NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI - Nguyễn Thị Ngọc Hải (Tập II)


Thiếu Tướng Anh hùng LLVT, Phạm Xuân Ẩn 

 

Tiễn Bạn

                                          

Đời người t́nh báo thế là xong

T́nh dân, nghĩa Đảng, nợ non sông

Làm trai trong suốt thời ly loạn

Anh thật xứng danh một anh hùng

Xuân Ẩn từ nay ẩn thật rồi

Bạn bè thương tiếc măi khôn nguôi... 

 

Cụm trưởng t́nh báo chiến lược H63

Tư Cang Nguyễn Văn Tào

 

PHẠM XUÂN ẨN – TÊN NGƯỜI NHƯ CUỘC ĐỜI

(TẬP II)

 

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải 

( Trích Phóng Sự - Kư Sự của Tuổi Trẻ Cuối Tuần Online - kỳ 11 đến kỳ cuối)

 

 

 

Chất Hài Hước Nam Bộ Kiểu Mỹ

 

 

V́ sao ông Ẩn vẫn là mối quan tâm thời sự của báo chí phương Tây mỗi khi có dịp họ nói về chiến tranh Việt Nam? Câu trả lời có vẻ ngắn gọn: Ông đă âm thầm làm việc suốt cả chục năm, chỉ quan hệ nhiều với giới báo chí nước ngoài và giới lănh đạo chính quyền Sài G̣n cũ. Công việc đ̣i hỏi ông hoạt động ở đỉnh cao và chiều sâu. Nhưng các nhà báo phương Tây nhớ đến ông Ẩn v́ cả sự khâm phục và yêu mến. Họ tin cậy ở sự hiểu biết và chất người của ông.

 

Ở ông h́nh như toát lên được chất tinh thần văn hóa Việt Nam có tiếp thu văn minh Mỹ - chất văn hóa bấy lâu nay họ hiểu như một người được đào tạo bởi nền giáo dục cả Pháp và Mỹ ấy, hóa ra lại rất tiêu biểu cho tính cách người Việt. Chính các nhà nghiên cứu Mỹ đi đến kết luận là nước Mỹ đă thất bại ở cuộc chiến tranh cũng chính v́ không hiểu đúng con người và văn hóa Việt Nam. Thành ra, người bạn cũ Phạm Xuân Ẩn mà họ tưởng đă hiểu cả rồi bỗng như c̣n lắm điều họ cần hiểu cho hết.. vẫn c̣n nhiều điều cần phân tích, khám phá để qua ông, có thể t́m thêm câu trả lời thuyết phục về cuộc chiến.

 

Trước đây, họ đă biết về ông như thế nào? Điều đầu tiên là một người am hiểu và có óc hài hước. Cái hài hước kiểu tưng tửng thật thà, như nói chơi, dẫn người ta vào “đúng giữa vấn đề tưởng như đă rơ ràng” để rồi bật ngửa ra với cái kết cục rất tai quái, rất “hợp lôgic” thật tự nhiên. Họ cười v́ được rơi vào những liên tưởng đột ngột của cái kết rất hợp lư mà đơn sơ đầy chất dân gian. Ông thường kể một chuyện như “tiếu lâm hiện đại”. Một chàng Mỹ nọ vào quán bar, say rượu. Một chàng Tân Tây Lan hỏi anh Mỹ đó xem anh là người nước nào, chàng Mỹ hănh diện khoe ḿnh người Mỹ và Mỹ “cái ǵ cũng có”, rất phong phú đa chủng tộc, có cả 5 màu da: sôcôla, đen, đỏ, trắng, vàng. Do đó chàng là người chủng tộc vĩ đại nhất có đủ loại quốc gia. Ông Ẩn vốn thân với anh chàng Mỹ, bảo anh ta: Vậy là má anh lộn xộn mới đẻ ra anh đủ thứ màu da? Chàng Mỹ cụt hứng bỏ đi thẳng. C̣n Ẩn th́ nói: “Điều đó Mỹ chế, không phải tôi chế” - ư nói ông chỉ là người “trích dẫn” đúng lời của người bạn Mỹ mà thôi.

 

Hồi cố vấn Mỹ bắt đầu vào Miền Nam, các Bộ trong chính quyền đều có cố vấn Mỹ. Cơ quan Viện trợ kinh tế Mỹ nằm ở phía sau chùa Xá Lợi. Một cố vấn về văn hóa có nuôi con ḅ sữa ở Bến Cát. Ông ta đem lên Củ Chi cho lai giống. Người ta thả cho 2 con ḅ giao phối. Nhưng con ḅ đực nhảy nhót, chạy tới chạy lui “không chịu làm ăn ǵ hết”. Ông ta bực lắm. Một người khác “cố vấn”: Con ḅ đực này vốn ở xứ mát. Củ Chi, Bến Cát nóng lắm, nó không chịu nhảy là phải!

 

Đem lên Buôn Mê Thuột vùng núi mát mẻ thử xem. Lên tới vùng mát mẻ, thả ra con ḅ đực cạo cạo khều khều rồi bỏ đi ăn cỏ. “O.K! Chết mẹ rồi!” Lại có người cố vấn: chắc biển nó thích! Thế là con ḅ lại được đem đi biển. Phan Rang, Phan Rí cũng lên, Đà Lạt cũng tới. Mới thả ra nó hăng lắm, lúc đầu cũng chạy tới chạy lui đuôi cong lên,  uốn éo như cần câu rê rồi lại xụi xuống bỏ đi.

 

Từ câu chuyện ấy ông Ẩn “lái” ngay h́nh ảnh cố vấn Mỹ. Ông bảo:”Cố vấn không làm chỉ nói thôi” và nói rằng “Mỹ chế ra đó nhé!” Rồi ông làm như thật: Cái nghề khổ lại tiếu lâm: Ngày xưa các cụ có chuyện “nghề cóc kêu”. “Cố vấn” (cố là xoay qua vấn là hỏi), cố vấn ngồi gần quan lớn, khi nào quan quay qua hỏi mới được trả lời. Chẳng may quan “làm cái rầm”, hỏi chi, thưa rằng cóc kêu. Cóc kêu sao thối. Dạ cóc chết. Cóc chết sao kêu. Thưa hai con. Một con kêu một con chết. Chuyện tiếu lâm dân gian Việt Nam lạ lùng kiểu đó cũng được kể cho cố vấn Mỹ nghe. Họ vừa khoái vừa biết ngay tính chất của Ẩn. Mỗi khi ông sắp kể là họ đề pḥng “lại sắp toàn chuyện trên trời”. Nhưng đề pḥng rồi mà vẫn mắc mưu như  thường.

 

“Hồi tôi đi hành quân với lính Mỹ đánh ở Đồng Tháp Mười, đóng quân tại Mộc Hóa. Có một cái chùa c̣n dân ở toàn nhà lá. Chỉ huy sư đoàn ở trong chùa, tôi làm phiên dịch”.

 

Ông kể cả những chuyện oái ăm như chuyện đám Mỹ “đi cầu” ở vùng quê - ngồi chóc ngóc trên sông, nơi chỉ quây bốn miếng vuông xung quanh, tḥ cái đầu ra. Một ông cố vấn Mỹ khoe đă từng đánh trận Thế chiến hai rồi đi khắp nơi, do đó ông sống đâu cũng được.

 

Đến đêm, Ẩn nằm với hai cố vấn Mỹ: và câu chuyện về đời sống dân dă bắt đầu. Người Mỹ khen cá chốt nhiều quá. Cá chốt nhỏ bằng ngón  tay, ngón chân cái giống hệt cá trê con, ngồi đi cầu cũng thấy, nó cũng nhảy lên. “Tao thấy cá cái ít, cá đực nhiều. Con đực mập, con cái ốm”. Ẩn làm như thật thà nhận xét. “Vô lư, con cái bao giờ cũng mập hơn con đực. Sinh vật học thường nói vậy”. “Không tin mai xem. Chỗ mày ngồi đi cầu đó. Con đực mập, con cái ốm tong teo à. Con cái nó mải nh́n mày quên ăn, nên ốm. C̣n nếu mấy bà ngồi th́ ngược lại”. “Trời ơi, học kiểu này chết rồi”. Hai ông cố vấn tên là ông Glen và ông Hick kêu lên thích thú biết ḿnh lại bị lừa một cách rất “tiếu lâm”.

 

Ông Ẩn hay “chọc” cho họ nói để dẫn đến một t́nh huống cười vui. Có câu chuyện vui như thế với một trung tá Mỹ. Một bữa sau khi nói mọi chuyện xong họ tán gẫu. Trung tá Mỹ hỏi theo Ẩn nhận xét th́ phụ nữ ở đâu đẹp. Ẩn bắt đầu “gây sự”. “Mỹ thôi, lai nhiều giống nên đẹp phải rồi”. Nói nghiêm túc đi, không đùa nữa: phụ nữ Tàu đẹp. Viên trung tá Mỹ: “Mày ngu lắm. Gái Việt Nam đẹp nhất: Phân tích nhé, chỉ h́nh thể thôi, c̣n bỏ sang một bên tính t́nh dịu dàng này nọ không nói”. Ẩn: “Đâu, đẹp chỗ nào đâu? Da vàng, mày tằm, mắt phụng, lỗ mũi kỳ lân”. “Mày ḍm bên ngoài nói bậy. Tao học nhân chủng học đàng hoàng. Hơi lai biết liền. Người Việt Nam khớp xương tṛn. Hơi lai Tàu là xương bè. Gái Việt đầu gối đi thẳng, nở thẳng. Mỹ, Tàu, Miên, Thái Lan đi khác. Không phải ngực to đồ sộ mà mặc đầm hay áo dài đều đẹp v́ xương khớp tṛn. Một đứa Mỹ mặc áo dài, coi ra quỷ sống! Người Việt Nam đi thẳng. Mày cứ ra đường coi xương mông họ. Mười người Việt Nam hết chín người đi thẳng”. Người Mỹ dùng hết kiến thức để chứng minh cho Ẩn thấy ḷng tự hào rồi, Ẩn vẫn chọc: “Đi thẳng đâu. Ở núi đi lom khom thấy mẹ!”

 

Núi là chủng người dân tộc, viên trung tá không quân Hoàng gia Anh mà “cái ǵ nó cũng biết!”

 

Khi đó Mỹ xây bệnh viện dă chiến 3 tại vùng đất trống Sài G̣n, nay là nhà Bảo tàng Quân đội. Bệnh viện đó trang bị máy móc tốt, thầy thuốc giỏi, thương binh nặng lắm mới vào đó. “Xây chỗ này hay, bệnh viện này hay”. Ẩn nghe khen tấm tắc công tŕnh họ xây. Ẩn lại chọc. Để anh kể cho họ nghe hay chỗ nào. “Kể đi” - Đám bạn Mỹ giục, “anh kể đi, thế nào rồi đến kết luận là rắc rối đây”. Họ biết tính Ẩn nhưng chưa biết “vụ rắc rối” này sẽ dừng ở đâu. “Hay chỗ nào nào. Đường 9 Nam Lào đánh không lại Việt Cộng, thương binh đưa về cụt chân, cụt tay. Đem vào đây ráp chân người khác. Lắp chân vào, chạy như thường, giỏi. Có cái làm không được. Mắc đái là té”. Sao vậy? “Ráp lộn chân đàn bà, mỗi lần mắc là mất thăng bằng v́ đàn ông đứng đái, đàn bà đái ngồi”. “Biết ngay, thế nào kết cục cũng có bài học!”. Đám Mỹ cười.

 

Anh chàng Ẩn này không chỉ hài hước, mà cái ǵ cũng biết “vận dụng”. Họ không chỉ ngạc nhiên thấy về đồng bằng, Ẩn chèo xuồng ghe như dân sông nước chính hiệu, mà khi đưa đoàn kư giả đi lấy tin tức, viết bài, Ẩn hay giảng giải về phong tục tập quán. Vào nhà có bàn ghế phía trước bàn thờ, phụ nữ vô ư ngồi đưa đít vô bàn thờ là hỏng, mấy bà nhớ chú ư cái bàn thờ nhà người ta. Vô Chợ Lớn coi chừng nhiều chỗ thờ: Thần Thổ, Thần Tài, chỗ nào bàn thờ có h́nh lông mày là nhà vũ nữ. V́ sao đám ma lại vui? Quan niệm sống gửi, thác về. Người ta được về, mừng, khóc là khóc cho người ở lại. Con người ta có ba hồn tất cả: linh hồn (là phần ở trên đầu) chết đi về cơi hư vô. Tâm hồn (là tim, t́nh cảm) c̣n lại hoài ngồi trên bàn thờ với con cháu trong nhà. Hồn thể chất (như bụng…) nếu sống mà x́ ke ma túy, tham nhũng hối lộ, khi chết Diêm Vương lật sổ coi, cho lên hay không là sau… tùy tội nặng nhẹ.

 

Những phong tục, kiêng kỵ truyền miệng kiểu đó cũng được Ẩn “vận dụng” cả trong câu chuyện “phân tích chiến sự” với các nhà báo phương Tây: Mỹ đánh bom dùng máy báy B.52 rải thảm Hà Nội, thua là phải thôi, thua quân đội của Vơ Nguyên Giáp là cái chắc. V́ bom dội cả mồ mả ông cha người ta, làm sao linh hồn người ta không trừng phạt cơ chứ!

 

Ông Ẩn vẫn c̣n nhớ câu chuyện của viên thiếu tướng Phạm Văn Đổng. Ông và Đổng, hai người hay đi hành quân, từng ngồi trực thăng về tuốt Cà Mau. Một lần sau khi hành quân, một sĩ quan Mỹ hẹn về Sài G̣n mời ăn cơm. Đến ngày hẹn ông Đổng không  nhận mà nói dời bữa ăn tới lúc khác. Hay ổng giận, hỏi thẳng không nói? Người Mỹ đó nhờ Ẩn ḍ thử xem lư do sao ông Đổng không chịu. Th́ ra lư do chỉ v́ lật lịch thấy ngày xui, ông thiếu tướng dặn: “Đừng nói kẻo Mỹ nó bảo dị đoan”. Đến mức hành quân ông ta cũng xem ngày giờ. Nếu ngày xấu là đổi chương tŕnh - “Việt Cộng rút rồi”, lư do ông đưa ra vậy. Rút th́ cũng vẫn ở Việt Nam chứ c̣n rút đi đâu! Nay không đánh mai đánh cũng được.

 

Trong cuốn sổ tay, ông Ẩn viết tên một số bạn làm báo cũ của ḿnh.  Robert Shaplen (chết), John Stirling (chết), Keye Beech (chết), Frank Mc Cullock (về hưu), Neil Sheehan (nhà văn), David Halberstram (nhà văn), Beverly Ann Keaver (giáo sư), Malcom Brown (kư giả)… Nh́n vào danh sách này thấy khá nhiều người đă chết hoặc về hưu. Họ đă là những người trôi dần về dĩ văng, nhưng đúng như Robert D. Mc. Fadden đă viết trong tờ The New York Times năm 1997. Đối với các đồng nghiệp Mỹ ngày xưa, câu chuyện về ông Ẩn vẫn là chuyện về ḷng trung thành và t́nh bạn giữa hai nước vốn là kẻ thù. Nó có thể là chiếc ch́a khóa để thấu hiểu những năm tháng chiến tranh đầy xúc động và một nước Việt Nam vào thập niên 60.

 

V́ sao bạn bè ông vẫn đi t́m “chiếc ch́a khóa” ấy? Có lẽ v́ hội chứng chiến tranh Việt Nam vẫn c̣n cho đến hôm nay đối với người Mỹ. Thế hệ con, cháu của họ đang đương đầu với nhiều thứ, và tư duy của nước Mỹ không chỉ bận rộn quan tâm tới việc như chính phủ ông Bush mới lên đang triển khai hệ thống pḥng thủ tên lửa quốc gia NMPD. Người ta phải t́m hiểu xem nó sẽ nhằm vào kẻ thù nào. Một số ít tên lửa mà Bắc Triều Tiên, Iraq, Iran, hay là của nước Nga đang trang bị tốt hơn, và một Trung Quốc? Đó là đề tài cho các nhà chiến lược và sự phân tích của giới truyền thông.

 

Họ đưa các con số: chính quyền Reagan và Bush đă chi 27 tỷ USD cho việc nghiên cứu các ư tưởng từ việc đưa vào quỹ đạo vũ khí laze bắn bằng đầu đạn đến các vệ tinh được trang bị bằng các thiết bị đánh chặn tên lửa. Những vấn đề to đùng ấy làm cho người ta lo ngại nhiều bề. Với người Mỹ th́ trước hết là chi phí khổng lồ trong khi kinh tế Mỹ tụt dốc sau gần một thập kỷ liền tăng trưởng. Có vẻ như quá nhiều việc phải lo. Con người phải sống trong “một xă hội không có trí nhớ” một xă hội Stress v́ quá tải, lo cả chuyện không biết c̣n chỗ nào trên hành tinh này để đổ rác nữa hay không. Rồi điên đầu với tội phạm có tổ chức, khủng bố, đánh giết ly khai sắc tộc, tôn giáo, buôn ma túy thực sự mang tính xuyên quốc gia. Tự do hóa, đa phương thương mại, thị trường là yếu tố quyết định kết quả tài chính, con người hiểu sâu sắc thế giới nhưng cách nào để ǵn giữ xă hội bền vững th́ lại rất kém.

 

Thế giới lo chuyện đại sự, lo thay đổi về nhân khẩu học, năng lượng, môi trường an toàn lương thực. Lo “vẽ bản đồ ngôi nhà” của ḿnh: một cụm cao tầng ở trung tâm có bảo vệ bằng điện tử: đó là khu tài chính, thương mại. Rồi đến vùng vây quanh là nơi sinh sống của hàng triệu người bỏ quê ra sống đô thị, chịu cảnh nghèo khổ trong nhà ổ chuột, dịch vụ hư hỏng xuống cấp, tắc nghẽn giao thông. Rồi đến ṿng bao quanh khu đô thị đó mới là khu biệt thự của nhà giàu đă bỏ chạy khỏi cái ṿng đai của dân nghèo để ra xa với ṿng đai xanh và hàng ngày đám nhà giàu và trung lưu đi ô tô vào trung tâm để làm việc. Sau đó mới đến các khu xử lư rác… C̣n lối sống?

 

Th́ đă có thể t́m vào câu trả lời ở 8 đề cử Oscar cho Vẻ đẹp Mỹ - American Beauty mà các nhà phê b́nh gọi đó là bản luận tội xă hội trung lưu Mỹ. Không vắng mặt một việc nổi cộm nào, từ “những lời nói dối để yên thân giữa chồng, vợ, con cái” cho đến bạo lực, ma túy, t́nh dục ngoại hôn, dấu vết của chủ nghĩa tân phát xít và sự ḍ xét đời tư người khác… Tế bào căn bản của xă hội Mỹ là giới trung lưu khá giả ấy đă nhiễm bệnh thời hiện đại. Và thanh niên th́ phải lo sự thành đạt để giàu có.

 

Người ta đă kêu lên: không ai hiểu lớp trẻ, trừ các nhà tiếp thị. Bọn trẻ có tiền, được gọi là thế hệ Y đă thay cho h́nh ảnh cũ về thế hệ X của những năm 90 lương ít, sống buồn, không tin quảng cáo. Nay th́ h́nh ảnh của họ là dễ thương, có học, có tiền, đang quyết liệt leo lên đứng vào con số 2/5 số người giàu sang, nhóm dân Mỹ phát triển nhanh nhất có măi lực 120 tỷ đô. Với cái đích đến ấy, họ phải giải quyết các vấn đề của ḿnh. Không biết họ có giống vấn đề của nước Nhật, giới trẻ sành điệu, xăm ḿnh, xỏ lỗ tai, nhuộm tóc, ăn nhiều hambuger, pizza và uống Coca.

 

Nhưng rơ ràng họ phải nhanh chân, chọn lọc, v́ xă hội của họ cho thấy một người tốt nghiệp trung học không biết Newton khám phá ra trọng lực th́ cũng chẳng tai hại bằng việc không biết xài thẻ tín dụng. Mỗi năm có tới cả triệu người Mỹ bị phá sản v́ thẻ tín dụng! Họ cần học kỹ năng sống để không bị đào thải trong xă hội hiện đại với những khóa học “life skills course”.

 

Thế mà lứa cha mẹ họ, những người vẫn đặt quan tâm vào những vấn đề Việt Nam. Không chỉ là việc liên quan đến 58.000 lính Mỹ chết ở Việt Nam, số quân luân chuyển và gia đ́nh của họ, lên tới hàng triệu người có liên quan trực tiếp, mà c̣n là chuyện v́ sao đổ vào 350 tỷ đô mà bại trận? Và đau đầu hơn nữa là v́ sao họ không hiểu hết được kẻ thù? Họ đă thua v́ văn hóa, v́ con người. Đến bây giờ họ vẫn trở lại đất nước này để hỏi rằng v́ sao Việt Nam đánh Mỹ quyết liệt vậy mà nay đón người Mỹ một cách tử tế nồng hậu không hận thù. Họ hỏi vợ của người chiến sĩ trong bức ảnh làm chấn động thế giới, bị Nguyễn Ngọc Loan dí súng bắn chết ngay trên đường phố Sài G̣n “Có căm thù Mỹ không?”. Người đàn bà ấy trả lời chân thật: bà hận thằng bắn, c̣n con bà hiện nay đang học tiếng Anh.

 

Một dân tộc có văn hóa, cao thượng như vậy v́ đâu? Chính điều này lôi kéo các kư giả nước ngoài. Họ thích ở xứ này, và ông Ẩn nói người Pháp gọi nỗi yêu Việt Nam ấy là “họ mắc bệnh da vàng. Dính đây là kẹt ở đây luôn”. Ông Ẩn đă từng gặp lại những kư giả Anh, Mỹ, Pháp những người mà ông tưởng đă không thể gặp lại. Họ nói đùa với nhau: “Khổ quá! Cái xứ sở kỳ! Say mê ở hoài c̣n làm ăn ǵ. Dứt không được”. Đến bây giờ, không chỉ người Mỹ, mà cả thế hệ sau, con cái của Việt kiều cũng có cái nh́n khác. Cha mẹ họ có thể mang nỗi đau lịch sử, phải sống xa Tổ quốc, có người chống Cộng kiểu xưa. Với lớp con cái, họ không t́m được tiếng nói chung.

 

Ông Ẩn đă tiếp những người con của các bạn ông làm việc cho chế độ cũ. Đám trẻ này theo cha mẹ định cư ở Mỹ, nay về nước làm ăn hoặc thăm gia đ́nh. Ông nhận xét: “Tôi tin tưởng vào thế hệ văn minh, có nhận xét khách quan. Đụng tới dân tộc, tới Tổ quốc là họ sẽ bảo vệ. Bố mẹ nó chống Cộng, nói nó không nghe. Lư sự là: ổng làm sai, chọn không đúng đường, c̣n cay cú. Nhét mấy đồ đó vào tụi con đâu được. Th́ ổng nuôi mày, chiều ổng tí được không? Không được. Nói láo không nên. Đó là tư duy của người con một Việt kiều lớn lên ở Mỹ, suy nghĩ “Mỹ trăm phần trăm”. Đám trẻ có học hành, gạt nó không được. Đầu đất sét sao? Nó thông minh chớ”…

 

Bây giờ, mỗi khi các nhà báo phương Tây trở lại Việt Nam, ông Ẩn vẫn không quên thăm hỏi những người bạn đồng nghiệp đă lớn tuổi, người nghỉ hưu, người đi dạy học. Những tên người được nhắc đến như Frank Mc Culloch giám đốc văn pḥng Tuần báo Time tại Sài G̣n, Richard Clurman là trưởng ban phóng viên tạp chí Time với văn pḥng ở New York. Ông Ẩn nhắc họ như một lời tâm sự: “Mc Culloch dạy tôi cách nhận tin đúng. Đó là mối quan tâm chính của Mc Culloch. Hăy nói với anh ấy, tôi không hề là thành viên của chiến dịch thông tin sai lạc. Những người bạn tốt nhất của tôi đều ở ṭa báo Time. David Greenway và các phóng viên khác đă dạy tôi thế nào là t́nh bạn. Clurman cũng đă chứng minh thế nào là sự trung thành. Mọi người đều ngán sợ Clurman nhưng khi có vấn đề họ đều hướng về ông ta để được giúp đỡ. Clurman không hề vùi dập ai bao giờ. Nhà báo Morley Safer cho biết Frank Mc Culloch hiện là chủ biên điều hành của ṭa báo San Francisco Examiner. David Greenway làm cho tờ Boston Globe, c̣n Richard Clurman hiện viết sách và là Trưởng bộ môn báo chí Đại học Columbia.

 

Ông cũng c̣n hỏi thăm về Robert Shaplen, phóng viên nhiều năm tại Việt Nam của tờ New Yorker mà ông không biết là đă chết v́ ung thư. Hỏi về người bạn thân thiết Nguyễn Hưng Vượng. Morley viết trong một bài tường thuật sau cuộc gặp gỡ ông Ẩn tại Sài G̣n: “Ẩn ôm hôn và bắt tay tôi. Làm ơn nói dùm với tất cả các bạn lời thăm hỏi. Nói với Clurman và Mc Culloch và đặc biệt với Charlie Mohr. Nói với họ rằng tôi vẫn khỏe, vẫn thường”. Charlie Mohr trước tiên làm cho Time, rồi New York Time. Ông ta là một trong các nhà báo Mỹ đầu tiên tường thuật về một Miền Nam Việt Nam hấp hối vào đầu những năm 60. “Trở về Mỹ tôi gọi cho Clurman và Mc Culloch, cả hai đều rất cảm kích là Ẩn đă nhớ tới họ một cách mến mộ như vậy. Với Charlie Mohr tôi chẳng bao giờ liên lạc được, anh đă chết vào năm 1989 ở tuổi 60 v́ bệnh ung thư”. Morley viết.

 

Họ trở  lại Việt Nam không phải là chỉ đem về được những t́m hiểu sâu hơn về con người và xứ sở này, những ǵ trước đây đă không hiểu được. Họ c̣n có những ấn tượng sâu đậm từ h́nh ảnh người bạn cũ này, người được đánh giá là có quan hệ rộng “best connected man” tại Sài G̣n và nhờ vào đó, Ẩn đă cứu những người bạn như thế nào. Ông Ẩn hôm nay vẫn cho họ ấn tượng mới. Có vẻ là c̣n vô số điều có thể khám phá về tính cách người Việt Nam qua mỗi con người mà họ biết. “Có bao giờ ông buồn và ân hận v́ đi làm cách mạng không?”. Câu hỏi động chạm và có vẻ khó nói nhất ấy của người nước ngoài, được ông trả lời dễ dàng: “Có buồn chứ. Buồn nhất là lúc đó cấp trên không cho lấy vợ Mỹ”. Ông đă biến những điều nghiêm trọng trở nên nhẹ nhơm nhờ vào những chuyện tưởng như nhỏ nhoi, riêng tư và “xa chủ đề” nhất.

 

Sao ông bảo đất nước ông tự do cơ mà? “Không được, ông nội! Vào Đảng đă hứa rồi. Vợ Mỹ, con người quốc tế, cả loài người nhập vô, lai nhiều giống. Mà ác cái, tôi thương hai ba cô liền. 14 tuổi tôi đă biết yêu rồi. Ác lắm. Vợ tôi là người thứ mười lăm mới cưới. Rảnh là đi coi vợ. Có ai lấy đâu. Tôi hỏi một lần à. Kiểu anh trời đánh không chết! Bạn bè lắc đầu cười”.

 

C̣n những câu hỏi nghiêm trọng hơn giữa các đồng nghiệp hỏi thật nhau. Bây giờ kư giả Mỹ vẫn đ̣i ông bạn Ẩn của ḿnh vốn là nhà phân tích chiến tranh, phải trả lời cho họ rơ v́ sao Mỹ thua.

 

Ông Ẩn: “Mỹ thua bao giờ? Là anh nói đấy nhé, không phải tôi nói. Cụ Hồ cũng không nói thế. Cụ nói “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Cụ có nói Mỹ thua không? Hội nghị Paris 4 bên, anh đồng ư mới tự phải rút quân anh nhá!” “Thôi thua phải nói thua, không ngụy biện”, kư giả Mỹ vặn lại.

 

Ẩn vẫn đẩy cái bẫy hài hước trêu chọc ra: “Có nhớ không? Đờ - Gôn nói nước Pháp thua một trận chiến chứ đâu phải cả cuộc chiến tranh”. Lại giở tṛ rồi! Kư giả Mỹ lại chịu. Họ quay về đề tài cũ: Đi làm cách mạng vậy có tiếc ǵ không? Lại rơi vào trận cười chuyện lấy vợ Mỹ, việc coi bói. Khổ. Ông nội cách mạng rắc rối, quản lư chặt, không cho lấy vợ Mỹ… Cưới vợ phải coi bói. Tam hạp quá cũng không được. Năm thê bảy thiếp, cộng vào là mười hai con giáp. Chết cô Mẹo cưới cô Mẹo vô. Khỏe. Cộng sản lên, một vợ một chồng, chơi hại. Kẹt. Tây nói đàn bà muốn là trời muốn. Họ thương phải lấy, không được căi lệnh trời…

 

Kư giả Mỹ cười ḅ, hỏi thân mật: Cộng sản chứa loại anh à? Đuổi không lợi, thôi để luôn cho rồi. Cứ như vậy các kiểu “đùa dai” hài hước của Ẩn đă trở nên quá quen với họ. (kỳ 11, ngày 28/10/06)

 

Chú Bé Mê Chơi

 

"Con nào cũng hay trơn!”. Giọng ông nửa trách móc, nửa hănh diện kiểu trẻ con. Lại như giải thích cho tính khí của ḿnh. Có phải tất cả mọi việc sau này đă bắt đầu từ những việc li ti đó? Có cái ǵ của thời thơ bé ấy c̣n in dấu làm nên tính cách con người anh hùng của hôm nay?...

 

“Những ǵ anh đă làm trong quá khứ - vẫn Morley viết - Cho dù anh là người thế nào, Ẩn vẫn là con người của nhân cách đáng kính trọng, vẫn tin tưởng ở sứ mạng vẻ vang của đất nước nhỏ bé của ḿnh. Tôi không nghĩ anh ta là một người Cộng sản mặc dù anh vẫn là một Đảng viên trung thành. Tôi cũng không nghĩ anh như một người quốc gia. Đó là những từ ngữ sai lạc thường che khuất sự cao cả vĩ đại và cả những t́nh thế xấu xa. Không, tôi cho rằng Ẩn là một người yêu nước, trong số rất ít những người như thế mà tôi được biết”.

 

C̣n Karnov Stanley cựu phóng viên tờ Washington Post người từng đoạt giải Pulitzer th́ viết về ông Ẩn như sau: “Ông Ẩn là con người phải giằng xé giữa hai t́nh cảm. Ḷng trung thành với dân tộc, đất nước ông và sự tận tụy với nghề nghiệp, t́nh bạn với các đồng nghiệp từ một nước đă gây chiến với dân tộc ḿnh”. Mc Culloch th́ cho biết: “Tôi không bao giờ giận ǵ ông Ẩn” (Mc Culloch là trưởng đại diện tờ Time nơi ông Ẩn làm việc thời đó). Culloch viết: “Bởi nếu như t́nh thế đảo ngược lại, nếu như hàng trăm ngàn người Việt Nam xâm chiếm đất nước tôi, tôi cũng sẽ làm như ông Ẩn đă làm. Ông là một người bạn tốt và đáng kính trọng”.

 

Một con người vừa đứng ở đỉnh cao nghề nghiệp, vừa làm trọn công việc mà đất nước cần, lại cũng giữ được ḷng kính trọng của những người thuộc phía đối phương. Nhân cách ấy nhiều nơi có thể nhận là “sản phẩm” của ḿnh: Văn hóa Pháp, nền giáo dục Mỹ. Hơn thế nữa, con người này đă ứng xử trong những hoàn cảnh thật đặc biệt. Ông không thể hỏi ư kiến cấp trên trong nhiều t́nh huống hoạt động đơn lẻ, bí mật tuyệt đối. Phải xử sự hàng ngày và rất nhiều trường hợp, “người chỉ đường” cho ông chính là cái bản lĩnh sâu sắc của người Việt Nam, một đặc tính của dân tộc đă từng sống trong những thử thách khốc liệt nhất. Cái bản lĩnh này chẳng phải có sẵn như chiếc áo mặc vào. Nó vô h́nh và mỗi con người góp phần ḿnh, bằng cách chọn con đường, và bằng cảm nhận, bằng sự trải qua, đôi khi rất riêng tư”.

 

Dưới mắt một kư giả Mỹ, quá tŕnh đó của ông Ẩn như sau: Năm 13 tuổi, tức là năm 1940 ông bắt đầu nhận thức về nghịch lư của dân tộc khi Nhật chiếm Việt Nam sau khi Pháp bại trận phải đầu hàng Hitler. Tại thị trấn cảng phía nam của Rạch Giá, quê nhà của ông lúc đó, những kẻ chiến thắng là Nhật vây ráp người Pháp (sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương ngày 9 - 3 - 1945) và dùng xích xâu họ lại với nhau dưới ánh nắng gay gắt tại một băi đất. Mục đích của việc này là tiêu diệt h́nh ảnh những người cai trị da trắng trong mắt người Việt Nam và dựng nên viễn cảnh của một Đại Đông Á mới chiến thắng dưới sự bảo hộ của người châu Á - người Nhật.

 

Đă có lần ông Ẩn nói: “Tôi không bao giờ thích người Pháp bởi v́ con cái những tên thực dân Pháp ngược đăi trẻ em chúng tôi. Nhưng người Nhật làm tôi ghê tởm. Những người Pháp bị khát. Tôi đến hỏi cha tôi và ông bảo tôi nấu ít nước mang đến cho họ. Khi tôi làm vậy, người Nhật tát tai những người Pháp đă nhận nước uống”. Ông Ẩn nói tiếp: “Tôi vẫn không thích sĩ quan người Nhật. Trước năm 1975 tôi không bao giờ nhận lời mời của Đại sứ quán Nhật cũng v́ lẽ đó”.

 

Kư giả Mỹ đă nhận xét cả vẻ mặt ông Ẩn trong suốt cuộc nói chuyện. Lúc cuộc nói chuyện này diễn ra, ông Ẩn đă ở tuổi 68. Ông đă qua suốt hai cuộc kháng chiến và với nghề báo, ông đă hiểu sâu sắc bản chất của mọi mối quan hệ con người. Có thể nói cách nào đó, ông đă là một chuyên gia giao tiếp với đủ loại người, với con mắt phân tích của một kư giả và một nhà t́nh báo chiến lược. Vậy mà, vẻ mặt của ông như tác giả Henry Kamm nhận xét: “Đó là lần duy nhất trong rất nhiều cuộc trao đổi về cuộc đời đầy biến động của ông, tôi nhận thấy trên khuôn mặt trầm tĩnh của ông nét hận thù làm cho giọng nói và sự b́nh thản của ông đanh lại. Số phận những người Pháp dấy lên ḷng thông cảm của ông với những người bị thua thiệt. Ông nói rằng một yếu tố khiến ông tích cực quyết định theo phe nào chính là sự bất công đối xử giữa người Việt và người Việt. Ông đă thấy một địa chủ, cha của một bạn học cùng lớp, đối xử thậm tệ với những người tá điền của ḿnh. “Chúng tra tấn họ. Chúng bắt vợ con họ ngủ với chúng…”

 

“Đó là lư do tôi tôn trọng người Mỹ - ông Ẩn nói - Họ dạy cách giúp đỡ những người yếu thế…”

 

Cách nh́n này của Henry Kamm, hay chính lời nói chân thực của vị tướng Việt Nam? Những ưu việt của thế giới hiện đại tiến bộ ông đă học được ở Mỹ, dù sao không thể không đặt trên cơ sở tâm hồn và nhân văn một người Việt Nam biết cảm nhận. Chính cách cư xử trong suốt cuộc đời trọn vẹn nhiều bề đă làm giảm bớt khó khăn và được sống tự nhiên trong sự tồn tại khác thường của ông ở cả hai phía trong cuộc chiến tranh.

 

Các kư giả Mỹ kể rằng ông đă thành công trong việc cứu mạng Robert Sam Anson, một nhà báo trẻ tuổi của tuần báo Time bị bắt tại Campuchia nơi mà nguyên văn lời của Henry Kamm “nghĩa địa của hầu hết các phóng viên khi rơi vào tay quân đội của Khmer đỏ”. Đội quân Khmer đỏ đó hoạt động bất hợp pháp tại biên giới và thích ẩn ḿnh ở lănh thổ nước ngoài để thoát khỏi sự chú ư của thế giới. Chi tiết này xuất hiện trên báo nước ngoài, chắc chắn sẽ lại chất thêm những điều phong phú bí ẩn của đời mà vị tướng này chẳng bao giờ viết ra.

 

Nhưng có thật là “cuộc đời của Phạm Xuân Ẩn với tất cả những chi tiết mập mờ gây hoang mang có thể là một mẫu cho những người trong thời đại ngày nay vẫn phải tiếp tục đối diện với vô số lựa chọn gây bối rối”, như nhận xét của kư giả nước ngoài hay không? Chắc phải t́m về nguồn cội, nguồn cội của con người mang nhiều dấu ấn và chứng cớ của lịch sử này, phải có một mở đầu như thế nào chứ? Có đặc biệt không?

 

Không có ư thức trả lời phỏng vấn, vào một buổi chiều đến chơi thường lệ, tôi đến khu vườn nhỏ ấy và thấy ông đang say mê giở túi rắn liu điu nhỏ xíu: “có chất, nó mới hót” đó là chất bổ dưỡng cho chim. Mọi ngày ông gọi châu chấu lá bít - tết. Rồi ông than thở: “Trước đây chim sẻ rất nhiều. Súng hơi người ta bắn riết nay không c̣n nhiều”. Chuyện vui mà sao nghe như thảm sầu bởi cái giọng đều đều luyến tiếc: “Chim hót cũng như đứa trẻ nít học nói 3 tuổi trở lại. Chim nhỏ mà ở rừng nó không hót nữa. Con tương tư th́ mắc lắm. Bên Tàu có”.

 

“Ngày xưa tôi nuôi gà ṇi chọi. Đầu hôm th́ bắt thằn lằn, đêm cho uống nước, cho ra sương. Có hai cái đại hội. Đại hội tả kê đá gà. 6 tháng mùa khô. Đá cá ăn tiền lớn. Con nào thua chịu sọc dưa, khi sợ, nó nhạt màu. Coi miệng, bụng, lỗ mũi… nuôi cực lắm. 4,5 tuổi tôi đă nuôi, 10 tuổi đă đi “đày”.

Sao lại đi đày?

 

Và thế là có một chú bé hiện ra theo lời ông kể.

 

“Bị đày, chơi không. Không học hành ǵ. Lúc nhỏ 2 tuổi ở Huế với bà nội. Bốn tuổi, bà nội chết, đem vô. Chơi chim chơi cá. Học khúc, nghỉ khúc. Thôi cho mày về quê học làm điền chủ. Về Rạch Giá. Ông già làm nghề họa đồ, mua được đất, khẩn đất. Ông buồn lắm. Con người ta học đàng hoàng. Bà Nguyễn Thị B́nh là con người bạn của ông già tôi, ở nhà kêu “con Châu Sa”. Bà B́nh học hành giỏi giang chăm chỉ, ăn mặc đàng hoàng. Con người ta sạch sẽ. Con ḿnh chân bùn không. Đi bắt cá, xách ná bắn chim. Không tội nào nặng bằng tội đi chơi. Thi cuối lớp 3, rớt. Mới “bị đày” ra Huế. Ông già đưa ra Truồi, ở với ông giáo tiểu học, con nuôi của ông nội, nhờ kèm cặp”.

 

Kể đến đây, dường như trong ông vẫn c̣n sống y nguyên một cậu bé con cách nay hơn nửa thế kỷ. Mắt ông có ánh lấp lánh của chú bé ấy: “Đày cũng lợi. Đâu có chừa. Đợi xe lửa trong Nam ra, tối nghe kêu ú ú là chạy ra ga, nhảy lên tàu ăn những cúi bánh ḿ ṛn của khách bỏ lại. Tàu sắp chạy th́ nhảy xuống. Ông giáo dạy rất kỹ càng. Ông c̣n mua lúa cho giă gạo. Chày một chày hai, chày ba. Khi mùa hè có trăng lên là giă gạo. Học th́ như cuốc kêu “thiên thời địa đất vân mây - vũ mưa - phong gió - trú ngày - dạ đêm”. Thiên là trời - Địa là đất - Gia là nhà - Quốc là nước - Tiền là trước - Hậu là sau - Ngưu là trâu - Mă là ngựa” v.v… Chỉ thích chơi, giă gạo. Ham bắt cá lắm. C̣n ŕnh bắt cọp con. Lâu lâu nó rú cái, lại chạy.

 

Trời lạnh, mặc áo dài đi học, đem theo ḷ ấp, mặc áo tơi, xắn quần lên. Khi nước ngập quá, cởi cả quần đi. Học lại rớt nữa. Có học ǵ đâu. Về Gia Định học trường tư. Năm 1938 xuống Cần Thơ. Khổ quá! Th́ chơi không! Ba năm cái lớp ba! Chơi nhưng chơi kiểu nhà nghèo. Gia đ́nh dạy Nho giáo, ḿnh không hợp. Ḿnh kẹt cái đó. Mà cha buồn, thương cha buồn mà không sao đổi tính được. Ông già cũng thương con nhưng buồn. Ông biết ḿnh nóng giận, rảnh là đánh nện. Mẹ sắm chiếc roi nhỏ cho con đỡ đ̣n nặng. Sau này trong đời hoạt động, đi cùng người Mỹ xuống đồng bằng sông Cửu Long, họ lạ lắm. Thấy tôi chèo xuồng, chèo ghe như không. Nông thôn trồng cây ǵ, nước lớn, nước ṛng, hoa lá, cá chim, biết hết”…

 

Trong giọng ông kể, có cái cây đắng thương cha, có nỗi cảm thông với chú bé Ẩn tuổi thơ ṭ ṃ thông minh hiếu động. Đứa trẻ của đời sống ấy bị nhét vào đầu lối giáo dục Nho giáo không hợp. Có cả sự thú vị của đứa trẻ nh́n thấy thế giới trong cả trạng thái li ti của nó.

 

“Đá kiến nữa: lấy con đen, ngắt râu, không thấy đường, nó chạy đá loạn xạ. C̣n đàn cá thia lia, ông già giận thói mê chơi, đem đổ xuống cống. Tôi khóc ra chặn nơi cống lớn chờ cả ngày mới hớt lại được một con. Khóc như ri. Hồi ở Huế, trên thuyền từ sông Hương ra Cửa Thuận, ngồi ngoài coi từng cái rong dưới nắng”…Ông kể về những bạn cùng lứa và bảo: “Mấy người đó đàng hoàng. C̣n tôi vớ vẩn lắm”.

 

Về cả một quăng đời trẻ thơ gắn bó với đồng ruộng và thiên nhiên như thế, dưới mắt các kư giả Mỹ có thể tóm tắt như lời Henry Kamm: Cha của ông  Ẩn - một viên địa chính thời Pháp ở một tỉnh cực Nam của Đồng bằng Nam Bộ, đă trừng phạt con v́ đă thất bại ở trường vào tuổi lên 9, bằng cách gửi ông về sống với họ hàng ở một làng gần Huế, kinh thành cũ ở Miền Trung Việt Nam. Thất bại trong học tập ngay cả khi c̣n nhỏ là một tội nặng trong gia đ́nh truyền thống Nho giáo như gia đ́nh ông lúc bấy giờ. Cha của Ẩn muốn con trai biết ḿnh đă may mắn thế nào bằng cách bắt con chịu sự khổ cực của cuộc sống thôn dă ở một trong những khu nghèo nhất ở Việt Nam. “Cuộc sống ở đó nghèo đến mức chúng tôi không có dầu thắp đèn và phải dùng bấc đen nhúng trong mỡ chuột để thắp sáng”.

 

Có lẽ v́ thế, mà ông Ẩn tự thấy đời ḿnh luôn đầy nghịch lư. Nhưng mọi sự việc bi thảm, căng thẳng đầy thử thách đă được ông làm cho nó b́nh thường đi. Ông đổ cho số phận và đôi khi tự trào ḿnh bằng cách giải thích theo cuốn sách tử vi Pháp (horozcope) hướng dẫn về điểm mạnh yếu của con người.

 

Người yếu, mắt sâu, táo bón. Loại người quan tâm sức khỏe không dám nguy hiểm. Ông nói về ḿnh mà như nói ai. Nhát, sợ chết, sợ bệnh. Nhưng việc phải th́ dám làm. Nghề phù hợp: báo chí. Ai biết sử dụng anh th́ tốt, không th́ anh chơi. Nhưng rồi anh tự nhận xét: nghề hợp nhất: làm hề. Đẻ ở nhà thương điên Biên Ḥa! Có máu điên điên. Xưa có ít bác sĩ, chỉ nhiều y sĩ. Chỉ có một ông bác sĩ ở nhà thương điên. Vợ các quan chức cao cấp đẻ đều vô đó. Lớn lên ông già làm địa chính họa đồ đo đạc, hay dắt Ẩn đi theo. Có lẽ v́ thế ông biết rất nhiều. Như lại bị cái thói mê chơi ngày bé khuyến dụ, ông Ẩn kết hợp nói chuyện ḿnh đẻ ở nhà thương điên cho tiện.

 

“Ŕnh bắt cọp con, bắt rắn rít, nhỏ đâu có sợ chết. Cái ngu. ham chơi quá. Không chỉ đá kiến, mà bọ cạp cũng cho đá. Mùa ve Huế, tối tôi đâu có ngủ. Sau mưa, nó như nhộng ḅ lên mới ra cánh. Ve ḅ đi để xác lại. Nó bay đi rồi ngày sau ve cái mới kêu. Có hai hạt gạo bên hông, kêu bằng cái đó. Đực không kêu. Đèn đốt bằng mỡ, không có dầu, dầu lửa mắc. Bắt ve về nhà khi nó lột, lựa ra con cái. Không kêu, nắm lắc lắc kêu, tiếng không thanh. Có khi sợ quá, nó kêu. Con đực thả đi. Dân Huế nghèo, bắt ăn. Dế ăn, ve ăn. Dế khôn hơn. Tôi lên miền Thượng, thả kiến vào cắn, dế ngoi lên…

 

Con nào cũng hay trơn!”

 

Giọng ông nửa trách móc, nửa hănh diện kiểu trẻ con. Lại như giải thích cho tính khí của ḿnh.

 

Có phải tất cả mọi việc sau này đă bắt đầu từ những việc li ti đó? Có cái ǵ của thời thơ bé ấy c̣n in dấu làm nên tính cách con người anh hùng của hôm nay? (kỳ 12, ngày 29/10/06)

 

Thời Thanh Xuân Hào Hùng

 

Đó là thời thanh xuân thuộc những tên tuổi: Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đ́nh Thảo, Lưu Văn Lang, cùng cái tên Ba học sinh (Đỗ Ngọc Thạnh) - những tên tuổi của một thời kỳ hào hùng. Tuổi thơ trong một dân tộc phải kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nên kỷ niệm không là những chùm me hay góc phố có giàn hoa Tigôn mà học tṛ thường nhớ mà trở thành cuốn lưu bút hào hùng và đau thương của dân tộc, với những số phận con người hy sinh, chiến đấu dưới nhiều dáng vẻ...

 

Theo như trí nhớ của Ẩn th́ ngày ấy có một du côn Sài G̣n nổi tiếng, học đến “Đip-lôm”. Có lẽ ấn tượng ấy khiến ông nội sợ hăi. Để “nó” ở Sài G̣n thành du côn Sài G̣n th́ chết nên mới “đày” ra Huế, về vùng quê. Giờ đây đă thành một ông nội, ông Ẩn vẫn như c̣n t́m hiểu, nghiền ngẫm về nỗi lo của ông nội ông ngày ấy. “Mà tôi đâu có du côn. Thật ra rất hiền, bị đánh không hà”. Mà hồi đó, 1943, Ẩn 16 tuổi, làm địa chủ ǵ được (theo ư nguyện của cha Ẩn khi thấy con không học kiểu như con người ta nên ông muốn con về quê thành địa chủ). Năm 1948, Ẩn học ở Mỹ Tho cho tới xong tú tài. Năm 1949 phong trào cách mạng bắt đầu lên, trường học đóng cửa v́ phong trào học sinh sinh viên băi khóa. Cuối năm đó, Ẩn về Sài G̣n và tham gia phong trào Trần Văn Ơn nổi tiếng năm 1950.

 

Sài G̣n lúc đó đă bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp từ 23-9-1945. Khi Ẩn lên Sài G̣n, đúng vào thời điểm của phong trào tổng băi khóa và tổng băi công những ngày cuối tháng 11-1949 và tiếp đến là đỉnh cao của phong trào học sinh sinh viên  9-1-1950. Ông Ẩn nhớ lại: có hai cuộc biểu t́nh lớn năm đó: một là vào tháng giêng và hai là cuộc biểu t́nh chống can thiệp Mỹ tháng 3-1950. Hai cuộc biểu t́nh chính trị tới 300 ngàn người ở trung tâm thành phố chống Pháp, phản đối can thiệp Mỹ, đuổi tàu chiến Mỹ ra khỏi Cảng Sài G̣n. Những người lứa tuổi ông Ẩn c̣n nhớ tên hai tàu chiến Mỹ ấy: tàu Anderson và Stichwell thả neo tại quân cảng Sài G̣n. Máy bay Mỹ bay biểu diễn.

 

Suốt trong hai năm 1949 đến 1951, Ẩn phải đi làm thư kư kế toán cho hăng xăng Caltex, giữ sổ sách kế toán, để chăm sóc cha lúc đó bệnh nặng nằm ở nhà thương Chợ Rẫy. Sáng làm ở hăng xăng, chiều dạy tiếng Pháp, tối đạp xích lô. Có một người mướn xích lô đạp ban ngày, tối ông ta ở nhà giữ con để vợ đi bán chè đậu, nên Ẩn mướn lại xe đi đạp buổi tối.

 

“Dạo đó ṣng bạc Đại Thế Giới nhiều người tới đó đánh tài xỉu (tài = lớn, xỉu = nhỏ) quay Rrôbe. Tôi đưa khách vô đó đánh bạc, rồi ngồi đợi họ bên ngoài. Mấy cô mấy bà đánh bạc dữ lắm. Thấy chàng trai đạp xe vui vẻ, hễ thắng bạc là họ cho tiền nhiều. Có khi mấy bà thua quá không có tiền, tôi cũng vui vẻ chở, đạp không tiền. Họ nhớ mặt, nên thường kêu đi. Một bữa nọ ông chủ xích lô thấy Ẩn, liền chào là “thầy Hai”. Ẩn chẳng hiểu v́ sao ông chào trịnh trọng, lại c̣n không muốn cho anh mướn xích lô nữa. “Tôi thấy thầy Hai ở hăng xăng”.

 

Ẩn đă “bị lộ” là một thư  kư có học, nghèo quá phải làm thêm. Nhưng người chủ xích lô không hiểu nổi sự bất thường này nên tỏ ư nghi ngại và chấm dứt việc cho mướn xe. Mấy lần trước đó Ẩn chở đúng con của người bạn của ba anh. Nó về nói với ba, ba nó lại chơi, nói với ba Ẩn. Ông buồn lắm.

 

Ông giáo Ẩn thấy cảm động trước việc người con hiếu thảo làm cả những việc khổ nhọc để nuôi cha bệnh nên mách cho Ẩn một lối thoát. “Có một lớp, ở trường của Lê Bá Cang, con của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Đám học sinh ở đó lớn, như lớp 8 bây giờ. Toán có thầy rồi, thiếu thầy tiếng Pháp. Tuy vậy, người ta mời tôi dạy cốt là để trị giùm mấy thằng mất dạy. Họ dặn: đừng đánh. Chúng không phá. Nó học được. Trường tư khó đuổi”. Ông Ẩn nhớ lúc đó: “Tôi c̣n trẻ, mới ngoài 20, c̣n lũ học tṛ 18, lớn ngồng. Vô lớp, thấy nó cười cười, có ư xem xét thầy nghèo. Tôi vô lớp ḍm đám học tṛ. Những đứa con gái ngoan ngoăn chịu học, ngồi phía trước. Tôi đọc một bài trích: Conrneille, Molière, Racine. Nó vẫn cười cười. Tôi bảo: Các em có phước được đi học. Thầy cũng không được học nhiều. Rồi tôi rủ mấy thằng to con, thích học vơ không. Thích lắm. Hết giờ dạy không mất tiền. Thiệt không thầy? Tôi dạy nó đi đường roi, đánh côn, vơ ta, vơ Ănglê và bơi lội. Sau này nó biết “ổng trị đó”. Tôi dùng con gái trị con trai. Giảng bài hỏi hiểu không? Hiểu, đám con trai nói đại rồi sĩ diện giơ tay. Gọi lên nói không trúng. Hôm sau tôi gọi đứa con gái lên nói trúng. Rồi tôi bảo: Thầy chỉ cần có vậy. Hiểu nói hiểu. Không nói không. Một thời gian sau tôi thôi dạy. Xin trả ông, kiếm thầy khác dạy cao hơn. Nó ngoan rồi”…

 

Đó là thời thanh niên của chàng trai trẻ qua thử thách khá khốc liệt của tuổi vào đời. 4 giờ sáng dậy chuẩn bị đi làm thư kư kế toán hăng xăng từ 5 giờ sáng đến 1 giờ chiều. 2 giờ 30 tới 5 giờ 30 dạy học. Đọc sách. Tối đi đạp xích lô. Chàng trai ấy không hề biết  đời ḿnh sắp có một bước ngoặt, mở ra một cuộc đời mới gian lao hơn nhiều nhưng giúp ích cho đất nước ở một tầm cao mới.

 

Đó là thời kỳ đỉnh cao của phong trào học sinh sinh viên. Các trường học, cả công cả tư đều băi khóa, kể cả hai trường trung học quan trọng nhất lúc đó là Marie Curie và Chasseloup Laubat. Trường Pháp, nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa trường. Học sinh biểu t́nh lên Nha Học chính rồi Dinh Thủ hiến. Cuộc băi thị được một cuộc tổng băi công của 8 xí nghiệp lớn với 5.000 thợ máy hỗ trợ. Cảnh sát đánh học sinh và học sinh chống lại, ném đá đến nỗi cảnh sát bỏ chạy và kêu viện binh đến đàn áp. Học sinh, phụ huynh, nhân dân, công nhân… đă nhất loạt đứng dậy đ̣i mở cửa trường và thả những người bị bắt. Thủ hiến Nam Phần lúc đó là Trần Văn Hữu xin ư kiến quan thầy Pháp không nhượng bộ mà c̣n ra lệnh đàn áp dă man hơn. Bị thương nặng, học sinh Trần Văn Ơn chết.

 

Cái chết của anh như luồng điện và làm bùng lên ngọn lửa phản kháng mạnh mẽ. Sài G̣n không bao giờ quên h́nh ảnh mấy chục vạn người trong đám tang lớn chưa từng có suốt từ khi Cách mạng tháng tám thành công năm 1945. Chợ búa không họp. Cửa hàng phố xá đóng cửa. Suốt từ tờ mờ sáng các loại xe, tàu rần rần chở người biểu t́nh về trường Petrus Kư. Những người tham dự biểu t́nh ngày ấy c̣n nhớ đầu đoàn biểu t́nh đă vào đến Chợ Lớn mà đuôi vẫn c̣n ở cổng trường chưa đi được.

 

Quan tài của Trần Văn Ơn được phủ băng trắng có ḍng chữ viết bằng máu của các học sinh mà đến nay nhiều người c̣n đọc “Chết v́ Tổ quốc, chết nhưng vẫn sống. Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời”. Đó là thời kỳ tuổi thanh xuân thuộc những tên tuổi: Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đ́nh Thảo, Lưu Văn Lang, cùng cái tên Ba học sinh (Đỗ Ngọc Thạnh) - những tên tuổi của một thời kỳ hào hùng, giống như những kỷ niệm lẽ ra chỉ là nằm trong lưu bút tuổi học tṛ. Nhưng v́ là tuổi thơ của một dân tộc phải kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nên nó không là những chùm me hay góc phố có giàn hoa Tigôn mà học tṛ thường nhớ. Nó trở thành cuốn lưu bút hào hùng và đau thương của dân tộc, với những số phận con người hy sinh, chiến đấu dưới nhiều dáng vẻ. Ngày nay, ngày 9-1 được chọn làm ngày học sinh, sinh viên của cả nước.

 

“Lúc đó tôi ở cùng Ba học sinh”. Vị tướng Phạm Xuân Ẩn chỉ nhắc lại câu chuyện vào năm 2000, khi các cựu học sinh thời ấy nay đă nhiều tuổi, làm một lễ kỷ niệm lớn, viết sách báo, nhân kỷ niệm 50 năm ngày 9-1. Chị Nguyễn B́nh Thanh, người nữ sinh Marie Curie ngày ấy, sau này trở thành nhà ngoại giao xuất sắc, đă nghỉ hưu và nay cũng đă mất trong một tai nạn. Chị đă kịp làm một việc có ư nghĩa là cùng các bạn đồng lứa, vận động tích cực cho lễ kỷ niệm và viết sách. Có phải v́ thế mà ông Phạm Xuân Ẩn đă viết lại một chút ít ỏi về cuộc đời thanh xuân ấy của ḿnh, không có in ở đâu, bất cứ bài báo khác tự viết về cuộc đời “Ẩn” của ḿnh như vậy.

 

Ông Ẩn viết: “Ngày 9-1-1950 học sinh rầm rộ kéo xuống đường biểu t́nh. Chúng tôi tập trung trước Dinh Thủ hiến. Tất cả xe đạp chúng tôi để dựa gốc cây đa cho mát. Tôi đứng phía bên kia Ṭa án. Khi chúng bắt đầu đàn áp, sinh viên chạy. Chúng bắn chỉ thiên, dùng ma trắc đánh đập. Tôi chạy ra ngoài, gặp một chị vóc dáng nhỏ bé nâng đỡ một chị rất lớn, máu me đầy người. Tôi không dám đến đó tiếp v́ câu “nam nữ thụ thụ bất thân”, vội vàng kêu một anh xích lô, nhờ anh qua đó chở họ đi. Chị nhỏ người ẵm chị bị thương (chị này bị chúng đập bể đầu, máu chảy xối xả) lên xích lô. Tôi đạp xe theo chiếc xích lô. Nếu qua nhà thương Sài G̣n sợ nó bắt, tôi bảo xích lô chạy qua Khánh Hội, nay là Quận 4, qua chợ Xóm Chiếu, tôi biết ở đó có một trạm y tế. Ba chúng tôi chạy theo hướng Cầu Mống đến trạm y tế Khánh Hội. Mấy người y tá hiểu liền cơ sự. Họ thật dễ thương, rửa vết thương trên đầu cô nữ sinh, lấy bông gạc băng lại, cô y tá c̣n cởi áo cho nạn nhân mặc khi chúng tôi quay về…”

 

Hỏi ra, Ẩn mới biết người bị thương là chị Phương Dung học năm thứ hai trường Gia Long, chị họ của B́nh Minh, lên ở nhà B́nh Minh để đi học. Gia đ́nh B́nh Minh th́ Ẩn quá quen biết. Đó là gia đ́nh kỹ sư Nguyễn Văn Đức ở 89 bis đường Verdun, bây giờ là đường Cách Mạng Tháng Tám. Gia đ́nh có 4 cô con gái học đàn rất giỏi và đều có cuộc đời hoạt động nổi tiếng sau này. Một người trong số họ trở thành giáo viên dạy nhạc, là vợ của nhà văn Nguyễn Thi. C̣n một người trong số đó là chị B́nh Thanh, nhà ngoại giao xuất sắc của Việt Nam trong những năm kháng chiến. C̣n  chị nữ sinh nhỏ bé đă ẵm nạn nhân lên xích lô đó là chị Huỳnh Thị Ngôn, ba ngày sau đă thay mặt nữ sinh Sài G̣n - Chợ Lớn lên đọc điếu văn trong đám tang Trần Văn Ơn.

 

Đến giữa năm 1951, Ẩn được lệnh vào chiến khu Đ nhận nhiệm vụ mới và phải cắt đứt tất cả các mối quan hệ trong thời gian tham gia phong trào học sinh, sinh viên. Không phải v́ đi nơi khác nên không c̣n điều kiện gặp gỡ, mà do yêu cầu phải có một “lư lịch cá nhân” hoàn toàn mới và càng ít liên hệ với những người tham gia phong trào, th́ càng tốt.

 

Cho đến măi năm 1999, tức là gần nửa thế kỷ đă trôi qua, ông Ẩn - chuyên gia tiếp xúc để hoàn thành nhiệm vụ kư giả và một viên tướng t́nh báo, mới được giở lại một kỷ niệm thời thanh xuân đă lùi quá xa. Giờ đây ông mới có th́ giờ để nh́n lại, kể lại cái ngày tràn đầy khí thế của gần nửa triệu người Sài G̣n - Chợ Lớn chống ngoại xâm. Ông kể những chi tiết nhỏ rất quan trọng mà ông đă gặp may: “Ngày đó tôi rất hănh diện được cầm băng rôn mang ḍng chữ “Toàn thể học sinh Nam Việt” đi đầu trong rừng khẩu hiệu, câu đối điếu. Tấm ảnh ấy, may mà dưới thời Mỹ, cơ quan t́nh báo địch không biết được, nếu không, nó đă tóm tôi chớ đâu để yên cho tôi hoạt động trong ḷng địch lâu đến thế!”.  

 

Ông Ẩn không ngờ lại có một ngày gặp lại nhiều người, sau cả nửa thế kỷ và ông tưởng không bao giờ có dịp gặp lại các bạn thân yêu của thời kỳ đó. Bây giờ khi tất cả tóc đă bạc, nhiều người đă mất, nhưng ông Ẩn lại gặp được các bạn, đặc biệt là cả chị Ngôn, người đă cùng Ẩn cứu người bạn là nạn nhân của cuộc đàn áp dă man ngày hôm đó. Họ cũng c̣n báo tin cho nhau biết chị Phương Dung bị đánh bể đầu hồi đó, mười năm sau đă bị điên do vết thương trên đầu. Chồng chị là bác sĩ Lê Văn Khoa, ở Cần Thơ, hết sức khổ tâm.

 

Đến hôm nay, họ mới cùng nhau nhắc lại cả người đạp xích lô đă chở hai học sinh đi suốt qua Xóm Chiếu rồi trở về Sài G̣n. Khi Ẩn đưa tiền ông đă từ chối với một lời chân thật: “Mấy cô, mấy cậu dám làm, tôi lấy tiền sao được!”. Cũng như vậy, nhờ khí thế đấu tranh của ngày  ấy mà tới mấy tháng sau, đi quyên tiền cứu trợ đồng bào bị đốt nhà ở Bàu Sen, đi đến đâu các học sinh không những quyên tiền rất dễ, c̣n được đồng bào ôm khóc và khen: các cô các cậu giỏi quá, gan quá! Không phải người được cứu trợ cảm động ôm khóc, mà chính là những người cho tiền.

 

Có cả câu chuyện nhỏ về sự thơ ngây của tuổi học sinh. Ẩn và một số bạn bè như Ba học sinh bị ông Mười Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh sau này) phê b́nh. “Có nhiều cảnh sát cũng đi đưa tang, mang cả ṿng hoa đến viếng Trần Văn Ơn. Lúc đại biểu các giới lần lượt đọc điếu văn, một cảnh sát nhảy ra chụp micro xin nói. Tôi liếc nh́n Thạnh, Thạnh lắc đầu. Tôi giựt micro khỏi tay viên cảnh sát, nói to: “Không được, anh là lực lượng của Pháp”. Về sau, tụi tôi bị anh Mười Cúc phê b́nh là không thừa cơ hội tranh thủ họ để “thêm bạn bớt thù”.

 

Những kỷ niệm một thời tuổi trẻ được cùng nhau ôn lại lúc đă tuổi già, dường như nó say đắm hơn hết, nhớ thương hơn hết. Những chiến tích lớn lao và gian nan ác liệt ch́m đi. Chỉ c̣n nổi lên những ngày đầu đời ấy. Họ nhắc tới Ba học sinh, tức Đỗ Ngọc Thạnh. Ẩn chơi với Thạnh thân lắm. Do hai ông già ba của Thạnh và Ẩn đều là các trí thức cùng nghề, học cùng khóa, cùng tốt nghiệp trường Đại học Công chánh ở Hà Nội. (Lúc đó chỉ có thể học cao ở Hà Nội, nên các trí thức đều tốt nghiệp ngoài đó). Ba của Thạnh là họa đỗ Đỗ Như Khương. Ba của chị Kim Sa (tức bà Nguyễn Thị B́nh, sau này làm Phó Chủ tịch Nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam) là ông họa đồ Hợi. Chính v́ vậy con cái của các vị chơi thân với nhau từ khi c̣n là những đứa trẻ dưới 10 tuổi, trong những năm 1936 - 1937 ở đường Cây Thị, Gia Định. Cuối thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 bà B́nh là cán bộ hoạt động trí thức sinh viên của Thành ủy Sài G̣n - Chợ Lớn.

 

“Giữa năm 1951, một hôm, chị Đỗ Thị Kim, hoạt động cùng một tổ với bà B́nh lúc đó, chị ruột của Thạnh đến nói với ba tôi: “Con Sa bị bắt rồi, bác ơi”. Chị bị bọn ở bót Catinat tra khảo, thả ổ kiến vàng vào hai ống quần rồi cột chặt lại. Chị hết sức kiên cường, không khai báo. Sau ít lâu, chúng chuyển chị qua Khám Lớn”. Ông Ẩn nhớ lại và viết trong một bài in ở cuốn “Ng̣i pháo 9-1”.

 

Trong ngày gặp mặt hôm nay, ông nhớ người bạn thân cùng hoạt động. Họ hay gặp nhau tại nhà bà Mười (má của anh Nguyễn Ngọc Hà lúc đó đang học ở Pháp), là chủ ḷ bánh ḿ VITA ở đường Ngô Tùng Châu, nay là đường Lê Thị Riêng. H́nh ảnh nổi bật nào của Ba học sinh c̣n rơ nét? Đó là Thạnh rất thương trẻ con. Ở nhà bà Mười có đứa cháu nội, con của anh Kim Sơn. Kim Sơn cũng là một điệp viên nổi tiếng trong câu chuyện đánh đắm tàu của Pháp. Thạnh thường đến bà Mười để được bế ẵm con anh Kim Sơn. Chị Ngọc Hà c̣n giữ rất kỹ một tấm ảnh chụp Thạnh đang ẵm con chị. Thạnh và Ẩn thường gặp nhau bàn kế hoạch công tác, khi th́ ở nhà bà Mười, hoặc ở  nhà Ẩn và có khi ở nhà kỹ sư Nguyễn Văn Đức.

 

Thạnh đă là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 2-1947, được giao nhiệm vụ phụ trách Hội học sinh Việt Nam - Nam Bộ tại nội thành Sài G̣n - Chợ Lớn. Anh cũng là Bí thư Đảng đoàn học sinh đầu tiên của khu Sài G̣n - Chợ Lớn. Năm 1951 anh bị chỉ điểm và bị bắt. Giặc đánh đập anh tàn nhẫn, vứt xác xuống Cầu Kinh - Thanh Đa. Cái chết anh dũng và đau thương này được ông Trần Văn Trí, chưởng lư Ṭa Thượng thẩm Sài G̣n báo riêng cho cha anh là ông Đỗ Như Khương. Thạnh, người bạn của Ẩn, chết giữa tuổi 21.

 

Đó cũng là lúc người thanh niên Phạm Xuân Ẩn mong ước ra hẳn chiến khu, trở lại bộ  đội, chấm dứt cuộc đời người công chức trẻ nhân viên thuế quan, một vị trí mà trong kỳ thi tuyển toàn Đông Dương chỉ có 50 người được chọn. Anh tính về bộ đội lại, lúc đó là về tiểu đoàn Thủ Biên. Thạnh đă sắp xếp cho anh rồi. Nhưng Thạnh bị giặc giết, Ẩn đứt liên lạc. Lẽ ra anh đă tính đi luôn từ trước rồi, bây giờ chẳng c̣n ǵ cản ngại anh nữa.

 

Nhưng Ẩn không ngờ, công việc lại “ném” trả anh về lại Sài G̣n, không được đi đâu hết. Thế là, suốt từ năm 1947 cho tới khi Sài G̣n hoàn toàn giải phóng 30-4-1975, Ẩn hoạt động ở Sài G̣n. Cho đến bây giờ, ông vẫn sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói, Sài G̣n là nơi in dấu gần như toàn bộ cuộc đời ông. Năm nay 74 tuổi, sống ở Sài G̣n - Chợ Lớn 60 năm, 9 năm ở miền Tây, 3 năm ở Huế và 2 năm ở California. (kỳ 13, ngày 30/10/06)

 

Bước Ngoặt

 

Người thanh niên trẻ Phạm Xuân Ẩn lúc ấy yêu nước, sẵn sàng hành động. Nhưng anh chưa thể hiểu hết t́nh thế cách mạng lúc đó, nhất là ngành t́nh báo chiến lược non trẻ mới thành lập. Sau này anh mới hiểu tầm nh́n chiến lược của Đảng, đánh giá và dự báo thời cuộc rất chính xác...

 

Những năm đầu kháng chiến ấy, có một cách giải quyết gần như duy nhất là những ai hoạt động bị lộ th́ ra chiến khu, đi bưng. Học sinh sinh viên trốn nhà theo kháng chiến cũng vậy. Ngay từ năm 1947 có một sự kiện mà sau này các nhà viết sử c̣n chưa kết luận chủ trương đó đúng sai thế nào, nhưng nói lên được ḷng dân với kháng chiến: sáu ngàn viên chức, một ngàn thợ chuyên môn ra bưng biền. Đó là một chủ trương của Ban nội vụ Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ nhằm tăng cường nhiều ngành, nhất là ngành cơ khí quốc pḥng đang rất cần cho chiến đấu. Đó cũng là thời kỳ người ta được biết đến các trí thức lớn cũng ra bưng như bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, có cả đô trưởng Sài G̣n Phan Văn Chương.

 

Chàng thanh niên Phạm Xuân Ẩn nghĩ ḿnh cũng sẽ ra đi như thế. Chỉ có một điều khó khăn thôi: cha anh đang bị bệnh nặng. Ông nằm nhà và kiêm luôn nhiệm vụ “canh gác” bởi nhà ông ở đường Ngô Tùng Châu là cơ sở cách mạng đang chứa các thiết bị cho việc thành lập Đài Tiếng nói Nam Bộ, “chở vô từng món, từng món”. Nhưng Đảng đă t́m cách móc nối qua một cách khác: nhóm ông Huỳnh Tấn Phát. Người bạn học cùng trường tên là Tảo, tên thật là Vơ Phú Túc, một hôm nhắn Ẩn một câu đơn giản “Ông Thạch kêu ra nhận công việc mới”. Ẩn nghĩ chuyến này anh sẽ đi luôn, bỏ công ăn việc làm. Nhưng Tảo đă thông tin: Ra rồi vô lại, chứ không được bỏ công việc.

 

Nếu vẫn tiếp tục giữ công việc th́ phải vô chiến khu như một kỳ nghỉ phép b́nh thường vắng mặt ở Sở quan thuế. Phép năm nếu nghỉ một lần được 29 ngày. Ẩn chọn thời điểm ăn Tết xong, v́ như vậy cộng thêm được những ngày nghỉ Tết “lỡ nó hành quân kẹt đường tới 10 ngày, về sẽ trễ phép. V́ thế phải tính kỹ. Đi lên B́nh Dương, ở nhà một viên tri huyện có con trai và con rể đi kháng chiến cả. Chiều tối có người đến móc nối đưa đi”. Ẩn c̣n nhớ rơ: “Rừng không, cát không, nhưng xe ḅ vô được”. Chàng trai mặc quần soọc, giày vớ cởi tất cả ra vác trên vai hết. Tới nhà liên lạc, người ta gói hết đồ của anh và phát cho một bộ bà ba đen mặc vào đi tiếp. Suốt ngày họ đi trong rừng, trên những con đường nhỏ lác đác đồng bào qua lại, đi kiếm củi và đôi khi có những đoàn xe đi khai thác gỗ, chặt cây.

 

Câu chuyện của ông về cái buổi đầu nhận nhiệm vụ trở thành người t́nh báo chiến lược lứa đầu tiên ấy, vẫn đầy chất vui tươi, nhiều quan sát kiểu học sinh: “Ở chiến khu Đ, lớp cây cao có, lớp cây vừa và lớp cây nhỏ đang chen nhau. Ông Thạch và các đồng chí lănh đạo ở rải rác trong các tán cây cao của rừng có nhiều tầng cây cối. Gần suối, có nước uống chứ không thôi làm sao? Ông Thạch là bác sĩ chế ra các loại lave lấy từ nước tiểu. Hồi đó gọi vui là lave đứng hay lave ngồi là do nước tiểu đàn ông hay đàn bà. Ai uống lave đứng th́ đứng, ai lave ngồi, tùy. Thường đàn bà uống lave ngồi. Ăn với khoai ḿ. Bánh khoai ḿ có ḷ nướng đàng hoàng. Ḷ nướng là những ổ mối dưới những gốc cây cổ thụ nên được ngụy trang và có ống dẫn khói tỏa theo sương để tránh bị máy bay quan sát Pháp phát hiện.  Bánh khoai ḿ mới ra ḷ ăn mềm, các đồng chí già ăn được, để nguội lạnh chỉ có các đồng chí trẻ ăn thôi v́ cứng như đá”.

 

Một thoáng nụ cười trên mặt ông Ẩn, ông giang tay miêu tả v́ sao sống ở rừng bảo mật mà có bánh nướng: “Ổ mối rừng to lắm, gốc cây bây lớn, khoét bên dưới, cho củi vào đốt, có cách di tản khói dưới các tán lá. Tôi đâu có uống rượu. Bánh khoai ḿ th́ tôi ăn”.

 

Ẩn ở cùng khu vực dành cho bà Mai, vợ ông Huỳnh Văn Tiểng mới ở Bắc vào. Khi được giao công tác, anh mới gặp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ở một căn lều nhỏ giữa rừng cây cao. Ông Thạch nói thế nào? Hẳn chúng ta rất muốn biết thật rơ cái thời khắc lịch sử những ngày đầu của người t́nh báo chiến lược được giao nhiệm vụ đầu tiên thế nào. Ông Ẩn nói rất giản dị: “Tôi tưởng vô được thoát ly trở lại bộ đội. Nhưng ông Thạch bảo Đảng giao nhiệm vụ mới. Năm 1951 ta đă thành lập ngành t́nh báo chiến lược. Cậu ở lứa đầu tiên”.

 

Trời ơi, cái nghề xưa nay đâu có ai ưa v́ bị ảnh hưởng giáo dục văn hóa Nho giáo truyền thống của gia đ́nh cho là một công việc của “chim mồi chó săn”. Vả lại trong thời gian đấu tranh trong phong trào học sinh th́ lại càng thù ghét công an mật vụ Pháp và tay sai. Cho nên mới xảy ra vụ giật micro khi một cảnh sát viên xin phát biểu lúc chuẩn bị hạ huyệt tṛ Trần Văn Ơn. Tuổi trẻ dị ứng với cái nghề có vẻ ŕnh ṃ, chui lủi. “Đánh nhau tắc, bùm th́ được!” Nhưng ông Thạch bảo làm cách mạng không có chuyện lựa việc. Thích, không thích phải làm. Ráng làm cho tốt. “Ổng là Đảng ủy viên Nam Bộ, Đảng ủy viên Đặc khu Sài G̣n - Chợ Lớn - Gia Định. Lúc đó ông Nguyễn Văn Linh Bí thư. Ông Thạch phụ trách trí thức vận và được chỉ định kiêm luôn t́nh báo chiến lược Nam Bộ. Ông giao tôi theo dơi việc di chuyển quân đội viễn chinh Pháp, dụng cụ chiến tranh Mỹ viện trợ cho Pháp, kho xăng của quân đội Pháp ở Nhà Bè. Lúc đó Mỹ đă nhảy vào giúp Pháp rồi, “mở đầu sự can thiệp trực tiếp của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương”.

 

Người thanh niên trẻ Phạm Xuân Ẩn lúc ấy yêu nước, sẵn sàng hành động. Nhưng anh chưa thể hiểu hết t́nh thế cách mạng lúc đó, nhất là ngành t́nh báo chiến lược non trẻ mới thành lập. Sau này anh mới hiểu tầm nh́n chiến lược của Đảng, đánh giá và dự báo thời cuộc rất chính xác. Pháp lúc đó đă không c̣n đủ sức kham nổi cuộc chiến tranh cứ sa lầy măi ở Đông Dương, ở Việt Nam. Tháng 9-1951 thống chế De Lattre de Tassigny phải sang Mỹ báo cáo t́nh h́nh quân sự bi đát ở Đông Dương và xin thêm viện trợ quân sự của Mỹ. Mỹ đă chấp thuận viện trợ 10 triệu đô la tháng 10-1950, mặc dù từ 1947 Mỹ quyết định ủng hộ Pháp ở Đông Dương và chỉ viện trợ nhỏ giọt thôi.

 

De Lattre de Tassigny mới được bổ nhiệm tháng 12-1950 mong cứu văn t́nh h́nh sau chiến dịch biên giới Cao Bằng mà Pháp đại bại. Đảng đă nh́n thấy kẻ thù mới với một cục diện chiến tranh thay đổi, và đă chuẩn bị lực lượng của ḿnh. Đảng tổ chức cuộc biểu t́nh lớn chống can thiệp Mỹ ở Sài G̣n tháng 3-1950 để nói rơ lập trường và quyết tâm của ta khi hai chiếc tàu chờ dụng cụ chiến tranh Mỹ cặp bến Sài G̣n và chiếc hàng không mẫu hạm đậu ở Vũng Tàu. Ẩn là một người chiến sĩ được chọn giao làm nhiệm vụ của chiến lược mới này. Cũng chính Đảng đă chỉ rơ đối tượng mới của Cách mạng Việt Nam. Ẩn đă được chọn để giáo dục chính trị và nhiệm vụ cho công tác mới lâu dài sau này.

 

Câu chuyện đi nhận nhiệm vụ t́nh báo ở chiến khu ấy gợi nhớ về câu hỏi phỏng vấn của Morley Safer khi gặp ông Ẩn tại thành phố Hồ Chí Minh sau giải phóng: “Chuyện khởi đầu ra sao?”

 

Quăng đời này của ông Ẩn được Henry Kamm miêu tả: Tháng 10-1945 sau khi học một khóa quân sự ở Thạnh Trị (Bạc Liêu) đào tạo cấp trung đội trưởng. Nhưng không lâu sau đó ông được trả về trong vùng quân Pháp chiếm đóng. Ông tham gia tổ chức các cuộc biểu t́nh của học sinh và sinh viên ở Sài G̣n chống sự cai trị của quân Pháp. “Tự do là con đường duy nhất của tôi”. Sau đó năm 1950 bị Pháp gọi nhập ngũ nhưng được hoăn dịch và đến đầu năm 1954 bị gọi lại luôn. Đầu năm 1952 những người chỉ huy của ông gọi ông vào căn cứ ở gần Sài G̣n và phân công ông làm việc ở chi nhánh t́nh báo chiến lược. “Tôi là người đầu tiên được chọn trong chi nhánh”. Năm sau ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản. “Tôi được phát cương lĩnh Đảng Lao động viết bằng tiếng Pháp để đọc và tôi thấy có nhiều lư tưởng tốt trong đó. Tôi trở thành người Cộng sản”.

 

Những câu ông trả lời phỏng vấn của phóng viên nước ngoài chỉ có thể đơn giản là các sự kiện và mốc thời gian. Những người bạn Mỹ dù có hiểu ông Ẩn đến  mấy họ cũng không thể biết có những ǵ đằng sau những lời như “Đó không phải là sự lựa chọn”. Là bởi v́ lúc đó thanh niên yêu nước chẳng c̣n con đường nào khác là trút nỗi đau của con dân mất nước, để đi kháng chiến. Các bạn phóng viên nước ngoài cũng không tài nào h́nh dung được chàng trai đó đă vào Đảng như thế nào. Sự kiện này ông cũng chưa hề viết hoặc kể lại cho nhiều người. Tôi có cảm giác như chính đến bây giờ ông mới nhớ lại tỉ mỉ để h́nh dung nó như một đoạn phim. Đời ông có quá nhiều sự kiện để nhớ rồi.

 

“Tôi được kết nạp ở Củ Chi. Lúc xét chính thức th́ làm lễ ở Cà Mau. Đó là một lễ thường, vào năm 1953, vùng đó nhiều cỏ măng, hoặc cây ǵ đó giống dứa nước. Không phải, đó là dứa rừng rất cao, mỗi cành lá có gai dài tua tủa hai cạnh, mập mạp, tới 2-3 mét, sống từng cụm. Chống xuồng ba lá trên lạch, đi vào một cḥi nhỏ dưới gốc những cụm dứa đó, và cũng ở đó tôi học Điều lệ Đảng. Người ta mang đồ ăn tiếp cho. Đưa tôi xuống đó làm kết nạp có anh Tư Tùng và cậu liên lạc”. Tư Tùng tên thật là “Dương Văn Sủng” là “Dương Minh Sơn”. Cậu liên lạc là đồng chí Đức nay c̣n sống. Thế các h́nh  thức lễ lúc đó thế nào? Có cờ, hoa không? “Học xong Điều lệ Đảng, làm lễ, có chút đỉnh hoa, cờ. Bưng biền mà, trời ơi!”.

 

Một năm dự bị đó Ẩn sinh hoạt thuộc Xứ ủy Nam Bộ. Tới khi vào Đảng chính thức, ông phải xuống Cà Mau, Rạch Cái Bát. Chủ tọa buổi lễ kết nạp chính thức này là ông Lê Đức Thọ, lúc đó là thường trực Xứ ủy. Có anh Nguyễn Vũ là người giới thiệu và ông Ba chèo đ̣. Ông Ẩn đă trở thành người Đảng viên Cộng sản ở rừng U Minh Thượng như thế đó.

 

Ngày ấy người ta gọi đi bưng nghĩa là về miền Tây, c̣n đi khu là lên chiến khu miền Đông. (kỳ 14, ngày 31/10/06)

 

Bí Mật Nghề Nghiệp

 

25 tuổi, Phạm Xuân Ẩn chính thức bước vào đời t́nh báo, nhiệm vụ được ông Phạm Ngọc Thạch giao. Người phụ trách ngành t́nh báo chiến lược phía Nam ấy chỉ nói với chàng thanh niên đơn giản là cách mạng cần, phải làm, không được lựa chọn việc...

 

Có thể lúc đó anh thanh niên chưa hiểu thật rành rẽ các loại t́nh báo như một thứ “nghề” rất nhiều loại mà thế giới có. Như đối với tôi, một người “ngoại đạo” cho đến nay nếu không có nhiệm vụ t́m hiểu một con người qua công việc của người đó th́ vẫn có thể lẫn lộn lung tung ngay ở tên gọi: t́nh báo, điệp báo, gián điệp, t́nh báo hành động, quân báo…

 

Tôi chỉ có thể hiểu tóm tắt là: một nhân vật hoạt động ngầm để moi tin tức quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia. Ở công việc này, người ta đă làm nên nhiều điều vĩ đại. Có thể trở thành người t́nh báo vĩ đại như Richard Sorge, biết trước từng ngày giờ khi phát xít Đức tấn công Tổ quốc Liên Xô. Mà cũng có thể như Xchielit trong Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân có cái đầu vĩ đại phân tích thời cuộc, chiến tranh và tâm lư kẻ địch, t́m ra nhiều phương kế cho Tổ quốc trên bàn ngoại giao và quân sự… Cũng có khi là cô gái đẹp đă b́nh thản nhận lấy cái chết, cho đến nay vẫn là đề tài cho nhân loại xét đoán: Cô là một gián điệp oanh liệt, hay chỉ là cô gái đẹp chết oan? Đấy, với một người b́nh thường th́ chỉ biết đại khái như vậy.

 

Ở Việt Nam th́ chúng tôi biết tới hoạt động của ba ông Nhạ, Thúy và Thảo thuộc loại hoạt động chính trị mật (operations politiques secrètes). Có biết bao nhiêu người khác, cả một đội ngũ thầm lặng. Có người chết đi, mang theo cả câu chuyện oanh liệt đời ḿnh không ai biết được. Chúng tôi không thể biết hết cả một mặt trận rộng lớn của ngành t́nh báo nước nhà.  Đó là “lỗi” của họ đă giữ bí mật măi măi, hay là tại chúng tôi đă không biết nghiên cứu, t́m hiểu?

 

Thôi th́ cứ để đó làm một “bí mật vĩ đại” cái từ ngữ mà Tsekhov đă đặt định nghĩa cho t́nh yêu. Chúng tôi có thể không biết hết các thuật ngữ nghề nghiệp của họ. Nh́n vấn đề dưới t́nh h́nh hiện nay, những nghề thường dễ hoạt động là liên quan đến tài chính, vốn trong t́nh h́nh ngày nay đồng tiền lưu động di chuyển rất nhanh qua các biên giới. Trong câu chuyện vui bên tách trà tôi cũng xin ông Ẩn giải thích thêm. “Vấn đề đầu tư, tài chính là số một. Nhanh lắm. Vô, ra, vô, ra. Không cẩn thận chết ngay”. Cái ngành thứ hai là dầu lửa. Thứ đó khai thác cao, chi phí dữ, ngày càng cạn. Chỗ nào có dầu là quan trọng. Loại hoạt động thứ ba đáng chú ư là việc rửa tiền. “Nó đầu tư tiền bẩn vào rút ra đưa thành tiền sạch. Phải biết tiền sạch, bẩn”. Có nhiều loại t́nh báo: T́nh báo ngoại giao (tức là t́nh báo chính trị), t́nh báo quốc pḥng, t́nh báo kho bạc, đầu tư, thương mại, mậu dịch…

 

Nhưng dường như người b́nh thường chúng  ta thường giữ trong ḿnh sự hiểu biết có tính kỹ thuật th́ ít, mà nhiều hơn cả là chất bí ẩn, lăng mạn, hào hùng có pha nhiều khủng khiếp. Chúng ta hay nhớ những cuộc đời bất thường, hồi hộp như ciné. Cho dù ông Ẩn là người của sự chuẩn xác và câu chuyện của ông vô cùng khiêm tốn giản dị, đầu óc tôi vẫn muốn giữ cái “cảm hứng dân gian” trên đây, để cho nó vẫn măi là một “bí mật vĩ đại”. Vừa muốn vén màn sương huyền bí để biết thật rơ mọi chuyện, lại vừa muốn cứ để làn sương lăng đăng ấy. Mất nó đi, th́ cái nhu cầu mỹ cảm riêng biệt ấy có thể biến mất.

 

Mà với ông Ẩn th́ việc tiếp tục trung thành với lối suy nghĩ chuẩn xác của một người nghiên cứu tài ba, có pha thêm cái nh́n hài hước. Ông chẳng kiêng khem cả những sự thật cổ lỗ: “Có hai nghề cổ nhất nhân loại đó là măi dâm và nghề t́nh báo. Thứ nhất là nghề măi dâm, thứ hai là nghề t́nh báo, sau đó mới sinh ra những ngành nghề khác. Trước thế kỷ 20 không khi nào không có. Lịch sử ḿnh cũng có đấy. Trọng Thủy nó là t́nh báo c̣n ǵ”. Vua chúa là sợ thứ lật đổ nhất. Sau này chiến tranh lớn, Anh chế ra t́nh báo chuyên nghiệp, có hải quân lớn. Đó là thời kỳ người ta nói đêm chuyển thế kỷ, từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, mặt trời không lặn trên Đế quốc Anh. T́nh báo mang tính chất quốc tế của Anh có từ 1909. Rồi Đức phải làm theo, thành lập tứ 1913. pháp th́ 1935 và Mỹ 1947. Việt Nam ta tới 1951 chính thức thành lập ngành t́nh báo chiến lược, tức là có tầm vóc quốc gia.

 

Nghề này nếu phải đương đầu với kẻ thù nào, phải biết rất kỹ về văn hóa của nó. Khi chống Pháp, quân ta hiểu về Pháp tương đối nhiều. Nhiều lứa học sinh thời ông Ẩn, hễ vào trường Tây là không học ǵ của Việt Nam nữa. “Ông cha ta là người Gô-loa”, học sinh Việt phải học lịch sử mẫu quốc Pháp. Thi vấn đáp hỏi địa lư Pháp, lịch sử Pháp kỹ lắm, loạng quạng là rớt. Lúc bắt đầu chống Mỹ, chúng ta chưa hiểu thật nhiều về Mỹ. Đi học mới chỉ biết chung chung thôi. Ciné Mỹ lúc đó c̣n phải dịch qua tiếng Pháp. Rồi từ chỗ ṭ ṃ muốn hiểu cuộc sống, cách ăn mặc, các cô đào đẹp… mới hiểu dần thêm văn hóa - xă hội của Mỹ.

 

“Ngành này phải t́m hiểu cái đó”. Ông Ẩn vui chuyện. Nếu không, sẽ khó ḥa nhập, tiếp xúc. Hồi đó ông hay lại pḥng thông tin Mỹ lấy tin tức cho nghề báo, quen các cô gái Mỹ, phải gây thiện cảm. “Một số trong lúc nói chuyện chơi, hỏi tôi quan niệm thế nào về đồng tính luyến ái. Ở Việt Nam việc này thế nào. Ngay từ thời ấy, nh́n vấn đề như một chuyện kỳ dị động trời. Tôi trả lời cho cô ấy: ở Việt Nam cũng có, nhưng  ít hơn. Thế anh quan niệm thế nào? Tôi nghĩ: bà nội này chắc bả bị cái đó. Chê th́ phiền. Tôi bảo: quan niệm b́nh thường thôi, do trời sinh. Nó khen: mày khá, quan niệm cởi mở”.

 

Câu chuyện dẫn tới một người chỉ huy trực tiếp của ông là một nhân vật c̣n bí ẩn hơn nữa: ông Mười Hương, người có cuộc sống như một cuốn tiểu thuyết. Ông Mười Hương đă bị đày ải ở nhà tù Chín Hầm khét tiếng của Ngô Đ́nh Cẩn ở Miền Trung. Đó không phải nhà tù theo tính pháp lư nhân loại, mà là cái trại để tra khảo và thủ tiêu những người Việt Nam yêu nước không theo thứ luật pháp nào. Chính khi ông Ẩn đang học ở Mỹ th́ hầu như toàn bộ tổ chức trong nước bị chế độ Diệm đánh phá vỡ hàng loạt. Ông Mười Hương bị bắt và số phận chàng sinh viên Ẩn kể như cá nằm trên thớt. Ông Tư Tùng tức Dương Minh Sơn và cậu em trai của Ẩn cũng bị bắt. Nhưng ông Mười Hương đă chịu đựng sự khốc liệt này, giữ nguyên được tổ chức. “Ông Mười thường quan tâm dặn tôi hai việc: thứ nhất nhấn mạnh lập trường tư tưởng, chính trị, hiểu biết văn hóa, thứ hai là nghiệp vụ vững. Ông bảo: phải đi học, t́m hiểu văn hóa Mỹ. Phải học qua văn hóa”. Ông Ẩn rót thêm nước vào tách cho khách và b́nh luận vui thêm: “Làm nghề tiếp xúc để nó không ưa, kể như ăn mày rồi!”

 

Ngành t́nh báo chiến lược của ta lúc đó nghiên cứu những vấn đề phục vụ chiến lược quốc gia: học thuyết chiến tranh và chiến lược quân sự, chủ trương của đối phương về mọi mặt, và những toan tính của đồng minh. Nước ta là một nước thuộc địa bị đô hộ, hoạt động t́nh báo phải xâm nhập cơ quan đầu năo đối phương ngay ở trong nước chứ chưa ra ngoài nước. T́nh báo của ta là t́nh báo tự vệ chớ chưa có sức lực làm t́nh báo tấn công vào các nước lớn được.

 

Năm 1954 khi đất nước bị chia cắt, hai miền hai chế độ, như hai nước, cho nên hoạt động t́nh báo ở Miền Nam như đi hoạt động “nước ngoài”. Người cán bộ ở Miền Bắc vào cũng như đi ra một nước khác, do đó đặc biệt khó khăn. Giống như người Đông Đức mà qua hoạt động ở Tây Đức. Hoạt động ở Anh, Mỹ cũng khó như vậy. Không hợp pháp là bị bắt liền, mà đă là điệp báo bao giờ cũng hoạt động bất hợp pháp. Ông Ẩn lại hoạt động độc lập và cô đơn mà từ ngữ nghề nghiệp Anh, Mỹ gọi là lone wolf (chó sói cô đơn) dưới sự chỉ đạo rất bí mật của một số đầu mối càng ít càng tốt. Trong suốt cả mấy chục năm đó ông Ẩn chỉ biết ông Mười Hương, Cao Đăng Chiếm, Phạm Ngọc Thạch và vài đồng chí cụm trưởng. Đến năm 1962 th́ Tư lệnh Miền chỉ đạo tập thể, ông không rơ từng người. “Ngành này tạo b́nh phong khó nhất, vừa tấn công, vừa pḥng ngự. Vừa là mâu, vừa là thuẫn”.

 

Một buổi hè Sài G̣n nào đó, công việc đă xong, ông Ẩn đă giải thích thêm khi tôi cần hiểu những câu chuyện xảy ra từ khi tôi c̣n là đứa trẻ vài tuổi, sống ở Hà Nội, hoàn toàn không biết ǵ Sài G̣n. Phải hết cả buổi chiều đó tôi mới tạm hiểu một chút ít rằng không phải chỉ có một thứ khó nhất là chuyện b́nh phong trong nghề t́nh báo. Đó là cả một nghệ thuật mà trên thế giới có những giáo tŕnh đồ sộ, giảng từ cách chọn người, huấn luyện thế nào… C̣n nhiều thứ khác nữa, tôi đều thấy khó nhất.

 

Ông Ẩn đă là một nhà báo quảng giao trong ḷng địch. Vậy mà quan hệ rộng cũng không trực tiếp lấy các tài liệu tối mật được. Phải qua trung gian, với sự tin tưởng, giúp đỡ, trao đổi. Phải là những chuyên gia giỏi, nếu đă chọn nghề nào đó làm b́nh phong. Có những t́nh báo quốc tế sau chiến tranh lại sống bằng nghề trước đó họ lấy làm b́nh phong. Đơn giản là họ đă trở nên tài năng chính cống của cái nghề họ “mượn” làm b́nh phong.  Người ta được biết cả giám đốc CIA sau này làm cố vấn kinh tế cho Nhật; những giáo sư luật, giáo sư chính trị tham gia những cuộc tư vấn cỡ chính phủ. Nếu b́nh phong là nghề bác sĩ tốt ở chỗ mở quan hệ nhưng bản thân nghề lại ít dính sâu vào các vấn đề bí mật quốc gia về quân sự, kinh tế, chính trị. Làm nhà báo th́ an ninh luôn để mắt. Nó nghi, chỉ gài bẫy là dễ lộ ra. Rồi chuyển tin tức đi thế nào, cũng lại là chuyện khó nhất.

 

C̣n bao nhiêu cái khó nhất nữa? Không phải chỉ khôn khéo lấy được tài liệu mật gửi ra. T́nh báo chiến lược phải chuyển tin tức có đánh giá, có phân tích, tổng hợp và dự đoán nữa. Tin tức đă được đánh giá th́ gọi là tin t́nh báo: information = tin tức thường; intelligence = tin t́nh báo; renseignement (tiếng Pháp) là tin t́nh báo.

 

Ông đă nhằm đến các loại người như thế nào để hoạt động? “Phải định ra được mục tiêu. Nếu đó là tư lệnh quân đội, làm chỉ huy, ra lệnh, ra kế hoạch hành quân th́ tin tức của họ là nhất. Loại thứ hai là người không thảo ra kế hoạch, nhưng là nơi thi hành. Loại thứ ba là số người được đọc, như bí thư, người lưu giữ hồ sơ. Tôi làm báo, là người ở ngoài ba mục tiêu trên. Chỉ có báo chí Mỹ mới vô được. Và tôi phải nhắm vô những mục tiêu đó”.

 

Ông liên hệ cho tôi dễ h́nh dung cách học “nh́n ra” các loại người: thí dụ, ngày nay muốn biết Mỹ có bỏ cấm vận nước nào đó hay không, ngoài các nguồn tin tức khác, giới thành thạo c̣n có thể quan sát các nhân vật. Thí dụ như chủ tư bản kếch xù cỡ ông trùm tư bản tài chính David Rockefeller, và một chủ báo lớn, có ảnh hưởng chính trị ở Ṭa Nhà trắng là bà Katherine Graham. Trước kia David Rockefeller được xem là Hoàng Đế Hoa Kỳ và bà Katherine Graham là Nữ Hoàng Hoa Kỳ. Ư muốn nói hai người có thế lực mạnh nhất nước Mỹ. Nh́n hai nhân vật đó người ta đoán biết những quyết định quan trọng. Nếu không ở trong giới “A nose for news” th́ làm sao biết được kiểu quan sát đó. Nhưng các “mục tiêu” mà ông nhắm vô đó, có phải chỉ là v́ cảm t́nh mà họ đi đến việc cung cấp tin mật? Có cả ḷng tin yêu quư trọng trong quan hệ cá nhân, nhưng đâu phải chỉ có vậy!

 

Ông không thể chỉ moi tin mà không giúp đỡ trở lại. Vấn đề là giúp thế nào. Những người đó thường ở trong giới báo chí, t́nh báo, an ninh đối phương, họ cũng cần tin tức. “Thức ăn của họ là thông tin, tư liệu”. Ông Ẩn lại so sánh với những con chim ông nuôi “như chim phải cho ăn hoài nó mới hót. Như con này này, chuối, sâu không đủ, không hót. Hoặc hót nhưng màu lông không tươi…” Nghĩa là hai chiều chứ không phải một chiều. Phải có tin cho họ “ăn” chứ không chỉ moi tin của họ. Mà phải cho tin thật. Có nhiều người cho tin láo không được. Đầu họ có óc như t́nh báo viên chớ không phải đất sét muốn nắn cái ǵ cũng được.

 

“Người kinh tế cần tin kinh tế. Tin công khai thôi. Chơi thị trường chứng khoán có lúc họ không biết nên hay không nên bán ra. Họ t́m đến hỏi ḿnh v́ ḿnh biết phân tích các dấu hiệu thời cuộc có thể ảnh hưởng. Thí dụ năm 1973 thị trường chứng khoán Mỹ xuống dữ. Mỹ lạm phát nặng. Khi họ hỏi ư kiến, tôi cũng xin chút thời gian ngắn tham khảo và đưa nhận xét để họ tự quyết định. Chẳng hạn như lạm phát đấy, nhưng chưa đến nỗi. Vẫn có khả năng lên lại… Ngay cả giới tướng lĩnh quân sự cũng làm ăn nên họ quan tâm”.

 

Ông Ẩn c̣n là một nhà nghiên cứu. Ông có thể đưa ra những dấu hiệu tâm lư biểu hiện nền chính trị. Thí dụ sau tết Mậu Thân, sau chiến công quân ta đánh thẳng vào đô thị, tinh thần ngụy quyền lung lay. Tướng lĩnh gửi tiền nhiều sang ngân hàng nước ngoài để nếu nguy sẽ chạy qua sống ở đó. Trong giới chính trị th́ có hai loại: một đương quyền, một loại đối lập luôn moi móc lắm tin. Họ sẵn sàng cung cấp cho báo chí. Đôi khi họ cần phải vạch ṿi giới cầm quyền, t́m đến nhà báo để cho tin, và để nhận tin. Họ âm mưu đảo chính v.v… cũng t́m báo chí thảo luận.

 

Ông giải thích thêm về việc chiều nào cũng ra ngồi quán café bánh ngọt Givral: “Ở chỗ đó có đủ loại. Việt Cộng hoạt động, người của Tổng nha, An ninh quân đội,  Pḥng Nh́ Pháp, Tây Đức, Mật Vụ Tưởng Kiến Quốc, Triều Tiên, v.v… người của quốc tế, của CIA, có cả các bà, các cô ra tán dóc”. Ông phải là “trùm nói dóc” phục vụ những cuộc quây quần như thế. Không phải tin ǵ cũng nói giữa đám đông. Khi có ai đó muốn biết thật, biết sâu, thường gặp riêng để hỏi. Phải cho tin thật có mức độ. “Đừng nghĩ t́nh báo là chuyên môn gạt gẫm nói láo. Không phải đâu!” . Tôn chỉ của một t́nh báo viên có  kinh nghiệm là phải nhớ ba chữ S “Sociable, Serviable et Sincère”.

 

Về chuyện này th́ tôi có thể hiểu ông nhanh chóng. Trong các tiểu thuyết t́nh báo, dù các nhân vật có đưa tin đầu độc th́ họ cũng dựa trên những nghiên cứu cẩn trọng, hợp lư. “Khi nó họp bàn định ra kế hoạch, phải theo dơi. Rồi lại phải xem nó có làm không. Khi nó thảo kế hoạch, phải t́m cách tiếp cận với người làm kế hoạch, với tư cách chính khách”. Với cách như  thế, ông Ẩn đă tham gia góp ư từ việc thành lập 6 sư đoàn đầu tiên do Mỹ thành lập, tuyển chọn gửi sĩ quan đi Mỹ huấn luyện cho tới cả kế hoạch Khu trù mật, rồi Ấp chiến lược sau này v.v…

 

Mặc dù ông Ẩn nói rằng nghề điệp báo mà ông đă làm chỉ là nghề “gián điệp cổ điển”, lấy tài liệu mật, moi tin tức, săn t́m ư đồ của địch. Đó là những công việc gián điệp, điệp báo nào cũng làm. Nhưng tin tức phải được đánh giá, điều này mới thực sự quan trọng. Phải phân tích cho được, dự báo tương lai gần, tương lai xa, hướng đi nên thế nào, có thể giải đáp ǵ cho việc xử lư t́nh h́nh. Đó là nghệ thuật và cũng có cả phần linh tính mà Mỹ gọi là ESP = Extra Sensory Perception.

 

Nhưng quan trọng hơn cả là Trung ương có được nghệ thuật phân tích mà Mỹ gọi là Art of National Analysis. Những báo cáo ông gửi đi đều có đánh giá cả chất lượng và nguồn tin đáng tin cậy tới đâu. Bộ phận nghiên cứu của lănh đạo sẽ xem xét, tính toán và tổng kết dựa trên những tài liệu như vậy. Công việc không hề đơn giản như những công thức cũng không đơn giản chỉ là “ăn cắp đồ” như lời hài hước của ông. V́ địch hoàn toàn có thể tương kế tựu kế. Chúng đă làm những tin đầu độc. Muốn bản tin chắc, phải có tài liệu, phải tham khảo với lịch sử của vấn đề và mối tương quan tác động qua lại của ta và đối phương. Đôi khi trong tài liệu lấy được, cả mười chương đúng, địch chỉ nhét vào đó một chương đầu độc. Địch cũng chơi con bài nhử, phản t́nh báo. Cái tṛ chơi hiểm này được làm công phu tới mức đă có lần chúng đem qua Phi Luật Tân in lại tờ báo Nhân Dân của Miền Bắc, chỉ in đầu độc vào đó thêm một khúc tin rất nhỏ. Đem báo in đó đi theo các đoàn hành quân (vờ rơi khi địch hành quân). Có khi nó nhét cả vào hầm trú ẩn để quân ta trở lại đọc. Do đó tin điệp báo rất khó kiểm tra. Phải là tài liệu nguyên bản và so sánh các bản tin tham khảo công khai khác trong quá tŕnh soạn thảo nhiều lần.

 

“Tài liệu mật phải chụp liền, trả liền các tài liệu mượn được. Cũng có khi phải có trí nhớ tốt, mượn đọc tại chỗ rồi trả lại và về nhà tập hợp lại nội dung”. Cũng c̣n phải biết kiềm chế để tránh sơ hở. Có lần ông mượn được tài liệu tốt, một ḿnh đọc ngay ở văn pḥng. Tuy xung quanh không có ai nhưng ông không dám sao chụp, sợ nó đặt máy theo dơi. “Sử dụng tài liệu cũng vậy, có lần tôi phải ngưng mấy tháng liền không hoạt động để bảo vệ an toàn”. Đó là khi ông báo cáo về trường hợp có một tổ chức thật ra là b́nh phong của CIA đang hoạt động ở phía quân ta. Không may người liên lạc mang báo cáo ra, giữa đường bị bắn chết. Địch lấy báo cáo đó đưa cho an ninh, thông báo với người kia là “phải hết sức cẩn thận v́ Việt Cộng đă biết và theo dơi”. Tin phải được kiểm tra, nguồn cho chắc, phải bảo vệ nguồn. Có ai trong số nguồn cung cấp tin mất việc do thay đổi thời thế, phải lo cho họ nếu có thể...

 

Ông làm thế nào để chuyển tin tức đi? Câu hỏi này mấy chục năm sau kư giả Mỹ vẫn hỏi. Không phải chỉ v́ họ t́m hiểu v́ sao Việt Nam chiến thắng, mà có thể c̣n v́ những câu chuyện t́nh báo, tiểu thuyết t́nh báo đă trở thành một môn học nhân văn. Nó vẫn luôn làm người ta quan tâm.

 

“Tại Sài G̣n chúng tôi có một hệ thống liên lạc. Tôi đưa tin qua ngả đó và cũng tránh để dấu vết qua bút tích. Rồi thỉnh thoảng vài tháng tôi lại biến mất vài ngày. Điều đó không có ǵ là bất thường khi làm việc cho các cơ quan báo chí. Cấp chỉ huy tôi ở chiến khu đôi khi muốn có một tường tŕnh dày đầy đủ. Chúng tôi gặp nhau ở một số nơi, nhưng chủ yếu là trong mật khu Hố Ḅ”. Đó là câu trả lời phỏng vấn của ông Ẩn cho Morley. Kư giả này giới thiệu thêm: Mật khu rừng rậm Hố Ḅ cách khoảng 20 cây số hướng Tây Bắc Sài G̣n. Địa điểm này thường trực bị sư đoàn 25 bộ binh Mỹ tấn công.

 

Chắc chắn là bạn đọc Mỹ khi đọc những ḍng đó sẽ nhớ ngay cái tên hiệu “sư 25 bộ binh”. Sư đoàn 25 bộ binh Mỹ c̣n có tên là “Tia chớp nhiệt đới” (Tropic Lightning).  Đó là sư thiện chiến trang bị tối tân, được coi là đội quân tiêu biểu cho sức mạnh Mỹ, như một kiểu anh cả Đỏ. Tia chớp nhiệt đới - Cái tên sư đoàn cho thấy sự ác liệt của chiến trường. C̣n đối với người đọc Việt Nam th́ cái tên Hố Ḅ lại nói được nhiều hơn. Đó là chiến khu ngoan cường của quân dân ta ngay bên nách địch, chúng đánh phá kiểu ǵ cũng không quét nổi Việt Cộng.

 

“Có một lần vào dịp Tết hưu chiến, tôi đang trên đường trở lại Sài G̣n th́ bị kẹt giữa cuộc giao tranh. Tôi phải ẩn 2 ngày 2 đêm dưới hầm, với ư nghĩ là mọi sự đối với tôi thế là tiêu tùng. Tôi nghĩ thật là cái chết lăng nhách, nạn nhân của một cuộc hưu chiến”. Ông Ẩn kể tiếp một t́nh tiết nguy hiểm thường nhật. Ông lén ra chiến khu, lúc trở về bị kẹt. Mà không phải chỉ một lần.

 

Một câu hỏi nữa kư giả Mỹ thường hỏi, và tôi nghĩ rằng câu này chắc đă có lần ông tự hỏi ḿnh. Ông rất thành thực nói rằng nỗi lo về khả năng bị bắt là luôn đặt ra. “Sợ thường xuyên”. Có khi ông giải thích một cách khơi khơi: có ǵ đâu mà bị bắt. Ông làm nghiên cứu thời cuộc thôi chứ có làm ǵ vi phạm đâu. Người bạn Mỹ hỏi: Thế th́ sao lại được tặng thưởng phong Anh hùng? Không làm những việc quan trọng, sao thưởng? “Vậy là đủ thưởng”. Không ai có thể giải thích ngắn gọn cho kư giả Mỹ này hiểu được. Bởi v́ ngay người liên lạc trong đường dây của ông - dù rất ít - cũng đă có người được phong Anh hùng và cuộc đời bà cũng đă được viết thành cả một cuốn sách.

 

Liên lạc là khó nhất. Năm 1954 có nhiều cán bộ được đưa vào, phần lớn bị bắt, hy sinh rất nhiều do đường dây liên lạc bị vỡ bể. (kỳ 15, ngày 1/11/06)

 

“Lúc Nào Cũng Gay Go"

 

Dường như không có một lúc nào dễ dàng trong đời ông “Giai đoạn nào gay go nhất trong đời”, có nhà báo hỏi vậy, v́ biết rằng muốn viết về một cao trào nào đó th́ được c̣n viết về cả cuộc đời ông Ẩn là một điều khó thực hiện. Ông ngẫm nghĩ như rà soát nhanh lại đời ḿnh và bảo: “Nhỏ tới lớn, lúc nào cũng gay go hết”.

 

Nếu đă lướt qua thời thơ ấu, thời thanh niên và cuộc đời hoạt động có thể bị bắt bị giết bất cứ lúc nào, th́ rơ ràng là khó chọn lựa lấy một cao trào nào riêng biệt trong cuộc đời người t́nh báo.

 

Hồi mới hoạt động t́nh báo, tuổi ngoài 20, làm kho 5 Hải quan thời Pháp, chàng thanh niên mới chỉ làm công việc quan sát việc di chuyển hậu cần của quân Pháp. Có một lần anh đạp xe đi đến chỗ hẹn với bà liên lạc để chuyển tài liệu cho ông Phạm Ngọc Thạch. Ẩn đến chỗ hẹn trễ giờ, trên người có dính tí máu. Anh bị xây xát ở đâu đó không để ư. “Sao trễ vậy?” - người liên lạc tá hỏa khi nghe chàng trai trả lời là anh vừa đánh lộn v́ “đổ dốc cầu, va vào thằng kia”. Nó gây sự sao đó, tuổi trẻ không biết kiềm chế, anh đă xông vào đánh nhau. Bà liên lạc giảng giải và nghiêm khắc phê b́nh: Phải trái ǵ cũng phải bỏ qua. Ḿnh đang làm nhiệm vụ quan trọng. Đánh lộn, tài liệu để trong bụng nó văng ra sao? Đánh lộn, cảnh sát nó bắt về bốt có chết không?

 

Ẩn nhớ măi lời bà liên lạc nói hôm đó: “Tội cậu nặng lắm đó. Nhiệm vụ phải đặt lên hàng đầu. Nó có chửi bố ḿnh cũng phải làm thinh mà đi. Chà, cậu làm nghề này không được rồi. Từ nay cấm tiệt chuyện gây lộn. Xe có hư cũng vất liệng qua, đi làm nhiệm vụ cho kịp hẹn.”

 

Ông Ẩn như vẫn c̣n ân hận về chuyện đó. “Qua kinh nghiệm mới nhớ lâu. Tôi biết ơn bà liên lạc, sau giải phóng có hỏi thăm xem bà ở đâu nhưng không ai biết. H́nh như bà mất rồi. Không sao biết được, v́ sau Hiệp định Genève là tôi cắt hết liên lạc mối đó để làm nhiệm vụ với đường dây khác”.

 

Bài học về cảnh giác và bí mật luôn thường trực nhưng không phải dễ rút kinh nghiệm v́ đâu có chuyện nào giống chuyện nào. Một lần ông bí mật vào căn cứ chuyển tài liệu. Ở trong chiến khu quân ta bắt được một người lính Mỹ con nhà giàu, có máy chụp h́nh rất đắt tiền. Các đồng chí định lấy chiếc máy đó cho Ẩn vào thành phố, nếu có chụp tài liệu cũng có máy tốt chụp cho rơ. Nhưng ông Ẩn cảnh giác. Nó bị bắt, ḿnh lại cầm máy của nó về Sài G̣n xài th́ bằng lạy ông tôi ở bụi này. Lấy máy của nó là chết!

 

Cũng giống như một tết nọ, bà liên lạc và các đồng chí ở chiến khu biết Ẩn thích cây cối chim chóc nên đă đem biếu một cành mai rừng tuyệt đẹp. “Mai ǵ?” “Trắng, chưa nở”. Thôi chết rồi, loại mai này chỉ mọc trong rừng sâu, vùng giải phóng. Các chị em khác cũng thế. Có một chị liên lạc, con được 2 tuần đỏ lói bồng đi liên lạc. Tôi nghe kể khâm phục vừa sợ cho tính mạng cháu bé và điều đó bắt tôi phải tích cực hoạt động cho xứng đáng công lao và sự hy sinh của các chị. Có một bà c̣n bắt cá nhét tài liệu vào bụng cá. Bà lắm sáng kiến và rất nguyên tắc. Hoạt động như vậy, liên lạc là công việc rất quan trọng. Từ chỗ liên lạc bị bắt, có người phản bội là chết. Các chị rất kiên cường”.

 

Ông chuyển tin đi cách nào?

 

“Trước tôi có cả hộp thơ sống (người liên lạc) và hộp thơ chết (các chỗ quy định đặt tài liệu như gốc cây, ghế ngồi). Sáng tôi dắt bécgiê cho nó đi đái. Tôi đứng hút thuốc lá, lúc dụi thuốc đi th́ để nhanh tài liệu viết sẵn vào chỗ đă hẹn. Khoảng nửa tiếng sau liên lạc tới. Hai người không biết nhau, người nào làm việc người ấy”. Nếu là tài liệu dày, phim tới 10 cuốn th́ sao? “Dùng bọng cây gần trường đua hoặc g̣ mả có bia, trở đá ra gửi vô đó đậy lại, người liên lạc đến cúng nhang, lấy đồ. Phải đổi chỗ luôn. Phải lựa bọng cây chim đẻ rồi không đẻ nữa, để tài liệu trên cao, pḥng con nít. Nhưng tốt nhất vẫn là dùng người”.

 

Nếu đưa trực tiếp, thí dụ ở tiệm thuốc, phải có quy ước. Liên lạc sẽ có quy ước từ trước báo dấu hiệu an toàn. Thí dụ nếu không thấy bẻ cành cây và có dấu than, phấn, tức là không an toàn, liên lạc sẽ không đến. Theo quy ước là chờ thêm 5 phút, nếu trật, hẹn lại. “Trật một cái là hai bên đều lo âu. Do đó, đúng hẹn phải tới cho được”. Đă có lần liên lạc từ trong khu ra, bị hư xe. Ông Ẩn đi hành quân về không kịp. Hẹn tới lần thứ ba không thấy tới là phải cắt luôn để điều tra xem sao. Có khi “hàng hóa” đă để rồi mà quan sát chưa thấy liên lạc tới lấy, ông phải lấy lại tài liệu đem về.

 

“Cái nghề nó khó chỗ này”. Ông giải thích: không phải chỉ là chuyện hành động chuyển tin đi, mà thời đại văn minh ngày nay càng khó v́ có đủ thứ hết. Thí dụ quan hệ với  nhân vật họ đă chú ư an ninh cả hai bên cùng theo. “Khi nhập cảnh, khi xin Passport là người ta đă nắm hết lịch sử cá nhân rồi. Luôn luôn bị điều tra. Có lẽ đó là một “kinh nghiệm” nữa của ông Ẩn. Khi ông làm báo cho hăng phương Tây là an ninh đă điều tra về con người ông rất kỹ. Lư lịch của ông có chi tiết làm việc cho Sở Chính trị Phủ Tổng thống.

 

Ông Trần Kim Tuyến, Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị, văn hóa và xă hội tức là mật vụ thời Diệm, cộng tác lâu dài với Cục t́nh báo Trung ương Mỹ. Lúc đó Tuyến có biết việc Ẩn bị điều tra để cấp thẻ báo chí. V́ quen biết nên ông Tuyến đă làm một việc tưởng là che giấu giúp bạn. “Nó hỏi moa rằng toa trước có làm Sở nghiên cứu không, moa bảo không”. “Chết rồi! Ông phải nói rơ là có v́ nó sẽ điều tra ra ngay. Hồi đó c̣n ghi rành rành: cấp bậc ngang cử nhân chỉ số chuyên viên 420. Nay chối không ổn. Nó cho là dối trá c̣n chết nữa. “Tuyến đành “thôi được để moa kêu điện thoại cho nó nói rơ lại kẻo lôi thôi”. Thật hú vía. Suưt nữa th́ Ẩn bị điều tra.

 

“Nhỏ tới lớn lúc nào cũng gay” cũng có nghĩa là lúc nào cũng phải đương đầu, luôn lo lắng tự kiểm soát mọi hành vi của ḿnh. Chuyển tài liệu đi chỉ yên tâm khi biết chắc chắn tài liệu đến nơi, đừng thất lạc. Ông nhớ măi cái lần hú hồn vía, ông vừa vào họp cụm trong cứ, hôm sau về nhà. Liên lạc bị bắn chết, tài liệu lọt vào tay địch. Đó là báo cáo về một người vừa nhận chức làm việc cho một cơ quan b́nh phong của CIA, được mười hôm đă có báo cáo vào khu. Khi ông vừa về đến Sài G̣n, một người ở bên an ninh báo cho ông biết “có địch trong b́nh phong này, nó lấy tin quan trọng báo ra khu”. Ông Trần Kim Tuyến th́ tham khảo ư kiến “ông nhận định xem có phải Việt Cộng lọt vào không”. “Làm ǵ có”.

 

Ông Ẩn phân tích “tin tức lọt vào Việt Cộng là do nội bộ ḿnh. Thằng nào cũng giành chỗ làm đó v́ lương lớn và an ninh Mỹ đă điều tra kỹ mới cho làm việc. Họ đánh nhau bằng cách đưa tin đầu độc ra làm cho thằng này sợ, hoảng quá xin thôi rồi đó”. Ông Ẩn báo t́nh h́nh này vào khu. Do tài liệu bị mất, để đảm bảo an toàn cho công tác, trong khu nói ông hăy ngừng hoạt động một thời gian.

 

Rồi đến lượt ông Ẩn hỏi ông Trần Kim Tuyến: “Vụ này nó có truy trách nhiệm cho ai rồi chưa?” “Truy ǵ. Tụi nó đánh nhau tung tin thôi”.

 

Nhỏ lớn lúc nào cũng gay, c̣n do luôn phải sống trong nghịch cảnh. “Cuộc sống người ta một nghề, ḿnh hai nghề, một nghề đi theo cách mạng, một nghề bám ở đây, để tự túc lâu dài, nghề báo không bao giờ rảnh. Hai nghề này nó rất mâu thuẫn nhau, nhưng lại giống nhau. Một đằng lấy được tin tức ǵ phân tích ra sao giấu đi như mèo giấu cứt là t́nh báo. Đằng khác th́ lấy được tin ǵ, phân tích ra sao th́ đăng toạc móng heo lên báo, phát thanh lên đài! Đó là làm nghề báo chí”.

 

Bản thân được một nền giáo dục nhân văn của gia đ́nh, nhưng luôn gặp nghịch cảnh thách đố. Bạn bè đồng nghiệp có t́nh cảm với nhau, nhưng ông đứng về cuộc kháng chiến th́ họ ở phía đối phương. Ḷng nhân của người nhân văn phải nh́n thấy cảnh bom đạn chết chóc ngay bên ḿnh. Luôn luôn gặp nguy cơ trước việc bị bắt bị giết. Có chuyện, nói hay giấu vợ con? Rủi họ không chịu được th́ sao? Ông Ẩn tự nhận ḿnh có hai cái yếu: phụ nữ và con nít khóc, ông không chịu nổi. Bây giờ ở thời b́nh, thỉnh thoảng ông vẫn thấy người nước ngoài đến xin trẻ em Việt Nam đem về làm con nuôi. Trong những ngày chờ làm thủ tục, ông nằm nhà kế bên nghe trẻ khóc quá, ḷng xót xa không chợp mắt.

 

Có lẽ v́ thế mà Stanley viết: “Ông Ẩn là con người phải giằng xé giữa hai t́nh cảm. Ḷng trung thành với đất nước, dân tộc và sự tận tụy với nghề nghiệp, t́nh bạn với các đồng nghiệp từ một đất nước đă gây chiến với dân tộc ḿnh”. C̣n Henry Kamm th́ trích lời ông Ẩn: Những hoạt động của tôi hoàn toàn được chia ra những ngăn riêng biệt. Rơ ràng thách đố lớn nhất đối với ông phải chịu nhiều gay gắt. Tất cả đều đỉnh cao: Vừa phải làm nhà báo thật sự có tầm vóc, vừa làm sao phát hiện các vấn đề, các “mục tiêu” để tiếp cận lấy được tin t́nh báo và tài liệu. Phải có một óc phân tích giàu hiểu biết thời cuộc, sắc bén, chính xác. “T́nh báo chiến lược phải khách quan. Nếu biết vận dụng sáu quy luật cơ bản triết học của Marx để kiểm tra và phân tích tin t́nh báo và tài liệu th́ tương đối sẽ khách quan”. Ông “tổng kết” vậy.

 

Cũng có nhiều chuyến đi theo các cuộc hành quân, ngồi trên trực thăng Mỹ, với tư cách một nhà báo, ông Ẩn đă chứng kiến bao cảnh xót xa. Một lần ông Neil Sheehan tác giả Sự lừa dối hoàn hảo đi theo cuộc hành quân của quân đội Việt Nam Cộng ḥa tấn công vùng giải phóng. Từ trên trực thăng nh́n qua chiếc ống nḥm mua từ Mỹ đem về, thấy nông dân đàn bà và con nít đi làm ruộng bị đạn của quân Cộng ḥa bắn phủ đầu rượt theo. Họ chạy men theo đê để vào làng. Không cầm ḷng được ông Ẩn nói với viên chỉ huy: “Đại úy coi, nông dân, đàn bà con nít không thôi đang làm ruộng chắc không phải Việt Cộng. Đại úy ra lệnh ngừng bắn đi”. Và Ẩn đă đưa ống nḥm cho tên sĩ quan này xem cho rơ.

 

Tiếp đó ông lại phải đi theo cuộc bao vây cả làng, các cuộc bắt bớ khủng khiếp diễn ra. Từng người bị xét hỏi. “Có một thanh niên mặt xanh dờn, dáng vẻ lờ khờ, dân làng bảo nó nghèo lắm đi làm thuê, xin cho nó đi. Tôi liền hỏi lẹ, biết nó giữ ḅ. Trẻ vậy mà vợ chết, nuôi 3, 4 đứa con nhỏ, nhà cửa không có. Tôi bảo viên đại úy: Theo tôi hiểu nó như vậy đó. Không tin cứ thẩm vấn nó đi. Viên đại úy cự lại: “Ông kư giả, ông xen vào chuyện tụi tôi hai lần rồi”. Th́ ra hắn tính một lần trên máy bay ông Ẩn nói ngừng bắn nông dân, lần này lại can thiệp nữa. “Không phải tôi xen - kư giả Ẩn nói - không tin cứ tra khảo đi”. “Thôi nha, lần này nữa là hai rồi đó”. “Lần trước là tôi nói nhận xét, có xin đâu. Lần này th́ ông làm phước để đức lại cho con cháu ông thế thôi!”.  Viên đại úy dù giận cũng lắc đầu “nói nghe hay lắm”. Viên sĩ quan sai bọn quân báo ra hỏi dân, kiểm tra thấy đúng sự thật đă thả người đàn ông nọ. Đó là cuộc hành quân của Sư đoàn 7 miệt Cai Lậy.

 

Trong hoạt động, ông Ẩn “sợ thường xuyên” (trả lời phỏng vấn). Điều đó là thành thực, thậm chí c̣n nói chưa đủ. Cứ thử nghe câu chuyện bất ngờ của ông về đứa con gái nhỏ 6 tuổi.

 

“Đôi khi có tài liệu nhiều, chụp ảnh cũng cả tiếng, phải làm ban đêm thật bí mật. Ngoài con chó canh chừng, có người nhà thức nữa. Hôm đó tôi viết bằng nước cơm trắng nhách, viết trên giấy xi măng. Thường để đèn rọi xéo, thuộc tài liệu rồi viết liền. Tôi để đèn nhỏ vừa đủ chiếu theo ḍng. Hôm đó đang viết, đứa con gái 6 tuổi tôi tưởng nó đă ngủ rồi bỗng chạy ra đứng sau lưng. “Bố chưa ngủ?” “À, bố viết báo”.  Không ngờ sáng hôm sau nó khoe với anh trai: Bố viết mực ǵ mà không thấy chữ, đọc không ra”. Ông Ẩn như vẫn c̣n nh́n thấy cảnh ấy, đến tận hôm nay. “Lỡ nó đi chơi với bạn kể ra th́ chết”. Ông bèn phải gọi con đến: “Không có chuyện đó đâu. Đèn chói mắt con không thấy. Tối bố làm lại con xem”. Tối đó, ông vặn đèn thật lớn chói mắt nó. “Con mơ ngủ không nh́n thấy. Coi chữ nè. Có chứ sao không?”

 

Kể chuyện đó, ông Ẩn cười vui với khách: “Ác vậy đó. Những chuyện không nghĩ nó xảy ra mà nó xảy. Thật may c̣n giải quyết êm được”.

 

Làm t́nh báo nhiều gian truân, bất ngờ, nhưng ông Ẩn gom lại: Cụ Hồ dạy t́nh báo viên phải cảnh giác với ba chữ T tức là Tiền, T́nh và Tù. “T́nh báo th́ có ba chữ phải giữ: “Tiền, là dễ bị mua chuộc. Gái là mỹ nhân kế. Và tù. Điều này đe dọa mạng sống luôn luôn”. Nếu làm ở vị trí nghề này mà tham giàu cũng dễ lắm. Nhưng xài tiền trên mức thu nhập làm ra là một yếu tố dễ bị lộ. Ông Mai Hữu Xuân, chủ đồn điền lớn kêu cho ông đất ở Đường Sơn Quán, rồi bảo cơ hội thuận tiện mở công ty, qua Bộ Kinh tế. “Ḿnh dính vô đó là mất th́ giờ lắm. Phải chạy ngay, không để xảy ra”.

 

C̣n về chuyện các cô gái, th́ ông Ẩn vốn tự giễu ḿnh là “Biết yêu từ lúc 14 tuổi. Ác lắm”. Đối với ông, không thể chịu được cảnh phụ nữ và con nít khóc. Ông thật sự là một người hiền. Vậy mà ngày ông c̣n trẻ, là chàng trai tuổi 33, có quen cô gái nhảy tên Thủy, đẹp nổi tiếng. Một hôm khuya khoắt cô đi đâu về nhấn chuông xin cho ngủ nhờ. “Được, vô đi không sao”. Chàng thanh niên cho cô vũ nữ ngủ chung pḥng, ḿnh th́ rải chiếu nằm đất. Tờ mờ sáng anh chở cô đi Mỹ Tho theo lời cô nhờ. Có lần cô ham vui, đi theo Ẩn lên xa lộ bắt dế. “Xa lộ đèn sáng, cà cuống bay, đi bắt mấy thứ này vui, cô đ̣i đi theo”. Có lần cô c̣n đi Củ Chi, xách về truyền đơn Cộng sản đưa cho Ẩn “Việt Cộng họ chặn đường, tuyên truyền đưa cho đồ này”. Chạy dài là tốt nhất. Đó là “nguyên tắc” ông tránh những mối liên hệ có hại đến công việc.

 

C̣n chuyện phải lo sợ việc tù đày có thể đến bất cứ lúc nào. Những chuyện không ngờ này đều có thể xảy đến bất kỳ cho một t́nh báo viên nào. Ông Allen Dulles, cựu giám đốc CIA, gọi là mishap (tạm dịch = việc không may). “Phải chuẩn bị sẵn chuyện này. Rủi bị bắt, th́ phải coi là chết. Dặn ở nhà: nếu thấy bị bắt mà chết th́ nên mừng. Nếu có thơ tôi viết về phải trả lời thế này với bọn đem thơ về: Nếu ổng theo Việt Cộng th́ chết ổng ráng chịu. Thăm nuôi cũng không. Có chết cũng không nhận chôn. Thơ đó chắc sẽ có chữ kư thiệt, chữ tôi viết thiệt. Nhưng không có dấu kín đáo để biết theo quy ước riêng th́ phải hiểu thơ đó nó đọc cho viết, không được tin cậy. Phải giao hẹn trước với gia đ́nh kư hiệu riêng để biết thơ nào đúng, thơ nào bị khống chế phải viết”.

 

Lời kể của ông khiến người nghe muốn ngộp thở. Cuộc đời luôn phải chuẩn bị cơi sống, chết như thế thật không c̣n lời b́nh. “Do hoạt động của ḿnh hợp pháp ǵ cũng tới lúc bất hợp pháp. Bao nhiêu là t́nh huống có thể: đem tài liệu vô, xách tài liệu mật đụng xe là lộ… Bắt bớ tù đày là chuyện phải xảy ra. Hoạt động như cá trong rọ. Cá c̣n nhỏ có thể lọt lưới dễ dàng nhưng càng lớn lại càng dễ bị mắc lưới. Không bị bắt là chuyện hiếm có".

 

Những sức mạnh nào đă đem đến cho người t́nh báo sự chịu đựng? Ông Ẩn giải thích: “Làm t́nh  báo lại càng quan trọng cái giá trị số một, là tư tưởng, lư tưởng. Chứ bị bắt buộc mà làm th́ khó tin cậy. Cái lư tưởng nó đảm bảo. Loại t́nh báo làm v́ lư tưởng này, thử là biết: bị bắt bớ, vẫn làm. Xác định rồi. C̣n nhiều loại t́nh báo nữa, thế giới cũng có nhiều. Làm t́nh báo có nhiều động cơ theo trật tự sau: 1- Lư tưởng, 2- Tiền, 3- Phiêu lưu, 4- Âm mưu, 5- Bệnh tâm lư, 6- Bị khống chế và nhiều loại khác như muốn lật đổ chế độ, trả thù v.v… Nếu làm v́ tiền, phải là tiền lớn. C̣n loại nữa: làm v́ danh vọng. Nếu làm cho t́nh báo Anh - Mỹ, nó sẽ giúp bằng cách cung cấp tin tức cho, đưa tên tuổi lên cao có cương vị cao trong xă hội. Có những phần tử đối lập chế độ, họ dùng để giành chính quyền mà không ai biết họ làm cho t́nh báo”.

 

Ông như có chút tổng kết: “Lịch sử t́nh báo ḿnh hay. Ḿnh là một trong những nước giỏi t́nh báo. Có khi một tin tức nào đó cả làng cả xă biết hết nhưng khi địch t́m hiểu th́ dân lại bảo không biết ǵ hết. Rồi chính dân lại đi báo tin cho ta. Ngay với những âm mưu địch cài cấy trà trộn hiểm độc, người dân vẫn có cách. Đă có rất nhiều câu chuyện kể về các loại mật hiệu của dân báo cho ta biết. Dân không làm t́nh báo, nhưng từ cành cây, ngọn đèn, cách cho gà ăn người ta báo động cho ḿnh biết”. Làm t́nh báo, lư tưởng là quan trọng, một ḿnh ḿnh tự kiểm soát. Người ta nói sự say mê, cuồng tín, ông cho là nói không đúng. “Tóm lại, phải có lư tưởng, mục đích. Khơi khơi hoặc mê cũng không được. Nhiều khi không thích cũng phải làm”.

 

Chính v́ lư tưởng, và chỉ có lư tưởng mới chỉ huy được trái tim và t́nh cảm lăng mạn   của con người vượt qua mọi thứ để hoàn thành nhiệm vụ. Cái mạng sống của người t́nh báo đă tự nguyện trao gửi, th́ tiền bạc hay tù đày - những thứ dù khó vượt qua nhất họ cũng vượt được. Không biết bao nhiêu đồng chí và các anh chị em liên lạc, bảo vệ t́nh báo đă hy sinh v́ lư tưởng. Tính đến ngày hôm nay vẫn chưa kể xiết được. Cũng v́ lư do đó mà đă hai sáu năm qua kể từ ngày 30-4-1975 các cơ quan chinh sách của hai ngành t́nh báo và công an vẫn c̣n tồn tại để lo cho công tác này chớ chưa giải tán. (kỳ 16, ngày 2/11/06)

 

Lặn Sâu Vào Lịch Sử

 

Trong một bài viết của ḿnh (ông Ẩn giờ đây rất ít viết  ǵ trên báo chí, trừ công việc nghiên cứu), đă phác ra một bức tranh mang tính tổng kết. Không phải nhà viết sử, nhưng bài viết nhỏ ấy cho thấy ông đă bám sát theo cuộc chiến như thế nào. Đi theo ng̣i bút tổng kết ngắn gọn của một t́nh báo chiến lược, chúng ta có thể lướt trên những mốc sự kiện lớn nhất của cuộc chiến...

 

Sau hiệp định Genève, Việt Nam tạm chia hai để chờ tổng tuyển cử, nhưng âm mưu của Hoa Kỳ đă làm cho con số 2 năm mà người đi tập kết cùng gia đ́nh họ ở lại Miền Nam đau đáu mong chờ, đă thành 20 năm. Thắng lợi ấy cũng phải do chiến tranh giải phóng đem lại. Mỹ hất Pháp khỏi Miền Nam, thành lập chính quyền tay sai Ngô Đ́nh Diệm.

 

Đó cũng chính là lúc nhân vật t́nh báo Phạm Xuân Ẩn vào sâu trong cuộc. Ông được đi cùng các sĩ quan tham mưu tham gia phái đoàn cố vấn Mỹ soạn thảo, tham mưu tổ chức 6 sư đoàn khinh quân đầu tiên trong chương tŕnh xây dựng quân đội. Thời kỳ đấu tranh chính trị 1954 - 1959 bao đau thương, mất mát cho tới cuối 1959 Đảng ta quyết định phối hợp đấu tranh chính trị và quân sự. Chỉ sau đó 4 năm, chế độ Diệm sụp đổ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng ḥa Miền Nam ra đời. Mỹ đă lựa chọn đưa quân vào trực tiếp làm chiến tranh.

 

Lịch sử chương này sẽ cho thấy các chi tiết: Đại tướng Maxwell D. Taylor cố vấn an ninh Tổng thống được cử làm đại sứ thay Henry Cabot Lodge năm 1964. Mọi chủ trương chính sách chiến lược đều do Hội đồng Tối cao (Mission Council) gồm 4 đại diện: Đại sứ, Đại tướng chỉ huy Quân sự MACV, giám đốc USAID về kinh tế, giám đốc USIS JUSPAO về chính trị. Chúng ta cũng thấy được sự thành công to lớn của cách mạng thể hiện trong ngành t́nh báo. Họ đă vào sâu được các nội dung quan trọng của cơ quan đầu năo này. Phạm Xuân Ẩn chỉ là một ví dụ. Năm 1964 Mỹ đưa chiến hạm Moddox vào Hải Pḥng khiêu khích làm cớ mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc Việt Nam. Tại Miền Nam, quân ta thắng lớn tại B́nh Giă, được coi như biến cố quân sự lớn đánh dấu giai đoạn 2 của quân ta vận động dă chiến sang giai đoạn 3 tấn công toàn diện về quân sự - chính trị. Chính phủ Hoa Kỳ quyết định triển khai đưa đủ mọi binh chủng vào Việt Nam.

 

Trong hồi kư của tướng Westmoreland, viên Đại tướng đă đến Sài G̣n năm 1964 thay Harkins làm tư lệnh MACV về quân sự, một ứng viên được coi như “người hùng” của chiến tranh Việt Nam tương tự như tướng Dwight Eisenhower trong Đại chiến II và là nhân vật Đảng Cộng ḥa đưa ra ứng cử Tổng thống vào cuối 1968. Chúng ta hăy đọc lại những ḍng hồi tưởng của Đại tướng Westmoreland về những ngày này:

 

“Đầu tháng 5, một trung đoàn Việt Cộng, trung đoàn đầu tiên tấn công với lực lượng lớn như vậy kể từ trận B́nh Giă trước đó 6 tháng, đă gây thiệt hại lớn ở Sông Bé, thị xă tỉnh Phước Long, dọc biên giới Campuchia, phía bắc Sài G̣n. Chỉ với sự chi viện tích cực của máy bay và tiếp viện một trung đoàn mới cứu được thị xă. Đến cuối tháng ở Ba Gia thuộc tỉnh Quảng Ngăi, một trung đoàn Việt Cộng hầu như đă tiêu diệt sạch một tiểu đoàn của Việt Nam trong một trận phục kích và sau đó đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác t́m cách tới ứng cứu, trong đó viên cố vấn Mỹ, đại úy O. Sulivan đă chiến đấu rất dũng cảm. Sức ép của cao nguyên Miền Trung nặng nề tới mức quân chính phủ đă phải bỏ nhiều quận lỵ.

 

Sau khi đánh tràn vào một quận ở Pleiku, Việt Cộng bắt đầu bao vây một trại lực lượng đặc biệt CIDG (Civilian Irregular Defence Group - Dân sự chiến đấu). Đó là trận đánh do lực lượng đặc biệt - Special Forces chỉ huy ở gần đó. Ngày 10-6 chiến sự lại nổ ra ở tỉnh Phước Long tại quận lỵ Đồng Xoài với một trận tấn công của các bộ phận thuộc hai trung đoàn Việt Cộng. Việt Cộng đă san bằng trại CIDG, lực lượng đặc biệt bên ngoài thị trấn, tiêu diệt đơn vị đầu tiên của một tiểu đoàn dự bị thuộc quân đội Việt Nam được chở đến bằng máy bay lên thẳng, và ngăn không cho số c̣n lại của tiểu đoàn đổ xuống. Hai tiểu đoàn cứu viện nữa đă bị đánh nặng nề trước khi Việt Cộng rút lui sau đó 2 ngày”.

 

Điểm qua một đoạn hồi kư của viên tướng tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam để thấy được không khí chiến tranh thật sự được nh́n nhận dưới mắt đối phương. Phạm Xuân Ẩn phân tích đó là giai đoạn cuộc chiến tranh toàn diện ác liệt với hơn nửa triệu quân Mỹ và chư hầu với kế hoạch 4 bước: 1965 đưa quân vào, 1966 triển khai quân; 1967 tấn công toàn Miền Nam, vào 1968: chiến thắng quyết định. Rồi cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 ta đánh ba đợt, vào cả các thành phố lớn, 64 mục tiêu lớn, 107 mục tiêu vừa và nhỏ, trong các mục tiêu có cả Dinh Độc lập và Đại sứ quán Mỹ. Tổng cộng chiến dịch Mậu Thân ta phá hủy 13.000 xe, 3.400 máy bay, 1.000 tàu chiến; phá 15.000 đồn bốt và phá ră 1.200 ấp chiến lược. Tổng thống Mỹ Lyndon B.Johnson quyết định không ra ứng cử tiếp. Đại tướng Westmoreland bàn giao trở về Hoa Kỳ. Cuộc chiến tranh sang giai đoạn mới, ứng cử viên Đảng Cộng ḥa Richard Nixon lên với chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh nhưng đến 1973 phải kư Hiệp định Paris, rút quân Mỹ. Đến 1975 chiến dịch đại thắng mùa Xuân, mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh đă giải phóng hoàn toàn Việt Nam.

 

Ngày nay, thiên sử vẻ vang ấy đă trở nên chói sáng và rơ ràng trước toàn nhân loại. Nhưng đối với người Mỹ, việc nghiên cứu và trả lời cho cuộc chiến này không hề dễ dàng, nếu không muốn nói nó vẫn là những chia rẽ nội bộ về nhận định. Như tác giả cuốn Sự nghiệp của một Tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam, H.Y. Schandler viết: “Những sự phân hóa và bất đồng ư kiến về việc Hoa Kỳ tham gia vào chiến tranh Việt Nam vẫn chưa phai mờ trong trí nhớ”.

 

C̣n trên báo chí, cho đến đầu thế kỷ 21, khi chiến tranh qua đă 26 năm, đă bao nhiêu tài liệu, sách, phim ảnh được công bố, giờ đây người ta vẫn c̣n phải bàn căi xem những báo cáo nói trên 100 ngàn cựu binh Mỹ tại Việt Nam đă tự tử khi trở về Mỹ là đúng, hay là 58 ngàn là đúng. Nhưng dù có là con số nào đi nữa th́ một sự thật mang cái tên “Hội chứng Việt Nam” đă là căn bệnh kéo dài cho cả nước Mỹ.

 

Chẳng thế, mà chỉ riêng những cựu binh Mỹ trở lại Việt Nam, trung b́nh cứ mỗi tháng có một đoàn. Họ đến khắp nơi trên đất nước này, đầu tiên là về nơi họ đă tham chiến xưa kia, rồi làm cái việc lẽ ra phải làm từ trước khi họ đến lần đầu để đánh trận, là t́m hiểu về xứ sở, con người và nền văn hóa Việt Nam, những thứ mà bây giờ đang được nhắc đến như là những nguyên nhân của thắng lợi.

 

Một cựu binh Mỹ trở lại Charlie-one, một căn cứ pháo binh cũ của Mỹ - ngụy ngày trước thường nă đạn vào Việt Cộng ở khu phi quân sự, chính tại vùng đất này của Quảng Trị, đă diễn ra phần lớn các trận đánh ác liệt của cuộc chiến tranh từ năm 1965 đến 1975. Và vùng này đă được nhà báo Pháp của tờ Liberation mô tả như sau: “Một cánh rừng cây lúp xúp trải dài xa tít tắp, tận chân những quả đồi tṛn như những chiếc bát úp màu đỏ quạch. Một làn mưa bụi và sương mù bao phủ những quả đồi trọc lốc cho đến nay vẫn không có cây mọc v́ chất độc hóa học do máy bay Mỹ rải trong chiến tranh. Hai mươi nhăm năm sau cuộc chiến tranh, mảnh đất dưới chân đồi vẫn c̣n dày đặc bom ḿn chưa nổ và cả những bộ xương người”.

 

Vẫn trong bài báo này, tác giả Philippe Grangereau nhắc tới số lính Mỹ c̣n mất tích đến nay sau nhiều tích cực t́m kiếm của hai nhà nước, chỉ c̣n 1.500 người th́ số lính Việt Nam mất tích là 300 ngàn người. V́ thế khi đến vùng Quảng Trị, cựu binh Mỹ David Denman nói: “Khi những cựu chiến binh Mỹ đến đây, họ tưởng dân chúng sẽ đón tiếp họ bằng những viên đá. Nhưng họ đă được đón tiếp nồng nhiệt và khi ra đi họ vẫn c̣n ngạc nhiên và như bị thôi miên”. C̣n Suel Jones, một lính Mỹ đă từng chiến đấu tại khu phi quân sự cũ vào năm 1968 nói: “Ngày tôi có thể nói chuyện với những Việt Cộng và gây được cảm t́nh của họ, là một ngày trọng đại trong đời tôi”…

 

Những chuyện như thế kể ra th́ rất nhiều. Vẫn tác giả cuốn Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L. Johnson và Việt Nam cho rằng: “Tất cả các tư liệu lịch sử đều có những hạn chế, g̣ bó cố hữu của chúng. Người viết sử chẳng mấy khi gặp dịp nắm đủ tất cả các tin tức liên quan. Phần lớn những ǵ anh ta nắm được đều đă bị chiến tranh hoặc ảnh hưởng của thời gian làm sai lạc trầm trọng… Thực tế, một người từng tham dự các sự biến có thể cho thấy những hiểu biết tường tận có ích. Ngoài ra không có một tác phẩm soạn thảo nào có thể h́nh thành trong một đầu óc rỗng không, bởi người nào làm việc đó cũng có những ước đoán, hiểu biết và những chính kiến bắt nguồn từ những kinh nghiệm bản thân, văn hóa và thời đại của chính người ấy. Trên phương diện đó, mọi lịch sử chẳng qua chỉ là phản ánh thời đại lúc viết”.

 

Chỉ riêng ở Mỹ, tính tới năm 1971 đă có 10 quyền sách được viết về việc h́nh thành các quyết định của Mỹ sau Tết Mậu Thân. Sự chuyển hướng chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam luôn là kết quả của các cuộc tranh căi nội bộ cao cấp nhất…

 

Công việc tổng kết cuộc chiến tranh không chỉ diễn ra khá đồ sộ ở phía Mỹ. Tại Việt Nam, nhiều bộ sử lớn về chiến tranh đă và đang tiến hành. Hồi kư của các tướng lĩnh là rất quan trọng bởi đời họ thấm đẫm các chi tiết của sự kiện lớn. Nhưng những người lính thường vẫn chưa có nhiều hồi kư và ghi chép vào cuộc. Ngay cả nhân vật của cuốn sách này, thiếu tướng Anh hùng Phạm Xuân Ẩn cũng không có chủ trương công bố tác phẩm nào về phía cá nhân. Đó là một sự khiêm tốn, một cách sống mang tính nguyên tắc cá nhân có thể đang được tôn trọng nhưng đồng thời cũng là một sự lăng phí xót xa v́ những câu chuyện con người cụ thể, mang nhiều phần lịch sử sẽ bị đem đi âm thầm. Đằng sau bức tranh tổng quát nhất về các diễn biến của chiến tranh, sự vĩ đại của chiến công, vẫn c̣n tiềm ẩn câu chuyện đời của những người Việt Nam. Đó là nỗi khát khao của người viết cuốn sách nhỏ này, muốn như những chớp đèn flash chớp vội, vẽ chân dung tản mạn của một người anh hùng.

 

Ông có mặt ở nơi cần thiết nhất cho việc có tài liệu giá trị chiến lược loại tuyệt mật trong suốt các giai đoạn khác nhau của chiến tranh. Các kỹ thuật, chiến thuật mới của kẻ thù, các cuộc hành quân lớn, các trang bị của quân viễn chinh, các chiến dịch lớn, đều được chuyển đến Bộ chỉ huy của cách mạng, an toàn tuyệt đối tới ngày chiến thắng.

 

Chính sự an toàn này, nó cũng là  một sự tuyệt mật lớn lao của kỳ tích cách mạng! Sự tuyệt mật này thách đố cả ngọn đèn flash muốn chớp lấy dù chỉ là phần nổi của chân dung con người. C̣n bề ch́m sâu với những vẻ đẹp dữ dội của các t́nh huống gay go ác liệt trong hoàn cảnh đặc biệt của ông, vẻ đẹp tinh thần của các chiến sĩ t́nh báo nữa… Có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được hết h́nh ảnh cụ thể những người t́nh báo chiến lược như ông. Tất cả những chuyển động hàng ngày, đ̣i hỏi sự phân tích, đeo bám của người t́nh báo. Giống như một sự đối chiếu tương ứng với diễn biến cuộc chiến tranh, chúng ta đă có nhiều bản tiểu sử cá nhân như của ông Ẩn. Nếu đem lư lịch của các cán bộ lăo thành cách mạng ra khảo sát, chúng ta sẽ thấy như hồ sơ cá nhân người cách mạng Việt Nam, luôn tương quan với lịch sử. Họ luôn ở ngay trong ḷng sự kiện.

 

1947 - hoạt động ở Sài G̣n.

 

1948 - xuống Mỹ Tho học tú tài.

 

1949 - băi khóa, tham gia phong trào học sinh sinh viên.

 

1950 - đỉnh cao phong trào Trần Văn Ơn.

 

1951 - làm thư kư kế toán hăng xăng - rồi thư kưhải quan. Được giao nhiệm vụ t́nh báo chiến lược.

 

1954 - đi lính Pháp, làm bí thư pḥng chiến tranh tâm lư Bộ Tổng tham mưu.

 

1955 - Mỹ qua thay Pháp, ông làm sĩ quan liên lạc của phía Việt Nam trong cơ quan TRIM (3 bộ Tư lệnh nhập lại: Mỹ - Việt - Pháp) và tiếp theo là phái bộ huấn luyện quân sự Mỹ C.A.T.O (Combined Army Training Organization) cho đến đầu năm 1957.

 

1957 - đi học Đại học tại Mỹ.

 

1959 - về nước, làm việc ở Sở nghiên cứu chính trị - văn hóa - xă hội, biệt phái sang Việt Tấn xă đến cuối 1960.

 

1960 đến giữa 1964 - làm hăng Reuters.

 

1965 đến 1976 - làm cho Tuần báo Time; Ngoài ra đă từng làm cộng tác viên của hai nhật báo: The New York Herald Tribune, và The Christian Science Monitor.

 

Nh́n hồ sơ cá nhân tóm lược ấy, mới hiểu ông đă “lặn sâu” vào đầu năo đối phương tới mức hệ thống như  thế nào. Lặn sâu đến mức có hẳn một cuộc đời khác sau tất cả các kỹ nghệ điều tra tân kỳ của thời Mỹ cũng như thời Ngô Đ́nh Diệm.

 

Vậy nên cũng dễ hiểu khi một tiểu thuyết gia, một nhà văn lớn của Việt Nam, ông Nguyễn Khải đă lấy nguyên mẫu đời ông Ẩn để viết hai cuốn tiểu thuyết. Đó là sau khi đă ngạc nhiên thấy ông mặc quân phục cấp tá trong Đại hội Đảng lần thứ Tư. Trước đó, nhà văn cứ tưởng ông chỉ là một viên sĩ quan ngụy bị “kẹt lại” không di tản kịp. (kỳ 17, ngày 3/11/06)

 

Trong Thời Khắc Lịch Sử

 

Nhưng dù có “lặn sâu” bao nhiêu, ít ra chúng ta cũng phải được biết nhân vật của ḿnh ở đâu, làm ǵ trong thời khắc mà ai cũng nhắc đến khi nói về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước: Tết Mậu Thân 1968 và ngày 30-4-1975 lịch sử.

 

H.Y.Schandler viết: “Trận tấn công Tết năm 1968 là một trong những biến cố quan trọng của chiến tranh Việt Nam, là một đỉnh cao của hoạt động quân sự và có thể nói là trận đánh duy nhất người ta nhớ đời. Sự kiện ấy đă được nhiều người xem là một khúc quanh lịch sử làm Hoa Kỳ phải lao vào một đường lối hoạt động mới tại Việt Nam, đă đưa đến việc chấm dứt sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ, đă thay đổi triệt để khung cảnh chính trị nội bộ của nước Mỹ và mở màn cho việc rút quân khỏi Việt Nam. Nhưng quyết định đưa ra trong tháng 3-1968 dính líu đến không chỉ thuần túy chiến lược quân sự mà cả dư luận quần chúng và của Quốc hội, đến tính chất và kỹ thuật thu thập tin tức, đến tâm lư của cả nước, đến cá tính của các nhân vật trong nội bộ làm quyết định cả ṿng trong ṿng ngoài các giới cao cấp nhất trong chính quyền… Các quyết định trong tháng 3-1968 đă thật sự trở thành một giai đoạn đầy mâu thuẫn trong lịch sử hiện đại”.

 

Trong cuốn hồi kư của Tổng thống Lyndon B. Johnson Vị trí ưu thế (The Vantage Point) ông có cả một chương về Tết Mậu Thân đặc biệt đầy đủ và chi tiết. Trong tài liệu của Lầu Năm Góc cũng đề cập cuộc tấn công Tết. Nó c̣n có trong các cuốn Lịch sử Bộ tư lệnh (Command History 1968) và các văn khố của trung tâm quân sự quân đội Hoa Kỳ, trong tài liệu thư viện Tổng thống chưa được giải mật cho các nhà nghiên cứu v́ c̣n phải chờ sắp xếp các thủ tục giải mật. Đó là chưa kể các luận văn trường đại học và sách báo khắp nơi trên thế giới.

 

Có một câu hỏi đặt ra là: Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân có thật sự bất ngờ với địch không? CIA có biết tin tức không? Câu hỏi này được đặt ra với ông Ẩn.

 

“Mỹ biết là sẽ có đánh nhưng không ngờ thời điểm chính xác. Nhưng họ đă đánh giá sai mục tiêu tấn công chính và mức độ. Họ cho là đánh thành phố chỉ là nghi binh, c̣n mặt trận chính là Khe Sanh. Chính Mác-vi (Macv) nhận định như vậy. Khi đó tôi có được tin từ các nhân vật cao cấp cho hay là Việt Cộng sẽ đánh vào thành phố, nhưng họ vẫn cho là đánh nghi binh cho Khe Sanh, cho nên dù có tin tức họ vẫn bất ngờ. Ngay khi xảy ra rồi, vẫn c̣n tưởng…”

 

Ông nhớ lại các phân tích quân sự, đă là các nghiên cứu của ông cách nay mấy chục năm: “Trước đó họ thấy ta pháo kích, tập trung quân ở Khe Sanh. Rạng mùng 1 Tết ta tấn công Miền Trung, Huế - Nha Trang, ở Khe Sanh cũng đánh mạnh. Đêm 30 rạng mùng 1: Miền Trung, đêm mùng 1 rạng mung 2 Miền Nam. Vậy là lúc xảy ra rồi, tôi điện thoại hỏi nguồn tin ở Macv th́ ông ta vẫn nói Khe Sanh mới là chính”.

 

Các tài liệu khác sau này cho thấy thông tin này của ông Ẩn là chính xác. Người Mỹ cho rằng những điểm giống nhau về địa lư và quy luật hoạt động của đối phương khiến Khe Sanh giống Điện Biên Phủ. Điều này thu hút sự chú ư của cả dân chúng lẫn báo giới Hoa Kỳ. Thậm chí Tổng thống đă cho lập một sa bàn khu vực chiến trường ngay trong pḥng t́nh h́nh của Nhà Trắng để nghiên cứu rất kỹ. Nhưng tướng Westmoreland vẫn tin chắc quân Cộng sản sẽ dồn lực lượng chính vào hai tỉnh phía Bắc của Vùng 1 chiến thuật. Quân đội cũng di chuyển theo nhận định đó: Lữ đoàn lính thủy đánh bộ Nam Hàn từ phía Nam đă chuyển ra vùng Đà Nẵng để thay thế cho lính thủy đánh bộ Mỹ để họ có thể chuyển về phía Bắc nếu có nhu cầu.

 

Sau này, trong hồi kư, Westmoreland cay đắng cho rằng các tin tức đă có, nhưng rất mập mờ. Thậm chí chính ông đánh giá trước Hội đồng phái bộ Mỹ rằng khả năng 40-60% “địch” sẽ ngừng bắn và đánh sau Tết. Sau này nh́n lại, ông cho rằng một số nhà báo cũng đă đưa dự báo - Oberdorfer đă viết trên Washington Post và Miami Herald, nhưng, “Thế nhưng ai sẽ chịu nghe những lời đó?” Westmoreland viết như kêu lên trong hồi kư “Làm thế nào báo động cho mọi người biết khi mà báo chí, Quốc hội và Nhà Trắng đang lo chuyện Khe Sanh và tác động Miền Bắc chịu thương lượng do việc tạm ngừng ném bom”. Và măi sau này trong các tác phẩm nghiên cứu, tác giả H.Y. Chandler viết: “Không mấy người Mỹ biết rơ rằng chiến công nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam là trận đánh hào hùng của Nguyễn Huệ (Quang Trung) bất thần tấn công vào quân Thanh chiếm đóng Thăng Long Tết năm 1789”.

 

Những bất ngờ c̣n ẩn chứa trong các sinh hoạt đặc biệt của dân tộc này. Chính Westmoreland miêu tả trong hồi kư của ḿnh về Tết của Việt Nam: “Người Mỹ không có cái lễ nào giống dù là giống một cách xa xôi với cái Tết Việt Nam bắt đầu từ ngày đầu năm âm lịch. Dù so sánh nó với lễ Noel, lễ Tạ ơn và ngày 4-7 cũng không đủ để nói lên tầm quan trọng mà người Việt Nam gắn bó cái Tết của họ. Trước Tết hàng mấy tuần lễ, các bà nội trợ Việt Nam đă gói bánh chưng bằng nếp dẻo bên trong những chiếc lá dong mùi rất thơm. Người ta bày bán chè, bánh kẹo, rượu, nếp, mua sắm quần áo mới, trang hoàng nhà ở bằng các thứ hoa. Người thân chuẩn bị về quê làm lễ cúng ông bà, tổ tiên. Trẻ em mường tượng sẽ được mừng tuổi bằng kẹo bánh và giấy bạc 5 đồng. Không có ǵ, thậm chí cả một cuộc chiến tranh để sống c̣n, lại có thể cản được lễ Tết”. Chính ông Westmoreland lo ngại: trong số người đi lại như nước ấy, Việt Cộng trà trộn làm sao biết được. Các tài liệu sau này cho biết: ít ra tới nửa quân số của Quân đội Cộng ḥa bỏ về quê ăn Tết và chính Tổng thống Miền Nam Nguyễn Văn Thiệu cũng về quê vợ ăn tết ở Mỹ Tho.

 

Nói lại chuyện chiến sự với người Anh hùng t́nh báo Phạm Xuân Ẩn hôm nay, ông vẫn nhớ lại các chi tiết buồn cười: “Phải rồi. Dân vẫn đi. Ngay lúc bắt đầu tấn công, dân vẫn đốt pháo. Pháo đốt cả đêm. Súng với pháo nhập nhằng với nhau. Quân đội bị cấm trại 100% nên  mới có bài hát “100% em ơi” không đi với đào được”.

 

Lúc đó ông làm ǵ?

 

“Ngay từ hồi năm 1966 quân Mỹ ồ ạt qua, tôi cũng có ư nghĩ nên phản công. Vào trong mật khu họp hành, tôi cũng có nói ư này. Nhưng lúc đó lănh đạo nói nên coi cách nó sao đă, nghĩa là phải nắm chắc đường lối của địch. Trước khi tiến hành chiến dịch, tôi cũng được biết trước 3 tháng để chuẩn bị nghiên cứu các mặt chiến lược. Công việc của t́nh báo chiến lược là vậy: nghiên cứu các mặt quân sự - chính trị - xă hội - kinh tế, xem các yếu tố này và sự pḥng thủ của địch thế nào. V́ khá gần gũi và am hiểu phía địch, biết đánh vô thời điểm nào là tốt. Tôi cũng ủng hộ phương án đánh vào dịp Tết, bất ngờ”. Lănh đạo, đă lệnh cho ông thời gian đó phải ở Sài G̣n nắm tin tức, không được đi đâu xa vắng mặt.

 

Ông phải có hoạt động cụ thể, hay lúc đó vẫn phải nằm im để khỏi bị lộ? “Tôi phải sống b́nh thường với công việc nhà báo. Lúc đó tôi làm một lúc cho hai tờ, phải viết tin tức chiến sự, máy chạy liền liền”. Có lẽ đời làm báo với tin tức nóng bỏng và tiếp xúc trực tiếp với các đầu nguồn tin, ông đă được ở một thế quan sát tổng quát cả chiến dịch. “Tôi thường kêu điện thoại sang các nguồn tin quen thuộc ở pḥng Hành quân, Tổng tham mưu, Nha Cảnh sát. Đánh đâu, biết liền”.

 

Trong lúc quân ta tiến đánh thành phố, Chợ Cũ đóng cửa do lệnh giới nghiêm, ông Ẩn cùng với các quan chức ngụy rủ bạn bè đi ṿng ṿng. Đại tá Nguyễn Bé mời ông đi ăn cơm cùng với Vượng người bạn thân và một cố vấn Mỹ đeo hàm trung tá, nói tiếng Việt giọng Huế. Họ quan sát t́nh h́nh, thảo luận thời cuộc và kéo nhau đi ăn. Họ phải gọi cửa, chủ tiệm mới mở cho vào. Vừa ăn, vừa nghe đài, theo sát chiến sự, đánh đến đâu, quân ta vào đến Hàng Xanh, đánh đến Bộ Tổng tham mưu… Khi quân ta tiến công đợt 2, ông cũng ngồi với viên đại tá Thanh Tùng, một trong những sĩ quan chỉ huy chiến dịch phía quân ngụy, theo dơi và viết tin tức theo từng bước tiến quân, làm chiến lược, tổng hợp và báo cáo ra cho chiến khu t́nh h́nh địch phản kích như thế nào. Với tư cách nhà báo chuyên về tin tức chiến sự, ông đă được chứng kiến, theo dơi nhịp độ của các trận đánh.

 

Ông kể lại: “Quân ta vô ban đêm. Một tổ đề kháng của địch gần Dinh Độc Lập, chỗ Thủ Khoa Huân - Nguyễn Du bây giờ, thành ra quân ta bị kẹt ở đó. Có một tiểu đội ngầm ở phía dưới Gia Định, máy bay nó bắn xả xuống. Anh em gan dạ, chết thôi chứ không lên hàng. Tin tức về nhóm anh Tư Hùng đánh Ṭa Đại sứ rất dũng cảm. Họ leo qua phía sau Ṭa Đại sứ để vào bên trong, gặp phải một tay súng giỏi của nó nằm phục. Ta súng AK phải nhô lên. Nó nằm, phục bắn anh em. Đó là tên đại tá, đại tá George Jacobson có vợ Việt Nam, ở phía sau Ṭa Đại sứ. Chúng điều động tụi bảo vệ bên trong. Anh em hy sinh hết, chỉ c̣n một chiến sĩ ta bị thương, bị bắt, rồi được trao trả nhưng sau này anh bị tai nạn giao thông chết. Tụi nhà báo Mỹ sang đây kiếm anh hoài không được”.

 

Ông cũng kể về các nhân vật chỉ huy của quân ta rất dũng cảm như ông Tư Cang, cụm trưởng t́nh báo chiến lược và sau đó là chính ủy Sư 316, hoặc ông Bảy Vĩnh cũng là một chỉ huy giỏi của quân ta. “Ông Tư Cang cụm trưởng t́nh báo chiến lược và sau đó là Tham mưu trưởng Sư 316, biết rất nhiều chi tiết của chiến dịch. Đợt 2 cũng ông. Măi đợt 3 sợ lộ, trên mới rút ông ra”. Ông Ẩn cũng c̣n chứng kiến cảnh thẩm vấn kẻ đầu hàng.

 

Từ trước khi chiến dịch xảy ra, ông có nhiệm vụ đưa một người quân báo của ta vào nội thành để quan sát mọi mặt. Dưới vẻ ngoài, họ là bà con, bè bạn, đi xem phim, đi chơi các phố xá.

 

“Tôi dẫn vào xem các hăng phim Mỹ cho coi các cuộc hành quân của Mỹ, để ông biết đại đội nó đi sao, cỡ tiểu đoàn nó đi sao. Nhờ chỗ tôi thân quen nên coi được những phim tư liệu đó. Chúng tôi t́m hiểu được cả kế hoạch bảo vệ thành phố, tâm lư dân chúng, các mặt binh vận, dân vận. Đó là việc của ông. Tôi th́ phải sống b́nh thường, vẫn đi làm việc. Chỉ có khác là đêm xuống, công việc văn, tôi quan sát các chuyển động của địch như xe cộ nó chạy, chuyển quân. Tôi thường lái chiếc xe quen thuộc của tôi, trên có con bécgiê, đi ṿng ṿng quan sát thành phố”. Ông đă dẫn cả người quân báo “đi xem” Sở Thú. Họ coi ḍ máy, lái phía sau nổ điếc tai. Đi hóng mát chơi bằng đ̣ nhỏ như vậy ông mới có thể chỉ cho người quân báo thuộc trong ḷng một cái “bản đồ”. Chỉ huy nó nằm ở đâu. Quân ta sẽ vô hướng nào. Bảo vệ của nó có mấy lớp, cái nào tại chỗ, cái nào di động. Đi đường thế nào…

 

Ông cũng không quên những chi tiết vui của cuộc đi quan sát ấy. Người quân báo ở vùng giải phóng ra, cứ yên trí là khi nào tấn công vào thành phố, sẽ phải lấy tiền ra cho cách mạng. Ông chăm bẵm nghiên cứu kho bạc. Ông Ẩn kêu lên: “Ở đó kho bạc nhưng không có nhiều tiền đâu. Trời ơi ở đó nó chỉ phát lương thôi. Tiền nó lấy ở Ngân hàng Quốc gia. Tôi dẫn ông vô chỗ mấy đàn em của tôi ở kho bạc, giải thích cho ông tiền bạc chi sao… Mà muốn lấy tiền làm quỹ cho cách mạng, sao không nghĩ tới ṭa án. Ở đó mới lắm tiền, lắm ṿng vàng, vật chứng của những vụ ăn cướp, buôn lậu đang chờ xét xử”.

 

Người quân báo c̣n được anh bạn Ẩn dặn là khi tấn công vào kho bạc hoặc ngân hàng, nhớ đem theo mỏ hàn. “Nhưng đó là việc của ổng. Làm những việc đó không phải nhiệm vụ tôi”. Ông Ẩn kết thúc những chi tiết hiếm hoi của cuộc chuẩn bị cho chiến dịch. Phần việc của ông là thu thập và phân tích chiến lược. (kỳ 18, ngày 4/11/06)

 

T́nh Bạn Trong Phút Cuối

 

Không ai làm được những cuộc phỏng vấn cụ thể mỗi người Việt Nam, chung một câu hỏi: Ngày 30-4-1975 đang làm ǵ, ở đâu? Câu trả lời sẽ là phần thịt da toàn vẹn hiện lên đắp đủ cho phần xương - là những sự kiện lịch sử được khái quát. Bức tranh chỉ có thể toàn vẹn khi hiện rơ lên các số phận con người trước cơn băo táp lớn nhất đem lại ngày toàn thắng cho cả một dân tộc thoát cảnh nô lệ.

 

Nếu chỉ là các số, th́ ngày nay người ta có thể biết một cách rộng răi bước đi cuối cùng của chiến thắng đă diễn ra  như thế nào! Ngày 6-1-1975 quân ta giải phóng Phước Long; ngày 1-3 mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, đánh chiếm Buôn Mê Thuột, tiểu khu Daklak. Địch hoảng hốt rút bỏ Pleiku, Kontum, Quảng Trị, Huế, đưa lực lượng về cố thủ ở ven biển Miền Trung và bảo vệ Sài G̣n. Quân ta truy kích suốt ngày đêm. Ngày 17-3 Pleiku, Kontum giải phóng. 25-3 toàn bộ Tây Nguyên đă thuộc về cách mạng. 19-3 Quảng Trị, tuần cuối tháng 3 là Huế, Quảng Nam, Quảng Ngăi và 29-3 Đà Nẵng giải phóng, từ ngày 1 đến ngày 4 tháng tư 5 tỉnh nữa: B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa, Lâm Đồng, Tuyên Đức được giải phóng. Sau một tháng, quân ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên và duyên hải Miền Trung.

 

Ngày 26-4 cuộc tổng công kích đánh chiếm Sài G̣n - Gia Định bắt đầu. Quân ta từ 5 hướng tiến công, làm tan ră các sư đoàn ngụy. Sư đoàn trưởng Sư 5 và 7 tự sát. Hàng loạt sĩ quan, nhân viên chính quyền ngụy kéo nhau chạy ra nước ngoài. Ngày 30-4 quân ta tấn công vào nội thành Sài G̣n và h́nh ảnh chính quyền ngụy đầu hàng và chiếc xe tăng quân Giải phóng húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, lá cờ cách mạng được cắm trên nóc dinh, đă là những h́nh ảnh tiêu biểu nhất trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam.

 

Sự kiện lịch sử có tính “thống kê niên giám” ấy đă và vẫn đang được các nhà văn, nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới tiếp tục nghiên cứu, bởi t́m ra những tư liệu mới măi chưa thôi. Riêng những ngày này, đă được Frank Snepp, chuyên viên phân tích chiến lược của CIA viết hẳn cuốn sách Cuộc tháo chạy tán loạn (The dencent Interval) đưa ra phần nào h́nh ảnh của những ngày cuối cùng này. Frank Snepp có điều kiện chứng kiến từng chi tiết, diễn biến. Từ cách phản ứng thảm hại của các viên tướng ngụy thua trận bỏ mặc quân lính tan ră, rồi lên máy bay ra tàu USS Midway trên biển Đông để tháo chạy, cho tới cảnh Tổng thống

 

Dương Văn Minh buồn rầu bắt tay lần cuối tham mưu trưởng Hải quân. Tại Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn, cũng theo sự miêu tả của Snepp, “Tổng thống Ford mệt mỏi căng thẳng sau một ngày dài lo nghĩ, đă lên giường nằm. Ông sắp uống như thường lệ, một ly bia bơ nóng ở trên bàn. Dưới nhà, Kissinger tiếp tục đọc tin mặt trận. Theo báo cáo mới nhất của chỗ Tướng Smith th́ quân đội Sài G̣n đă sụp đổ và bộ chỉ huy không c̣n”. Quân chính phủ rút lui “như đàn cua trước nước lên” (chữ dùng của Snepp) và cảnh hoảng hốt tán loạn một cách khá chi tiết khi ra đi của các nhân vật như tướng Timmes, Polgar (chủ nhiệm Sở CIA ở Việt Nam), Martin (đại sứ Mỹ) và rất nhiều nhà báo nước ngoài cố gắng hành nghề đến giây phút cuối.

 

Cho măi đến những năm sau này, báo chí Mỹ và các nước cố gắng tái hiện lại càng chi tiết càng tốt những ǵ xảy ra ngày hôm đó, một thời khắc hiếm hoi của lịch sử thế giới. “Đó là 4 giờ chiều của Washington, Brent Scowroft cắt ngang cuộc họp ở Nhà Trắng để trao cho Tổng thống Ford một tờ giấy vừa nhận tin. Đó là giờ phút bắt đầu chiến dịch “Gió lớn” (Operation Frequent Wind) tên gọi của chiến dịch di tản khỏi Sài G̣n”. Vào giờ đó, đài phát thanh Sài G̣n phát bản nhạc hiệu đă quy định như mật hiệu rút lui, bản “White Christmas” báo hiệu cho người Mỹ. Các nhà báo mô tả lại giây phút phải chặt bỏ cả cây me trong Ṭa Đại sứ Mỹ để cho máy bay lên thẳng có thể đổ xuống. Hàng ngàn người Việt Nam hoảng sợ la hét trước bức tường Ṭa Đại sứ. Chính Snepp và các nhân viên sứ quán phải kéo những người bạn quen của họ qua bức tường để vào bên trong và đạp những người không quen xuống đất bên ngoài. Những cảnh chen lấn hoảng sợ leo lên máy bay lên thẳng ở mái nhà Ṭa Đại sứ và mái nhà của cơ quan CIA đường Gia Long đă trở thành biểu tượng của Sài G̣n sụp đổ.

 

Tuần báo Newsweek đă miêu tả câu chuyện của ông Ẩn trong ngày 30-4 như là một chi tiết, một cận cảnh của bức tranh ấy. Đó là việc ông Ẩn đă “cứu” Trần Kim Tuyến đi di tản chuyến cuối tháo chạy khỏi Việt Nam trong một hoàn cảnh tưởng đă tuyệt vọng!

 

Tờ Newsweek cho rằng: “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta c̣n ở lại Sài G̣n”. Khi ông Tuyến gọi điện cho Sứ quán Mỹ hôm đó, t́m sự giúp đỡ của CIA đưa ông đi thoát, ông được trả lời là cơ quan CIA đă rời đi hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại t́m người bạn thân Phạm Xuân Ẩn, người được đánh giá là có nhiều mối quan hệ rộng vào bậc nhất ở Sài G̣n. Sau này trong các cuộc phỏng vấn của các kư giả quay trở lại Sài G̣n đă giải phóng nhiều năm, ông Ẩn đă miêu tả lại vẻ mặt hăi hùng của ông Tuyến khi t́m ông trong pḥng khách sạn dành cho các nhà báo Mỹ. Ông Ẩn vội vă lái xe đưa ông Tuyến đến Ṭa Đại sứ Mỹ kiếm t́m cơ hội cuối cùng bất kỳ có được. Nhưng cảnh tượng thật hăi hùng: Ṭa Đại sứ đông nghẹt những người cầu cứu hoảng loạn. Chiếc xe cũ Renault của ông Ẩn không sao len vào được. Gọi điện khắp các địa chỉ cần thiết khác trong thành phố, cuối cùng ông Ẩn liên lạc được với một nhà báo Mỹ có thể nhắn cho Ṭa Đại sứ. Nhờ thế họ mới biết được c̣n chuyến di tản tại ngôi nhà của CIA đường Gia Long nơi đă “diễn ra” h́nh ảnh biểu tượng của Sài G̣n sụp đổ.

 

Ở ṭa nhà này, họ cũng suưt nữa th́ trượt chuyến đi. Cánh cửa thép của ṭa nhà đă đóng lại khi chiếc xe Renault ông Ẩn chở bạn chạy tới. Người lính gác không mở cửa để tránh ḍng người có thể ập vào. “Đề nghị cho gọi ông Polgar!” Ông Ẩn yêu cầu được gặp sếp CIA mà ông quen. Nếu gặp được Polgar, chắc chắn ông ta biết câu chuyện trầm trọng của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Nhưng người lính gác không chịu gọi. Vừa may lúc người vợ của anh lính gác đi mua đồ ăn đến. Cánh cửa hé ra cho bà ta vào, thế là ông Ẩn dùng một tay giữ chặt cửa, tay kia đẩy mạnh bạn ḿnh vào lọt. Tờ Newsweek kết luận: Thế là, vị trùm cảnh sát mật vụ Sài G̣n đă được một điệp viên của Hà Nội cứu thoát, leo lên mái nhà để lên máy bay đi di tản.

 

Trong nhiều bài báo của các nhà báo thế  giới khi trở lại Việt Nam t́m ṭi mọi câu chuyện, người ta đều chú ư chi tiết này. Một điệp viên t́nh báo chiến lược đă cứu mạng viên chỉ huy mật vụ, người cộng tác lâu năm của CIA. Bài phỏng vấn của Morley Safer cũng không bỏ qua chi tiết này. “Chuyện ǵ xảy ra sau khi mọi người đi khỏi?” Ông Ẩn: “Bob Shaplen đưa tôi ch́a khóa pḥng của anh ta tại khách sạn Continental. Mấy phóng viên ngoại quốc khác cũng làm theo. Tôi trở về nhà đón mẹ tôi và dọn lên ở khách sạn. Tôi biết rằng ở đó có an ninh hơn. Mẹ tôi lúc đó cũng rất đau yếu nên tôi nghĩ có thể chăm sóc mẹ tôi dễ dàng hơn tại khách sạn. Tôi đoán vợ và các con tôi đă ra đi được trên một chuyến máy bay nào đó. V́ sao tôi ở lại? Ngoài việc chúng tôi đă đẩy hết người ngoại quốc ra khỏi xứ sở, giành độc lập, cần phải góp phần xây dựng lại Tổ quốc, th́ c̣n lư do nữa là mẹ tôi đă quá già yếu, không thể đi được. Những điều này thật khó mà giải thích cho người ngoài cuộc hiểu được” Safer kết luận: “Ư thức bổn phận của một đứa con, chọn sự trung hiếu thay v́ là Tự do”.

 

Về câu chuyện ông Ẩn cứu Trần Kim Tuyến, Safer viết: “Tuyến chắc chắn là mục tiêu trả thù đầu tiên của Việt Cộng. Với sự giúp sức của Mỹ, Tuyến đă tổ chức và chỉ huy mạng lưới t́nh báo đầu tiên của chính quyền Sài G̣n chống lại Cộng sản Miền Bắc. Trong t́nh h́nh hỗn mang của Sài G̣n sụp đổ, Tuyến bị lỡ hai chuyến bay do CIA tổ chức cho anh ta và gia đ́nh. Vợ con ông ta th́ đă t́m cách thoát đi qua ngả bạn bè ở Ṭa Đại sứ Anh. Riêng Tuyến đến ngày cuối cùng không c̣n ai ngoài Phạm Xuân Ẩn để nhờ cậy. Ẩn đă đẩy Tuyến vào xe hơi của ḿnh chạy ṿng ṿng trên một Sài G̣n đang sụp đổ để tới một cao ốc của Mỹ, vượt qua lính gác mở cánh cửa sắt đẩy Tuyến vào. Trong một bức ảnh ở ngày cuối cùng ấy, trong lố nhố khuôn mặt nhào tới chiếc trực thăng Mỹ trên nóc ṭa cao ốc, có mặt Tuyến. Nhưng Ẩn đă không có mặt trong h́nh. Anh ta đă ở lại”.

 

Ngày 30-4 năm 2001, qua đi đă 26 năm, và dường như vị tướng già này v́ lịch sử mà phải kể lại, chứ nó không c̣n là câu chuyện quan trọng nữa. Ông cho nó là chuyện cũ.

 

V́ sao ông Tuyến lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta đứng đầu bảng số những người mà Mỹ phải đưa đi? “Ông ta là nhân vật thứ ba sau Diệm - Nhu. Làm Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị - văn hóa - xă hội, người Mỹ gọi là Sở Mật vụ. Trong suốt cuộc đời làm việc, quan hệ lấy tin tức, ông mến tôi. Sau đảo chính Diệm 1963, ông ta cũng bị bắt. Ông ta đi cùng máy bay với kư giả Stanley Karnow từ Hồng Kông về. Ổng bị bắt ngay trước mắt Stanley. Sau lúc ông ta bị bắt, tôi tới nhà thăm, bả đang mang bầu. V́ sao ông ta kẹt lại ngày 30-4 khi vợ con đi cả rồi? V́ ông này ghét Thiệu. Trước giải phóng một tháng, ngay sau khi Đà Nẵng thất thủ, Tuyến vẫn đang trong một âm mưu lật đổ Thiệu để lập chính phủ mới.

 

Tối 1-4 bác sĩ Trương Khuê Quang, giám đốc trường Quốc gia nghĩa tử, người trung gian của Tuyến đưa Tuyến đến gặp Trí Quang. Đêm mồng 3 rạng mồng 4 Thiệu bắt nhốt hết những phần tử âm mưu đảo chính. Thành ra mới có vụ cả dân biểu, nghị sĩ, nhà báo bị nhốt. Ông Tuyến hy vọng Thiệu đi sớm, sẽ thả đàn em của ḿnh ra. Nhưng măi khi ông Hương lên rồi vẫn thưa thả, 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí CIA đưa ḿnh đi”.

 

Ngày 30-4 đó, câu chuyện của ông Ẩn làm rơ thêm h́nh ảnh cuối cùng: “Người cháu ông Tuyến, một viên thiếu tá chở ông đến bằng xe Hon-đa. Tôi giục nó về lo vợ con, để ông Tuyến lại. Tôi kêu Ṭa Đại sứ. 5 cái telephone tất cả. Sự thể diễn ra như báo chí nói rồi. Tuyến đi chuyến cuối cùng của CIA cùng với ông Trần Văn Đôn. Ông Đôn trông cũng thảm, không lên được mấy chuyến trước. Con ông bảo “Ba! Ba! Đừng bỏ cuộc”. Cô bí thư tên là Hà Hiếu Lang, em đại tá Điệp. Sau cô bí thư của ông Polgar, chủ nhiệm CIA nhường 3 chỗ cho gia đ́nh trung tướng Đôn. Người cuối cùng lên máy bay là ông Tuyến. Trong h́nh, cái người thấp bé là ổng. Chi tiết này sau tôi biết được do đọc báo trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm h́nh cuối cùng đó của một phóng viên hăng UPI. Hăng được sử dụng 20 năm, mới gần đây tác giả mới lấy bản quyền”.

 

Safer viết: “Ẩn đă can đảm giúp cho Trần Kim Tuyến thoát khỏi Việt Nam. Tuyến là một trong những viên chức cao cấp nhất của CIA tại Việt Nam. Là một tay âm mưu bất trị làm việc cho Thiệu sau đó chống lại chính quyền Thiệu. Vào ngày cuối cùng của Sài G̣n Tuyến vẫn c̣n nỗ lực thương thuyết với Phật giáo để lập một chính quyền mới”.

 

Có lẽ những việc cứu kẻ thù này không chỉ diễn ra một lần. Ông đă từng cứu cả những người bạn Mỹ thoát chết trong các t́nh huống cực kỳ phức tạp của chiến tranh. V́ sao ông làm điều đó? Các nhà báo nước ngoài có phần cho rằng v́ ông được đào tạo từ nhiều nền văn minh Pháp - Mỹ, hiểu và sống theo giá trị nhân văn, thoát ra khỏi quầng tối của sự cực đoan nên nhân cách cao quư đă giúp ông làm nên nhiều việc phi thường. Khi ông trả lời Henry Kamm “Những hoạt động của tôi hoàn toàn được chia ra những ngăn riêng biệt” là nói về sự tồn tại khác thường của ông ở cả hai phía. Những cái mâu thuẫn ấy thật không sao tả nổi. Nội làm một cái nghề lấy tin tức báo chí không thôi đă nghịch cảnh rồi. Làm báo, t́m mọi cách moi tin, để rồi đưa ra rộng răi. C̣n làm nhiệm vụ t́nh báo th́ t́m mọi cách lấy được tin t́nh báo rồi, lại phải giấu biệt đi. Ông thường phải sống với nghịch cảnh đó.

 

Cái ngày 30-4 ấy h́nh như bây giờ mỗi khi nhớ lại, ông phát hiện thêm t́nh trạng của chính ḿnh. Vợ con ông đă đi cả, c̣n một ḿnh ông với mẹ già ở lại. Ông chưa nhận được chỉ thị ǵ mới. Đó cũng chính là lúc hỗn loạn, rất có thể một chàng lính trẻ Giải phóng nào đó không biết ông là đại tá trong quân đội Cách mạng, với cây AK47 trên tay th́ chẳng có lời giải thích nào lọt tai anh ta. Và rất có thể “tụi nó sẽ giết tôi đồng thời nướng sống mấy con chó của tôi nữa”.

 

Ông Ẩn ít khi nói về nỗi sợ hăi, không phải ông cố tỏ ra can đảm, mà là cho rằng sợ hăi, lo âu trong đời người t́nh báo là tất yếu, luôn luôn. “Những lần ấy ông Tuyến làm tôi muốn đái ra máu”, vẫn cái giọng ôn ḥa rất hài hước dân dă mà không lộ liễu, ông kể về cuộc cứu ông Tuyến nó gay go thế nào. Không chỉ là việc Tuyến cuống quưt leo lên được chuyến máy bay cuối cùng, mà trước đó nữa, suưt th́ ông lâm vào cảnh rắc rối v́ Tuyến. “Ông Tuyến đang lo mưu đảo chính. Đà Nẵng mất ngày 29-3, trong này Tuyến càng gấp gáp. Cái đêm cả đám 14, 15 đàn em của Tuyến và lối một chục tên của các tổ chức khác bị nhốt ấy thật đáng sợ. Tuyến rất có thể sẽ bị bắt v́ đứng đầu. Tất cả những ai thân thuộc qua lại nhà Tuyến cũng sẽ bị bắt. Nếu có bắt tôi lúc này th́ rất kẹt. Sau chiến thắng Ban Mê Thuột là biết địch sẽ di tản. Phải chuẩn bị chờ lệnh mới, mà ḿnh bị bắt, bị thủ tiêu th́ thật khủng khiếp. Suốt cả ngày tôi không ăn uống ǵ được. Tôi vào ngủ trong ṭa báo, không dám ở nhà”.

 

Sau này ông mới biết được cái cảnh ông Tuyến nghe điện thoại vợ con đàn em lần lượt báo tin chồng họ bị bắt. Ông ta mặc đồ Tây sẵn sàng trong đêm để bỏ trốn. Ông Tuyến không bị bắt do có sự can thiệp của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Hảo. “C̣n với tôi, có lẽ họ c̣n ngại đụng đến người của báo Time”.

 

Cho dù đă đọc chuyện 30-4 do báo chí viết, cũng như lời ông kể với bạn bè, tôi vẫn thấy ông c̣n là điều bí ẩn. Có nhiều chuyện tuyệt mật chưa được giải mật chẳng bao giờ ông kể đă đành, nhưng có nhiều điều b́nh thường ông cũng không kể ra. Nó thoảng qua trong câu chuyện khiến người tinh ư hiểu rằng phía sau c̣n nhiều chiến công thầm lặng. “Có những chuyến trước khi tôi đi, vợ chồng tôi phải xác định với nhau một là nó bắt, thủ tiêu th́ tốt nhất. Hai là đáng sợ hơn nó bắt tra khảo, lộ ra tài liệu th́ liên lụy nhiều người”. “Có lần nguy hiểm đến nỗi tay đưa ám hiệu, chân tôi vẫn run bần bật. Dù đă cố trấn tĩnh, nhưng phản xạ tự vệ của cơ thể khiến nó vẫn run lên trước t́nh thế quá nguy hiểm”.

 

Trong câu chuyện, ông rất ít trả lời vào những câu hỏi về người vợ ḿnh. Bà đă thôi hẳn công việc của một nhân viên tiểu công nghệ để làm người nội trợ. “Để cho không có môi trường địch có thể đánh vào bên trong”. Ông giải thích sơ lược, v́ nó động đến các vấn đề kỹ thuật của nghề t́nh báo. Dù luôn có ư thức cảnh giác đi nữa, càng ít mối quan hệ với bên ngoài càng tốt cho vợ ông. Bà không đi làm việc ra ngoài. Không có người ở giúp việc. Bà vẫn đi riêng kín đáo theo dơi từ xa mỗi khi chồng giao tài liệu cho giao liên. “Rủi có bị bắt th́ bả báo cho cơ sở ta biết”. Mỗi khi ông đến nhà các nhân vật quan trọng, bà đi theo cốt kéo bà vợ hay nghe chuyện của ông chủ nhà ra một chỗ. Hai người vợ nói chuyện, để cho chồng bà nói chuyện với ông chủ nhà.

 

Từ ngày 23-4  vợ con ông đă được gửi sang Hoa Kỳ. Họ bay trên chuyến bay sơ tán thân nhân những người làm báo Time. Ṭa báo muốn tránh cho khỏi vướng vào chiến trường có thể sẽ đẫm máu ở Sài G̣n. Sau này, họ đă trở về được.

 

Những chi tiết về người vợ chỉ xuất hiện rất ít. Henry Kamm cũng chỉ có được vài ḍng sơ qua: “Chỉ có mẹ và vợ của ông Ẩn biết cuộc sống lưỡng diện đầy nguy hiểm của ông”.

 

H́nh như v́ nhiệm vụ Cách mạng và công việc khác thường của vị tướng, mà cả gia đ́nh ông cũng sống phong cách Ẩn. Người ta chỉ thỉnh thoảng thấy bóng bà trong pḥng khách, ít khi ngồi tiếp khách cùng chồng. Mọi lo toan, sự can đảm của bà êm thấm ở khu sau nhà, nơi mọi sinh hoạt hậu cần diễn ra với tiếng la chí chóe của đứa cháu nội nghịch ngợm nô giỡn. C̣n về người mẹ của ông, không có h́nh ảnh ǵ nhiều ngoài vài chi tiết. Bà không đi Mỹ với con dâu và các cháu mà đến ở trong ṭa báo với con. Qua câu chuyện của ông Ẩn, h́nh ảnh cuối cùng của người mẹ, cũng chỉ là h́nh ảnh của một đám ma im lặng.

 

“Bà già tôi mất ở chính ngôi nhà này. Làm đám ma mà hàng phố trước cửa không ai hay. Làm êm rơ, lúc đưa ra cửa, hàng phố mới biết. Có người nói nhà ông Ẩn cách mạng, làm đám ma nhanh quá, như mấy ông cán bộ. Tôi bảo họ: “Không phải, cách mạng người ta đàng hoàng, đâu như tôi, ông nội!”

 

Nói chuyện này ông Ẩn không nh́n ra xung quanh. Ông rót nước trà mời khách và cho biết ngôi nhà này sống đă bốn thế hệ, chết một c̣n ba…

 

Những người phụ nữ quan trọng nhất đời ông, mẹ và vợ chỉ xuất hiện rất ít trong câu chuyện. Nhưng v́ thế lại càng gợi lên bao nhiêu mong muốn t́m hiểu về họ. Càng mong muốn càng gặp sự im lặng. Không phải ông cố giấu, hoặc khiêm tốn. Cũng có thể nhưng có một phần chắc là do lối sống kín đáo cả một đời. Phải chăng vẻ đẹp đó cũng mang chút ǵ như “bệnh nghề nghiệp?”.

 

Vị tướng đă yếu ớt do bệnh và tuổi cao. Dáng đi của ông hơi c̣ng xuống, do cao gầy, hay là do thân thể ấy đă mang vác một cuộc đời quá phong phú và gian truân. Chỉ vẻ mặt, đôi mắt to đen thông minh và đôi tai to, người trong nghề nhạc gọi là đôi tai thẩm âm tốt, làm toát lên vẻ linh hoạt, trẻ trung của một trí tuệ vẫn mạnh mẽ.

 

Ông ngồi giơ điếu thuốc, miêu tả cách gói tài liệu tài t́nh của những chị giao liên. Họ nhét vào bụng cá, để cho hôi ŕnh. “Bọn lính mở ra khám là bố mày đưa trả ngay. Sao chịu được mùi khắm hôi ŕnh”.

 

Khi giải thích cái từ kỹ thuật nghề nghiệp của người t́nh báo hoạt động độc lập và cô  đơn mà thuật ngữ nghề nghiệp Anh - Mỹ gọi là “Lone Wolf” (chó sói cô đơn) ông lại có một thoáng cười hài hước tự trào của người già thông thái: Trong bầy sói thường có con sói đầu đàn dũng mănh xông pha. Nhưng khi về già, nó không theo kịp bầy đàn nữa, mà thường tách ra khỏi đàn, đi một ḿnh kiếm ăn cho qua đời.

 

Cái cười hài hước về thân phận người, không chua chát. Có vẻ ǵ đó ung dung của một người thông minh chấp nhận quy luật của thiên nhiên.

 

Có lẽ v́ thế mà với những nhà báo phỏng vấn kỳ cựu nhất, tỏ ra hiểu con người nhất vẫn phải chịu cảm giác của Morley Safer: “Những giải thích của Ẩn không làm sáng sủa ǵ hơn mà lại càng khiến anh ta thêm bí ẩn. Bài toán đố càng trở thành khó hiểu. Ngồi cách tôi không xa trong vùng tranh tối tranh sáng nh́n qua làn kính dày, cặp mắt anh lớn ra một cách tức cười. Ẩn bước ra khỏi cứ điểm, nhưng liệu c̣n bao nhiêu lớp che giấu nữa và c̣n thêm những ǵ tự thú trong t́nh bạn bè?”

 

Đúng là cảm giác ấy. Đôi khi ông như bước ra “khỏi cứ điểm” của cuộc đời đầy bí ẩn rồi lại bước vào, bao nhiêu là sự kiện quư báu của lịch sử đă đi qua mà không muốn để lại điều ǵ về cá nhân ḿnh.

 

Đây chính là sự bất lực của những ai ham muốn tái hiện cuộc đời ông bằng chữ nghĩa. Ông không cố ư làm họ đau đớn hay thất bại. Giúp ai được ǵ ông cố giúp, nhưng ông giữ lại cho ḿnh lối sống tự nhiên, rất im ắng đi vào chiến công sáng chói của người anh hùng. Nay lại im ắng rút lui khỏi hào quang sáng chói của sự tôn vinh của xă hội khi mọi việc đă hoàn tất. (kỳ 19, ngày 5/11/06)

 

Ngọn Gió Nên Đời Anh Hùng

 

Với Phạm Xuân Ẩn, cũng có thể lắm, làm nên đời anh hùng, có phần của những quả thị theo gió rơi xuống, thơm lừng trong túi áo. Bên trong hột thị, chú bé vẫn đinh ninh là có con Tấm, con Cám thật…

 

“Có ba nền văn hóa trong những người Việt Nam như tôi”. Henry Kamm trích lời ông Ẩn, nhưng bài viết Kamm chỉ đưa ra biểu tượng của những nền văn hóa ấy ở ḷng yêu nước, yêu con người, dũng cảm, khôn ngoan và độ lượng. Những đặc tính lớn ấy cụ thể trong đời sống của ông như thế nào?

 

“Khổng học trong ông già tôi nặng lắm. Gốc từ thời ông bà ông cố ông sơ từ bao giờ. Lớ quớ là tôi ăn đ̣n liền. Văn hóa văn minh Việt Nam nhân nghĩa lễ trí tín thấm sâu vào trong lối sống. Cụ Hồ trước lúc mất cũng như suốt đời Cụ là những bài học đối nhân xử thế. Ông nội tôi cũng găng lắm. Tôi vô lớp bét Đồng Ấu về, ông hỏi: thầy dạy em đi học để làm ǵ. Dạ, để học tính, học đọc, học viết. Thế là ông đánh cho một trận liền: Mày bỏ khúc đầu. Thầy bao giờ cũng dạy: Tiên học lễ, hậu học văn…”

 

Dường như giờ đây là một người ông thấu hiểu nỗi khốn khổ của trẻ con nên ông thương thằng cháu nội lắm, thương cả trẻ con nói chung. Ông vẫn c̣n thấy h́nh ảnh của ḿnh khổ v́ không sao ḥa hợp được các quan niệm của ông, cha ḿnh. “Ḿnh kẹt cái đó”, vừa thương tuổi thơ, thương cả cha ḿnh vừa không có ǵ trách giận, chỉ trách giận bản thân ḿnh. Bằng chứng để tự giận ḿnh là mọi đứa trẻ ngày ấy không gặp vấn đề như ông. Lứa trẻ con ngày đó nhiều đứa đă ḥa hợp được mà nên người, c̣n ông th́ không. Ông vẫn nhớ ḿnh luôn được cha mẹ dạy rất kỹ các phép tắc: “Đi đường thấy chai bể không được phớt lờ đi qua, mà phải lượm để vào gốc cây cho ai đi qua vô ư không đạp phải. Khách đến chơi, không được leo lên sa lông, ghế ngồi hóng chuyện. Đến chơi nhà ai nếu không được phép th́ không ngó nghiêng hay tự ư vào pḥng trong…” Ông nói sơ qua về lối dạy dỗ thường của gia đ́nh truyền thống Việt Nam nặng Nho giáo.

 

Thế c̣n văn hóa Pháp? Ảnh hưởng ra sao? “Từ lúc học trung học là đă thuộc văn hóa, lịch sử, văn chương Pháp. Lịch sử Việt Nam chỉ học cấp dưới, lên trung học là thôi. Học địa lư Pháp là phải thuộc từ cục đá, con sông, có h́nh ảnh chứ như bây giờ thấy toàn vẽ không. Chỉ có một nước nó không cho học là Liên Xô. Á Châu mà nó trừ Nga!”. Ông nhớ lại thuở đi học ấy. Cách dạy của Pháp tuy có nhồi sọ thật, nhưng lần đầu tiên có thêm cho người học sinh nhiều khái niệm mới. “Khái niệm về vấn đề quốc gia, nhà nước lúc ấy học sinh mới được dạy. Sách giáo khoa dày cộp, phải học kỹ. Đi thi trả lời loạng choạng là rớt liền. Thí dụ nó dạy ăn cắp của nhà nước là ăn cắp của mọi người, phải nói đúng khái niệm, chứ không thể nói kiểu xâm phạm tài sản xă hội chủ nghĩa như bây giờ ta nói. Phải học thuộc ḷng. Cả cách đối xử với mọi người: lúc lên thang, ngồi xe có phụ nữ. Học từng tí”.

 

C̣n sự ảnh hưởng của văn hóa Mỹ, th́ rơ ràng ông đă học được nhiều điều thiết thực làm thay đổi các suy nghĩ thông thường. Câu chuyện ông hay kể lại về ḿnh “có cái thông minh, có cái ngu”. Người ta hỏi v́ sao làm đường phải ngoằn ngoèo. Nghĩ một lúc th́ trả lời là làm thế cho tài xế phải chú ư mà không dám ngủ gật! Đâu phải! Thực tế hơn nhiều: con đường chạy sao cũng gặp các khu mồ mả, đất riêng của dân. Có khi do tiền không có nhiều phải làm đường uốn ṿng vèo tránh khúc khó. Thời Pháp quy định sĩ quan cấp nào không được lái xe. Binh nh́, hạ sĩ, lái xe Jeep, sĩ quan không được đi xe đạp. Nếu cần phải ngồi xích lô giữ tư thế. Không được đi xe điện. Đến thời Mỹ, viên trung tá hẳn hoi cũng xắn tay áo sửa xe. Cái ǵ thuận lợi, tốt cho cuộc sống th́ làm… Văn hóa thực dụng kiểu Mỹ đă dạy nhiều thứ…

 

Ông kể nhiều chuyện đời sống và các câu chuyện đơn giản ấy của thời cuộc đă tạo nên con người: “Nặng  chất Việt Nam, yêu nước số một là người Việt Nam. Pháp th́ mở ra những khái niệm công bằng tự do bác ái. Mỹ th́ nặnglà vấn đề lao động, thực tế. Có làm mới có sáng kiến và kỷ luật. Cai trị bằng luật. Thế giới nhiều luật sư nhất là Mỹ. Tranh chấp việc bầu cử Tổng thống giữa Bush và Gore vừa rồi mỗi bên 500 luật sư theo dơi ở Florida. Trưởng cảnh sát ở cấp quận là phải bầu…”

 

Dưới dàn cây bóng mát, ông có thể vừa cho chim ăn, vừa tṛ chuyện nhỏ nhẹ và các câu chuyện đều mang ư nghĩa rất gần gũi đời sống. “Rất Mỹ”. Cái cảm giác đó không rơ bắt đầu từ cái ǵ. Khó ḷng tách bạch, bởi ở ông toát lên một nét nhân văn rất Việt Nam. Rơ ràng không phải là một ông già yếu ớt lo sợ trước cuộc đời xáo động. Có thể “Chung sống ḥa b́nh” với các bệnh tật, trào lộng hồn nhiên mà không lộ liễu. Ở ông vừa có một cậu bé tinh nghịch yêu súc vật cây cỏ, một người ṭ ṃ kỹ thuật nhưng lại sống bằng nghề phân tích và tư duy trừu tượng. Ông không viết ra như Đoàn Giỏi, Sơn Nam, cũng chẳng nghiên cứu bác học như cụ Vương Hồng Sển, nhưng ông sống thấm đẫm quê hương. Có lẽ cái dáng vẻ thi nhân của ông mà kư giả nước ngoài cảm thấy mà họ không thể chứng minh. Đời ông hoàn toàn xa cách với thi ca.

 

Ông làm cái nghề, ngay từ lúc mới nhận nhiệm vụ đă không muốn, cái nghề của khôn ngoan, của suy xét trước sau không được sai một ly. Một ly là mất mạng, là hỏng việc nước… Có thể đó phải là con người luôn mở to mắt nh́n, toan tính cho rơ, tránh những sai lầm. Vậy mà lại dáng thi nhân và một triết gia. Vẻ phong nhă thi sĩ và cái khôn ngoan triết gia có thể chắc chắn đă thấm vào ông từ nền văn minh Á Đông mềm mại nhất. Nó bắt đầu từ đâu nhỉ? Thật khó biết rạch ṛi. Bắt đầu từ cái thuở trước Đại chiến Thế giới thứ hai?

 

“Lúc tôi 9, 10 tuổi, sống ở Sài G̣n, bắt đầu biết cảm nhận cái thành phố nhiều chỗ để chơi này”. Chú bé 10 tuổi xuống xưởng Ba Son, vào Sở Thú học làm Tazan leo cây đa, đu để rớt ào xuống sông lại bơi vào đeo tọng teng trên rễ đa. Làm quen với một ông thợ xưởng Ba Son xin ông đúc cho đồng xu nặng để đánh đáo: “Ổng cưa cho miếng, và mài bóng lên. Vào khoảng năm 1928 khi chưa có tiền xu đồng nặng, tới năm 1935 là nhẹ rồi, dùng làm cái chọi. Măi sau này mới có đồng nửa xu”. Một chú bé nghịch ngợm, ham chơi, say khám phá, cho đến bây giờ thành một người nhiều tuổi vẫn yêu măi cái thành phố thuở xưa ấy. “Lúc đó dân c̣n thưa thớt, ở xa. Dinh Đốc lư Sài G̣n một cái, Chợ Lớn một cái. Thành phố thoải mái. Tôi th́ có tật lang bang chơi nhiều, đi khắp, cái ǵ cũng biết. Tây th́ sống ở mạn bến Bạch Đằng, Sở Thú, dinh Norodom. Tây luôn lựa đất cao ở, họ không chịu được phong thấp của xứ nóng. Vùng cao nhất Sài G̣n là vùng Sở Thú. Cây lớn. Lúc đó mới chỉ là vườn bách thảo. Sau dần mới có đem thú vô. Tây th́ luẩn quẩn ở đó thôi, khu của người Pháp. Bao giờ cũng vậy: nhà ông toàn quyền, dinh Norodom (nay là dinh Thống nhất). Vừa hành chính chen lẫn khu nhà ở. Xây ở tỉnh nào cũng vậy, luôn có nhà ông chánh tức là tỉnh trưởng, rồi đến ṭa án, khám lớn. Dân sang trọng cũng ở gần đó…”

 

Trong kư ức cậu bé, Sài G̣n xưa c̣n nhỏ, ra khỏi là đến Gia Định. Bên kia cầu Thị Nghè là Gia Định. Đakao đă là ngoại ô. Sài G̣n lúc đó nhiều Tây, có tới 50 ngàn người Pháp cai trị toàn Nam Kỳ. Xuống bờ sông là hải quân. Nhà cửa chạy từ Sở Thú xuống tới Đại Sứ quán Mỹ bây giờ, là doanh trại trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 của Pháp 11e Régiment d’ Infanteric Coloniale (11e R.I.C). Ông vẫn c̣n nhớ: “Nhà kiểu doanh trại, nay h́nh dáng gốc vẫn c̣n y nguyên, chỉ sửa bên ngoài”.

 

Xem ra chú bé này nghịch đủ mọi thứ: “Cúng lăng Ông, lẻn vô coi hát bội. Năm nào cũng cúng lớn. Đứng coi ai cao phía sau. Phía trước ngồi. Nam nữ lúc đó c̣n thụ thụ bất thân. Tôi đứng, nhổ nhang sướng lắm. Nhang lớn, bằng cái cẳng cái. Thích Tết. Noel vào nhà thờ Gia Định coi lễ. Ở đó, trước trống trơn, có cả ao hồ, xe điện từ G̣ Vấp, Hóc Môn ra Chợ Lớn. Đi xe điện mấy xu. Muốn đi ciné th́ lên xe điện ra Đakao gần Cầu Bông. Đi sớm chút. Thường đi một ḿnh, hoặc với đứa em gái 8 tuổi. Nếu đi một ḿnh th́ khoái hơn, chui vô mua giấy xe điện. Có nhiều suất coi: 1 tới 3 giờ, 3 tới 5 giờ, 5 tới 7 giờ, 7 tới 9 giờ. Coi suất 3 tới 5 giờ có lợi: ra c̣n coi Tây đầm đi Patin ở góc Đinh Tiên Hoàng, nay xây tùm lum rồi. Coi đă, lên xe về. Chủ nhật th́ đi bộ, cầm cái ná bắn chim. Nhà ở đường Cây Thị (gần Hàng Xanh), trồng toàn cây thị, lúc đó ruộng hết, không có nhà. Chiều mát Tây đầm chạy xe hóng mát ṿng ṿng Hàng Xanh, Cầu Bông, chạy về đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ, về Sài G̣n. Mùa thị chín, phố thơm lắm. 4, 5 giờ sáng đă ra lượm thị. Trái chín vàng bỏ túi thơm như các chị thường làm. Hễ thấy có gió thổi nhiều là chạy ra liền ngồi chờ.

 

Ông già tôi khi rảnh hay đem ra dạy học. Hay đánh lắm. V́ con lười, chơi không. V́ vậy tôi hay trốn đi chơi. C̣n đem theo cả vắt cơm. Đạn để bắn chim th́ ṿ viên tṛn phơi khô bằng đất sét. Ṿ viên bây lớn, se lại phơi khô, để cái bao, bên đây giàn thun, vắt cơm muối mè. Nói là đi chơi chút, là đi luôn. Bắn chim xong tắm. Sông bần mọc đầy. Mà sông sạch lắm, nước trong vắt. Hồi đó có nhà Phú Hữu sản xuất gạch đỏ, rất giàu. Tôi sang đó lấy đất sét nắn nồi, soong, ba ông đầu rau. Củi cây mục bẻ chỗ nào cũng có. Gia Định lúc đó nhiều rừng cao su. Từ chợ Gia Định có đường Chi Lăng mọc cao su, tay trái là mả. Lấy mủ cao su làm banh đá nặng lắm. Rồi bắt cá dưới ruộng. Nghĩa địa thấp, mưa ngập nước, ḥm mục, sọ người trồi lên, cá đẻ vào đó. Hễ thấy bọt, nắm lấy xương sọ đổ rút ra rổ là có cá!”…

 

Đúng là chú bé chơi thật đă, chẳng biết sợ là ǵ. Có lẽ chú đă lục lọi khắp các ngơ  ngách của cái thành phố tuổi thơ của chú không c̣n bỏ sót xó nào. Không có phố nào không có kỷ niệm. Cho tới lúc thành chiến sĩ t́nh báo rồi, đi làm phóng viên cho hăng Reuters rồi, những con phố vẫn chưa thôi “dính dấp”.

 

“Thời kỳ làm cho Reuters, tôi đi làm lái xe ṿng sau dinh Độc Lập. Thời kỳ 1961 - 1962 Lệ Xuân cấm chơi bạc nên các tay chơi phải tụ tập ở quán, cá độ bằng số xe qua lại. Xe tôi đi qua cứ bị ném đá hoài. Có đứa c̣n quát chửi theo, Đ.M cái xe này cứ qua đây hoài! Th́ ra là số tôi số NBC - 253 cộng lại là 10, số bù, đám cá cược gặp xui. Ông Tuyến biết chuyện bảo tôi: “Đi lối khác đi. Tránh đường đó đi”.

 

Đánh bài cào, nhảy đầm, cái ǵ ông cũng chơi cũng thử. Thích nhất là hay chơi ṿng ṿng đây đó. Một lần nhà văn Nguyễn Khải hỏi ông: “Làm nghề t́nh báo giữa cái sống cái chết, ngay trong đầu năo địch, căng thẳng vậy làm sao sống được”. Ổng trả lời: “Chơi!” Và nói giỡn: Đi nhảy đầm ôm mấy cô là quên hết…

 

Cậu bé lớn lên, thành người hoạt động t́nh báo, chứng kiến Sài G̣n trải qua bao rung chuyển đổi thay. Sài G̣n chống Mỹ, Sài G̣n biểu t́nh, Sài G̣n trong bom đạn Mậu Thân, Sài G̣n giải phóng. Từ cậu bé xài những đồng xu đầu tiên bằng đồng điếu, (tiền xưa Bảo Đại lỗ vuông) cho tới hôm nay vẫn chưa thôi “chơi” những “tṛ chơi” của cuộc sống. Vẫn đ̣i hỏi gắng sức cho công việc không hề có kết thúc.

 

Bao nhiêu người bạn bè đi xa đă trở về gặp gỡ, phỏng vấn măi không thỏa măn mong muốn biết rơ về cuộc đời của ông. Kể cả những người đă từng sống với ông nhiều quăng đời quá khứ. Cũng có những người bạn của ông khác chính kiến đă ra đi, hẹn về gặp rồi không bao giờ trở về nữa. Họ đă nằm lại một xứ sở khác, để không bao giờ c̣n được thỏa ḷng mong ước thấy lại Sài G̣n với những con người kiệt xuất của nó như Phạm Xuân Ẩn.

 

Những nhà báo nước ngoài không ngừng miêu tả nhịp sống Sài G̣n hôm nay với đủ cách nh́n. Các nhà khoa học Nhật Bản th́ tính rằng giao thông của thành phố này có thể gặp rắc rối, mật độ dân cư đi lại dày đặc, tốc độ đi lại trung b́nh của xe cộ đă giảm xuống chỉ c̣n 10-12km/giờ. Nhà báo khác th́ so sánh những ṭa nhà cao ốc và thích chụp các ngơ hẻm hơn. Hậu trường của cái thành phố được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 này đă biến đổi. Khách sạn thuộc địa, ṭa thị chính, nhà thờ xây theo kiệu Gô-tích h́nh như đang mờ dần đi sau các cao ốc văn pḥng. Người ta nói tới những chiếc cầu vượt sông, các dự án tuyến đường xe điện, các chung cư và trung tâm thương mại lớn. Khách nước ngoài và Việt kiều có thể đi du lịch ṿng ṿng bằng xích lô để thấy những hàng quán, ḍng người và những biển quảng cáo nhiều màu. Tùy theo cách nh́n mỗi người, họ có thể nói về xây dựng, phát triển, hay là chỉ thấy những bác xích lô đẫm mồ hôi, những người ăn xin tàn tật. Hoặc chỉ thấy các vũ trường, các nhà hàng với món xúp cua, tôm… Tất cả đều đúng với Sài G̣n v́ nó có những thứ ấy trong nhịp điệu tăng trưởng của ḿnh. Chỉ có điều, những doanh nhân ở các liên doanh với Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia hay Singapore, giờ đây đă là một thế hệ mới. Những vũ trường Queen B hay Cheers, Tropical Rainforest Gossiv hay Pink Cadillac… hoặc là các quán ăn uống rực sáng đèn giờ đây không chỉ dành cho những vị khách thời thượng của ngày xa xưa.

 

Thời đại mới, có lớp người mới với những phẩm chất mà lớp người xưa không có. Những ǵ ưu tú của lớp người xưa, bây giờ có thể không giống cái ưu tú của thời nay. Nhiều phẩm chất mới khác đang h́nh thành. Lớp người mới không c̣n phải dùng đến thứ can đảm, chịu đ̣n tra,  hoặc làm những việc chiến đấu đạn bom. Thử thách hôm nay khác. Nhưng vượt lên trên hết, cái chất Việt Nam đă chắt tận ḷng của ḿnh gửi vào con người. Sức mạnh tinh thần đă được truyền đi một cách mầu nhiệm, bí ẩn. Nó mầu nhiệm bí ẩn đến mức ta khó chỉ ra rạch ṛi.

 

Nó giống như là tôi không thể nào chỉ ra nổi trong người t́nh báo Anh hùng Phạm Xuân Ẩn, đâu là phần cái rễ cây đa và nước sông trong mát cho cậu nô nghịch thuở thiếu thời, c̣n đâu là phần của những câu hát ru của bà mẹ, ngọn roi dạy dỗ một cách đớn đau của người cha. Đúng như lời của một triết gia “Linh hồn chính là quá khứ” (L’âme, c’est le Passe). Mà quá khứ của cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc này đă gửi vào các cá nhân của nó bao gồm những ǵ? Đó vẫn là một câu hỏi, một sự khám phá măi không thôi…

 

Với Phạm Xuân Ẩn, cũng có thể lắm, làm nên đời anh hùng, có phần của những quả thị theo gió rơi xuống, thơm lừng trong túi áo. Bên trong hột thị, chú bé vẫn đinh ninh là có con Tấm, con Cám thật… (kỳ cuối, ngày 6/11/06)

 

Nguyễn Thị Ngọc Hải

Trích Tuổi Trẻ Cuối Tuần

NDVN, ngày 21/11/06

 

Click đọc thêm:

 

* Phạm Xuân Ẩn, từ góc nh́n của báo chí Mỹ

* Phạm Xuân Ẩn - Những huyền thoại để lại
* Tiễn đưa nhà t́nh báo lỗi lạc Phạm Xuân Ẩn
* Người Việt thầm lặng

* Thiếu tướng t́nh báo Phạm Xuân Ẩn qua đời

* Làm phim về Phạm Xuân Ẩn

* Một người Việt Nam trầm lặng



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend