḥa, một lữ đoàn dù và hai trung đoàn bộ binh đă bị đánh tơi bời đang đóng yên tại chỗ giữa Xuân Lộc và Vũng Tàu. Biên Ḥa tiếp tục bị bắn phá dữ dội mấy giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III rời sở chỉ huy về Sài G̣n. Chưa phải là hoảng sợ th́ là ǵ? Tôi báo cho Polgar biết. Ông lờ đi.

 

Lần thứ hai trong tuần, ông kiểm duyệt, bỏ một tín không phù hợp với quan điểm của ông. Nhưng hậu quả lần này tai hại hơn nhiều so với lần ông gác lại báo cáo ngày 17 tháng 4 của một nhân viên của tôi. Bộ phận của tôi nay là bộ phận duy nhất có thể cung cấp cho sứ quán tin tức và nhận định về t́nh h́nh quân sự. Bộ phận tương tự của phái bộ quân sự đă ngừng hoạt động v́ quá bận về việc tản cư.

 

Kissinger cũng cảm thấy rằng có một cái ǵ trục trặc trong những bộ phận t́nh báo. Ông gửi điện cho Martin ngày thứ ba hỏi ư kiến về sự đánh giá của mấy nguồn tin nói rằng không có dàn xếp thương lượng. Martin trả lời: nhiều nguồn tin khẳng định như thế nhưng CIA đă nhiều lần thay đổi nhận định, rất khó mà tin được.

 

Ngày Thiệu đọc diễn văn chào vĩnh biệt, tướng Văn Tiến Dũng, các ông Lê Đức Thọ và Phạm Hùng hoàn thành kế hoạch mở chiến dịch Hồ Chí Minh tại bộ chỉ huy ở Lộc Ninh. Như được vạch ra, kế hoạch chung giống phần nào việc bóc vỏ một củ hành. Quân đội Bắc Việt Nam trước hết phá vỡ pḥng tuyến bên ngoài Sài g̣n rồi tiến sâu thẳng vào thành phố bằng các đơn vị cơ giới tập trung ở năm mục tiêu quân sự: dinh tổng thống, Bộ tổng tư lệnh, Bộ tổng tham mưu, Sở chỉ huy cảnh sát và sân bay Tân Sơn Nhất. Hai ngày được ấn định: ngày 27 tháng 4, tiến công vùng ngoại vi thành phố, ngày 29 tiến công cuối cùng. Trong hồi kư của ông, tướng dũng chỉ rơ ngày thứ ba 22 tháng 4 đă quyết định hai ngày nói trên.

 

Tất cả chiến dịch tập trung vào một điểm duy nhất: Sài G̣n. Những cuộc tiến công đầu tiên vào Tây Ninh, ở phía Tây Bắc vào vùng đồng bằng ở phía Nam, chỉ là để giữ chân các đơn vị Nam Việt Nam ở đó và ngăn không chọ họ kéo về bảo vệ thủ đô.(tr.262)

 

Theo tướng Dũng, việc khó nhất là chọn chỗ chung quanh Sài G̣n đặt tên lửa pḥng không Sam-2. Việc tế nhị khác: chuẩn bị cho pháp binh bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất mà nhân viên t́nh báo của tôi nói là vào ngày 17. Trước hết phải chiếm Nhơn Trạch, một vùng bùn lầy ở phía Đông Nam Sài G̣n, để đặt súng phóng rốc kết và đại bác 130 li. Chiều thứ ba, tướng Lê Trọng Tấn, tư lệnh mặt trận phía Đông, đến sở chỉ huy, đặt ở phía Bắc Biên Ḥa để chỉ huy trận đánh Tướng Dũng gửi cho tướng Tấn một điện khẩn. Phải chiếm Nhơn Trạch ngày 27 hoặc 28 là cùng.

 

Mặc dù Bắc Việt Nam không muốn đánh nhau với những người Mỹ ở Sài g̣n, sợ cuộc trả đũa quân sự của Hoa Thịnh Đốn, nhưng kế hoạc của họ cũng đề cập đến một việc loại trừ một số chúng tôi. Ít lâu sau bài diễn văn của Thiệu, cảnh sát Nam Việt Nam, được một chỉ điểm cho biết, đă báo cho một viên chức cao cấp CIA rằng đặc công Bắc Việt Nam tối hôm ấy sẽ phá nhà ông ta ở giữa thành phố. Quá mệt v́ phải làm việc suốt ngày, những viên chức CIA, tối hôm ấy phải dành nhiều giờ để lau chùi lại khẩu M-16 và chẹn lửa. Đến đêm, cảnh sát đến báo với ông: đặc công đă bị chặn ở cửa thành phố, ông không c̣n ǵ phải sợ. Ít nhất là trong lúc này.

 

Nếu tin vào hồi kư của ông th́ tướng Dũng và tư lệnh các đơn vị Bắc Việt Nam đều biết rơ những hoạt động chính trị và ngoại giao chung việc Thiệu từ chức. Mọi chi tiết đều được ghi trong một bài của ông Nguyễn Duy Trịnh, bộ trưởng ngoại giao Bắc Việt Nam. Nói về những đề nghị ḥa b́nh của Mỹ và Pháp, ông coi đó là những âm mưu xảo quyệt. Tính từ này cũng được báo chí cộng sản dùng khắp lượt. Những lời tố cáo của ông Trịnh chỉ làm cho tướng Dũng quyết tâm giành thắng lợi hoàn toàn càng nhanh càng tốt. Ông Lê Duẩn cũng gửi điện vào, mong muốn và chức đánh thắng nhanh. Ông Duẩn viết: “Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tổng tiến công vào Sài G̣n đă chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày, kịp thời phát động tiến công địch trên các hướng, không để chậm. Nếu để chậm th́ không có lợi cả về chính (tr.263) trị và quân sự. Kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn”.

 

Sự khinh bỉ của tướng Dũng đối với tṛ ngoại giao ở Sài g̣n xuyên qua các trang hồi kư của ông. Ông viết: Đó là một tập đoàn ngu dốt và ngớ ngẩn. Chúng thay đổi chính phủ với mục đích duy nhất là để ngăn chặn cuộc tiến công của chúng ta và tránh sự thất bại hoàn toàn.

 

Ông cũng đả Polgar: “Bọn CIA ở Sài G̣n, như con rắng độc, luồn lách ŕnh ṃ với nhiều âm mưu quỷ quyệt, bắn tin: Hương làm tổng thống chỉ là tạm thời, sẵn sàng đi đến thoả thuận, Mỹ chờ đợi sự đáp lại v.v...”

 

Tướng dũng cũng bắn tên vào tướng Vanuxem, sĩ quan cũ của quân đội Pháp đă biết Thiệu trong những năm đầu thập kỷ 50, mới đến Sài G̣n mấy tuần trước để “khuyên” Thiệu trong những giờ cuối cùng ông ta ở dinh tổng thống. Mặc dù Thiệu từ chức, Vanuxem là mộtngười mê ngủ, ngu muội.

 

Tuy vậy, không có ǵ trong những lời nói trên chức tỏ Bắc Việt Nam đă d́m Nam Việt Nam trong biển máu. Chắc chắn họ sẽ chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện nếu việc đó đến nhanh và rơ ràng.

 

Dù sao, sau khi Thiệu từ chức, tướng Dũng và Hà Nội không c̣n chờ đợi được nữa. Ngày 22 tháng 4, tướng Dũng và ông Phạm Hùng cùng kư vào bản quyết tâm chiến dịch Hồ Chí Minh. Bộ chỉ huy chia làm đôi. Tướng Dũng và người phó quan trọng của ông, ông Trần Văn Trà, đóng sở chỉ huy tiền phương ở Bến Cát, tỉnh B́nh Dương, phía Đông Bắc Sài G̣n, c̣n các ông Lê Đức Thọ và Phạm Hùng ở lại Lộc Ninh để điều ḥa hoạt động chính trị, ngoại giao và quân sự. Và có thể để chờ sự đầu hàng không điều kiện cho đỡ phải đánh trận cuối cùng.

 

 

THÔNG TÍN VIÊN BÍ MẬT

 

 

Chủ nhật 20 tháng 4, 24 giờ sau khi Thiệu từ chức, cuộc di tản ồ ạt bắt đầu. Không biết trong cuộc hội kiến vừa qua Martin và Thiệu có thảo luận để xúc tiến công di tản không. Thật ra, không cần thiết, hai người đă nghe thấy tiếng gầm rú của máy bay phản lực C-141 rời sân bay Tân Sơn Nhất, cách đó 8 kilômét.

 

Nhịp độ di tản tăng. Từ ngày 4 tháng 4, ngày có cầu hàng không đầu tiên, cầu hàng không Trẻ em, ngày nào bốn máy bay vận tải lớn, cũng bay đi bay lại từ Tân Sơn Nhất đến căn cứ Clark ở Philippines. Mặt khác, sự mềm dẻo của thể lệ nhập cư đă làm tăng lên rất nhiều số người di tản hợp pháp. Việc đó không ngăn cản những chuyến bay lậu tiếp tục cất cánh: những máy bay này không chở những người Việt Nam về chính trị có nhiều vấn đề mà chở bạn bè, thân thuộc của các sĩ quan phái bộ quân sự. Vấn đề duy nhất phải lo là làm thế nào chở những người không có giấy tờ ấy vượt được hàng rào sân bay. Cuối cùng người ta t́m ra mánh khoé: đút lót. Cảnh sát quân sự ở sân bay đă nhận được khoảng 50.000 đôla.

 

Hồ sơ của CIA là một núi giấy tờ mật, nặng 14 tấn báo cáo, tài liẹu, tiểu sử nhân viên t́nh báo. Đầu tháng đă huỷ một phần rồi nhưng ban ngày, đại sứ không cho đốt hồ sơ sợ tro ở ḷ sưởi bay ra làm bẩn xe ḥm đỗ ngoài hành lang. Sau thấy cấp bách quá, ông mặc cho đốt cả ngày, đêm. Tiếng kêu của hai ḷ sưởi đặt trên mái nhà, ngay đầu tôi, làm tôi hết sức khó chịu.

 

Trong những nhân viên sứ quán được coi là không cần thiết nghĩa là tản cư ngay, có Pat Johnson, nữ cộng tác viên gần gũi nhất của tôi.

 

Pat giành hai ngày cuối ở Sài G̣n để đi chào người quen. Sau này bà nói với tôi: Sao lại có lúc kỳ lạ thế? Đối với tôi cái ǵ cũng mờ ảo. Một số bạn Việt Nam cho tôi cảm tưởng là họ không thấy mối nguy hiểm đă đến gần. Sáng thứ bảy, bà (tr.265) gặp một người bạn b́nh tĩnh tưới hoa trong vườn. lúc bà đến pḥng hớt tóc, người chủ ngạc nhiên nói: Ồ, bà c̣n ở đây à? Bà là người cuối cùng rồi. Tất cả khách hàng người Mỹ của tôi đă ra đi.

 

Pat buồn rầu khi phải chào từ biệt người đầy tớ già: chị Ba. Chồng chị đă mất, năm con và nhiều cháu chị đều ở trong nhà Pat. Sáng chủ nhật, trước khi đi, Pat xuống bếp ôm hôn chị Ba, đưa cho chị nắm đôla cuối cùng, mọi người đều khóc. Pat có ư định đưa họ đi Mỹ những họ từ chối lấy cớ sống ở đấy không hợp. Ở đây, trà trộn với nhân dân, họ có thể sống được. Cộng sản không thể giết được tất cả mọi người.

 

Chiều hôm đó, Pat bay đi Bangkok trên một máy bay đặc biệt, chỉ có mấy hành khách. Ban Giám đốc hăng Hàng không Việt Nam tổ chức chuyến bay này để chở vốn của hăng đi: 20 triệu đôla bằng vàng. Pat ngồi giữa đống bao tải bằng vải xám đầy kim loại óng ánh không có ǵ nguy hiểm. Sau khi thất thủ Sài G̣n, những bao tải ấy biến mất. Chắc chúng đă trốn vào tủ sắt một người di tản nào đó.

 

Bangkok, Pat đi chơi tối với bạn, khiêu vũ suốt tới sáng. Cuộc vui lạ lùng và giả tạo do căng thẳng đẻ ra. Chiều hôm sau, bà được tin Thiệu từ chức.

 

Bản chất vốn không kiên tŕ và dễ xúc động, nên bộ trưởng quốc pḥng Schlesinger trở nên cáu kỉnh hơn lúc nào hết. Trong mấy ngày qua, Kissinger và ông tranh luận gây gắt về nhịp độ và tầm quan trọng của việc di tản. Ông nói với một phongphóng viên: cuộc di tản cấp tốc được thực hiện quá chậm nên kế hoạch di tản những người Mỹ bằng cả máy bay dân sự lẫn máy bay quân sự vẫn không kịp với t́nh h́nh. Có lẽ phải dùng đến máy bay lên thẳng và lực lượng an ninh lính thuỷ đánh bộ.

 

Kissinger phản đối. Sáng thứ hai, ông công kích Schlesinger, lên án bộ trưởng quốc pḥng quá nặng về bảo vệ uy tín cá nhân nên đă tuyên bố lung tung với các nhà báo. Kissinger nhấn mạnh: mặt khác, cuộc di tản cấp tốc những người Mỹ c̣n ở lại Sài G̣n sẽ gây hoảng loạn, điều mà Martin rất lo ngại. (tr.266)

 

Sau đó, Kissinger ra lệnh cho Martin cho di tản càng nhanh càng tốt nhân viên phái bộ quân sự, trước khi phải sử dụng đến máy bay lên thẳng.

 

Bất b́nh về cuộc xung đột nổ ra giữa hai bộ trưởng, hai viên chức nhỏ của bộ ngoại giao Lionel Rosenblatt và Craig Johnstone quyết định giúp những người bạn Việt Nam. Họ xin nghỉ hàng năm, mua vé máy bay đi ngay Sài G̣n. Mấy giờ sau khi tướng ngoại giao Habib biết tin này, ông yêu cầu Martin đuổi ngay họ về Mỹ. Nhưng hai viên chức ấy đă kịp chặn điện của Habib lại, đại sứ không nhận được.

 

Những ngày sau, Rosenblatt và Johnstone làm việc ở khách sạn Caravelie 24 giờ trên 24 giờ. Họ bí mật đưa danh sách những người Việt Nam sang trung tâm phân loại của phái bộ quân sự. Khi họ trở về Mỹ, họ gầy mất mấy ki lô nhưng đă đưa đi di tản được 20 nhân vật Việt Nam quan trọng và gia định những người này, nghĩa là tất cả hai trăm người mà không một ai có dấu xuất cảnh. Đó là những người cộng sự đắc lực của Mỹ đă tham gia việc khủng bố cộng sản.

 

Thứ hai, 21 tháng 4, đô đốc Gayler cho cầu Hàng không hoạt động suốt 24 giờ, máy bay C141 bay ban ngày, máy bay C-130 bay ban đêm. Thoạt đầu, mỗi máy bay chở một trăm người những sau hạn chế cho mỗi người chỉ được đem theo một vali nên chở được gấp đôi.

 

Hơn 1500 người Mỹ và Việt Nam, tăng gấp ba lần hôm trước, được di tản đến căn cứ không quân Clark ở Philippines trong 12 giờ. Ở đấy đă có hơn ba ngh́n người tị nạn, họ ở trong một làng dựng tạm bằng nhà bạt trên sân chính của căn cứ, người ta gọi làng ấy là làng “vui trên băi cỏ”.

 

Cơ quan CIA từ lâu đă đề nghị với Lầu Năm Góc dành riêng cho ḿnh một số máy bay để rải rác ở Tây Thái B́nh Dương. Nhưng nay có cầu Hàng không quân sự, chúng tôi nghĩ là không thể lấy được máy bay. Để thay thế, John Pittman đề nghị với Bộ chỉ huy CIA cho phép lấy tất cả những máy bay chở hàng bay đi Đài Loan, Thái Lan, Singapour làm máy bay chở khách đến các nơi ấy. Bộ chỉ huy bác bỏ. Shackley nói: (tr.267) không nước nào chịu nhận những người Việt Nam đă được CIA che chở.

 

Việc bác bỏ ấy làm chúng tôi bực ḿnh. Một đồng nghiệp liền gọi cho Frank Seotton, phân xă trưởng Hoa Thịnh Đốn, Thông tấn xă Hoa Kỳ, đề nghị Scotton thuyết phục Shackley. Thông tín viên bí mật, một nhân viên quan trọng và có kinh nghiệm ấy nói với Scotton: “Chúng tôi đang ở vào t́nh thế cực kỳ nguy hiểm, đ̣i hỏi phải có ngay một cầu hàng không máy bay lên thẳng. Martin th́ bất lực, Polgar th́ bối rối”. Anh nhờ Scotton nói với các quan chức ở Hoa Thịnh Đốn cố gắng can thiệp. Scotton biết rơ t́nh h́nh Sài G̣n lúc bấy giờ liền đến bộ chỉ huy CIA, Colby được nghe chuyện. Ông hỏi căn cước thông tin viên bí mật xem anh ta có đủ tư cách đánh giá t́nh h́nh không. Người ta cho ông biết tên. Ông nói: thông tin viên này không biết rơ t́nh h́nh chung, không cho máy bay bay ngay!

 

Thực tế, thông tín viên này biết rơ t́nh h́nh như đếm đầu ngón tay. Chính tôi đă nói cho anh rơ t́nh h́nh quân sự mấy ngày nay. Với địa vị cao và sự hiểu biết của anh, tôi tin rằng Hoa Thịnh Đốn sẽ đồng ư. Một lần nữa, tôi đă lầm.

 

Thông tin viên bí mật và tôi không phải là những viên chức CIA duy nhất đề nghị can thiệp. Larry Dows, trùm chi nhánh Cần Thơ, liên tiếp gửi điện cầu cứu cho Sài G̣n, xin máy bay lên thẳng để chở nhân viên người Việt Nam. không ai trả lời anh ta. Bill Johnson, viên chức ở chi nhánh CiA Sài G̣n, bất chấp thể lệ hành chính. Chiều 21 tháng 4, anh và nhiều đồng nghiệp, bí mật hoạt động, làm cho việc di tản đạt kết quả lớn nhất. Đó là việc chuyển đi đài phát thanh tối mật của CIA mà thường được gọi là “ngôi nhà số 7”.

 

Đài này được thành lập từ sau ngày ngừng bắn do lệnh của Kissinger để tuyên truyền, loại trừ ảnh hưởng của Bắc Việt Nam và Việt cộng. Người ta gọi là đài “radiô xám” cũng được v́ nó hoạt động như một đài không cộng sản nhưng không có quan hệ ǵ với chính phủ. Ở Sài G̣n, Johnson được giao trách nhiệm phụ trách đài. Anh cho làm những studio hiện đại đặt trong những ngôi nhà tồi tàn cũ kỹ ở số 7 đường Hồng Thập Tự (tr.268) - do đó có tên “ngôi nhà số 7” - sau đó c̣n thiết lập 5 đài nữa, mỗi đài truyền tin trên một làn sóng riêng.

 

Đài dùng mật mă “bà mẹ Việt Nam” có hiệu quả nhất. Tiếng nói phụ nữ quyến rũ, âm nhạc gợi nhớ quê hương và nhiều tin vui đánh vào ḷng binh lính Bắc Việt Nam đang lội trong bùn lầy đồng ruộng làm cho họ nhớ cha mẹ, vợ con...Tin chính trị được nói bằng một giọng t́nh cảm khơi trong họ ư thức hoà hợp dân tộc, coi trọng gia đ́nh là những đức tính tốt của nhân dân Việt Nam.

 

Bản thân phát thanh viên cũng có hai mặt, là hai người phụ nữ tiếng nói rất khác nhau. Người có tuổi là Mai Lan có vẻ đẹp kiều diễm, đă học ở Hoa Kỳ, bố là một nhân vật cap cấp trong chính phủ Thiệu. Hoàn toàn âu hoá, chiều chiều, chị làm mê những ḷng người nghe bằng những bài hát dân ca nói về đất nước mà chị ít biết.

 

Đầu tháng tư, Johnson nói với đài số 7 anh sẽ cố gắng bảo đảm an ninh cho họ. Anh đề nghị với Polgar và bộ chỉ huy CIA cho anh chuyển đài ra khỏi Việt Nam tiện hơn cả là sang Thái Lan nhưng Shackley và polgar không nghe.

 

Johnson không nản ḷng. Anh xin được phép chuyển mọi người ra đảo Phú Quốc, ngoài biển. Đêm 24 tháng 4, hai máy bay C-46 và C-47 hăng Hàng không Mỹ bắt đầu di chuyển. Bốn ngày sau, 144 nhân viên người Việt Nam giúp việc ở ngôi nhà số 7 và gia đ́nh họ tổng cộng một ngh́n người, b́nh yên vô sự thoát khỏi Sài G̣n. Ngày cuối cùng cuộc chiến tranh, một trăm ngh́n người tị nạn ở Phú Quốc biểu t́nh. Một đại diện của đài phát thanh bị giết chết. Những nhân viên khác được tàu Pioneer Challenger chở đi đảo Guam. Johnson phải “khóc” một người nhưng đă giữ được lời hứa với tất cả nhân viên!

 

Ngày 22 tháng 4, tôi viết vào sổ tay: “Bắt đầu sắp xếp hành lư. Một việc đáng buồn. Sẽ mất hết. V́ có việc riêng, tôi đi gặp polgar. Nhân viên hậu cần bảo tôi có ǵ th́ để cả ra giữa pḥng ấy. Người ta sẽ đóng gói cho anh. Sứ quán cũng trở thành con ốc rỗng. Hàng lang đầy gói, dọc đường xếp chật ḥm. Hàng trăm người Việt Nam, ngồi trên ghế vải gấp, trước lănh sự quán chờ giấy tờ hoặc xin dấu xuất cảnh. (tr.269)

 

Cả những người giàu có, tầng lớp đă âu hoá cũng đánh nhau để dành một chỗ trong những chuyến bay chở người tị nạn. Một số đông chưa hề bán ḿnh cho chúng tôi ngày nào, nay cũng sẵn sàng làm việc đó để được ra đi. Một tin đăng trên tờ Sài G̣n Post hôm nay: “nữ sinh viên trẻ, đẹp, 18 tuổi, đổ tú tài, biết chơi dương cầm, con một gia đ́nh khá giả, muốn làm con nuôi hoặc kết hơn với một người nước ngoài quốc tịch Mỹ, Pháp, Anh, Đức hay nước nào khác có thể đưa cô ra sống ở nước ngoài để tiếp tục học tập. Tiền phí tổn cô chịu...”

 

24 giờ sau khi Thiệu từ chức, nhịp độ di tản tăng gấp đôi. Thứ ba, ngày 22, hơn ba ngh́n người rời Sài G̣n nhờ phái bộ quân sự can thiệp. Như vậy từ đầu tháng đến nay đă có hơn mười ngh́n người. Mỗi giờ có hai máy bay chở hàng Mỹ cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất.

 

Hoa Thịnh Đốn lại giảm nhẹ thể lệ nhập cảnh một lần nữa để tăng nhịp độ di tản: Ngày 22 tháng 4, theo đề nghị khẩn cấp của Kisinger, thượng nghị viện đă thông ưua luật băi bỏ những trở ngại cho 130.000 người nước ngoài từ Đông Dương sang vào nước Mỹ, trong số này có 50.000 người tính mạng bị uy hiếp. Bộ Tư pháp cho áp dụng ngay luật này. Đó là sự nhượng bộ lớn của quốc hội và cơ quan nhập cư. B́nh thường, mỗi năm chỉ cấp cho một nước 20.000 hộ chiếu. Trước đây đă có một trường hợp rông răi như trên; đó là vào đầu thập kỷ 60, cho phép 60.000 người di tản Cuba vào Mỹ sau thất bại ở vịnh Con heo.

 

Ở trung tâm phân loại của phái bộ quân sự, việc giảm nhẹ thể lệ không thay đổi ǵ t́nh h́nh v́ luật và thể lệ đă được thay bằng sự linh động rồi. Do đó, sau khi Thiệu từ chức, thiết quân luật bắt đầu từ 8 giờ tối, các viên chức phụ trách di tản quyết định để cho những người tị nạn ngủ lại ở nhà phụ và họ làm việc suốt 24 giờ.

 

Căn nhà để phân loại bỗng chốc giống như một hội chợ lúc đóng cửa. Một người kể lại: “Nóng ghê gớm. Lúc mọi người ở lại phải chú ư mọi cái. Hành lư vất lung tung pḥng vệ sinh bị đóng cửa. Nhiều người Việt Nam bị ốm v́ sợ. chúng tôi phải lấy rào chắn không cho đi lại”. (tr.270)

 

Chịu trách nhiệm về sự lộn xộn ấy là Moorefield, một viên chức phụ trách hoạt động di tản, đúng ra là v́ anh quá rộng lượng. Anh giải thích, tôi phải t́m mọi cách giúp đỡ hàng đống người bị bỏ lại. Đáng lẽ viên chức cơ quan thông tin Mỹ đi với nhân viên các hăng tin tư nhân nhưng có điều ǵ đó không ổn, họ phải ở lại. Nhân viên tổ chức World Vision và nhiều tổ chức từ thiện khác mắc kẹt ở phái bộ quân sự, không có ai che chở ngoài một người Việt Nam. Nhân viên nhiều công ty Mỹ cũng thế. Họ đến pḥng làm việc của tôi đưa cho tôi một tài liệu vu vơ và nói: người ta hứa giúp chúng tôi. Đúng, họ xứng đáng được giúp đỡ nên tôi không có cách nào khác là tạo điều kiện cho họ đi.

 

Lại c̣n vấn đề dở khóc là vấn đề tỷ lệ, chỉ tiêu nữa. Nhiều người đă giữ chỗ từ trước. Chúng tôi không c̣n biết c̣n bao nhiêu chỗ sau khi những kẻ ở phái bộ quân sự và sứ quán gửi những giấy đặc biệt vào!

 

Cứ 20 phút tôi lại gọi dây nói cho sứ quán xin ư kiến. Nhưng rơ ràng không ai kiểm soát được việc ǵ nữa. Lúc đó, tôi bắt đầu làm theo ư riêng. Khi Rosenblatt hoặc một nhân viên CIA nào dẫn một người Việt Nam đến nói rằng người này ở lại sẽ nguy hiểm thế là tôi đóng dấu cho đi. Không hỏi thêm điều ǵ nữa.

 

Viên chức bậc thấp người Việt Nam được Moorefield sử dụng cũng trở thành vấn đề. Anh kể lại: Thỉnh thoảng tôi ngẩng đầu lên, tôi thấy một người đă thu xếp xong hành lư và đi rồi. Sau này tôi mới biết nhiều người trong bọn họ chuồn đi với những cặp giấy thông hành, đem ra chợ bán theo giá chợ đen, đắt kinh khủng.

 

Chiều thứ ba, 22 tháng 4, đám người tị nạn ở căn cứ không quân Clark ở Philippines tràn qua khu vực đón tiếp như nước vỡ bờ. Ở Hoa Thịnh Đốn, lực lượng can thiệp đă dự kiến t́nh h́nh di tản, vội báo cho chính quyền ở đảo Guam chuẩn bị đón mỗi ngày năm ngh́n người tị nạn, sẵn sàng cho họ ăn, ở trong 90 ngày. Chỉ mấy giờ sau, những người tị nạn đă được đưa đến căn cứ không quân AndersonGuam, được ở trong những baraque bằng kim loại gọi là thành phố đồ hộp. (tr.271) Phi công Mỹ lái máy bay B-52 trước kia cũng ở đây khi đảo này là bậc nhảy của những đoàn máy bay đi ném bom ở Bắc Việt Nam.

 

Thoạt tiên, các viên chức cơ quan nhập cư ở Guam và Clark áp dụng triệt để luật pháp. Giấy tờ của người tị nạn được kiểm tra, kiểm soát cẩn thận đề pḥng lầm lẫn và giấy giả. Tội phạm h́nh sự, gái điếm, người nghiện cần sa đều được vạch mặt và cho cách ly. Nhưng chỉ một, hai ngày sau, số người tị nạn quá đông, không c̣n kiểm soát, kiểm tra được ǵ nữa. Nếu làm việc cẩn thận như cũ th́ các viên chức cơ quan nhập cư sẽ gây ách tắc và ngăn cản cầu hàng không hoạt động. Cũng như Moorefield và nhiều người khác ở Sài G̣n lúc đầu, họ cố làm hết sức ḿnh để công việc chạy.

 

 

Phần 3B “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” từ tr 228– tr 271

nhandanvietnam.org, ngày 11/10/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend