NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Sáu Thảo - Nữ Anh Hùng Điệp Báo “Một Ḿnh"


Sáu Thảo - Nữ Anh Hùng Điệp Báo “Một Ḿnh"

 

Sáu Thảo thời công tác tại Văn pḥng tỉnh ủy Thủ Dầu Một.
    Cuộc đời bà, sống chiến đấu gần như định mệnh với con số 1. Mẹ và các anh bị giặc giết, một ḿnh bà đi ở với bà con rồi một ḿnh vào chiến khu hoạt động cách mạng. Khi làm công tác điệp báo, một ḿnh bà một mũi,xây dựng hệ thống giao liên đa chiều cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng không hề bị lộ.

 

    Thời b́nh, bà tự nhận, có lúc "một ḿnh một ư kiến" nhưng thường là ư kiến xác đáng nhất trong  khi bàn phá án. Trước khi chuyển ngành sang làm cán bộ ngành du lịch, bà giữ chức vụ Phó chỉ huy trưởng Lực lượng An ninh CATP HCM. Và bây giờ, người phụ nữ với những chiến công thầm lặng đă thành huyền thoại ấy, với một đời cống hiến, về hạnh phúc riêng tư, bà cũng chỉ một ḿnh...

 

    Con đường đến với cách mạng

 

    Trên bàn thờ căn nhà của bà Sáu Thảo là tấm bia khắc tên những chú, bác, anh, em ruột của bà. Tất cả là liệt sĩ. Mẹ bà - Bà mẹ VNAH, danh hiệu được truy tặng sau mấy chục năm và cũng là... liệt sĩ.

 

    Bà bảo rằng bà quen với cảm giác sống với những người thân đă khuất, sống với những ḍng tên đă lâu lắm rồi. Mới 7 tuổi đầu cô bé Sáu Thảo đă chứng kiến đến 6 cái chết của những người thân yêu trong gia đ́nh ḿnh. Mẹ và anh của bà hoạt động cách mạng và bị giặc Pháp giết hại khi bà mới 4 tuổi.

 

    Một năm sau, giặc Pháp đốt căn nhà nhỏ của gia đ́nh bà ở tỉnh Sông Bé, người anh trai đang đi bộ đội, trước cảnh tang thương của gia đ́nh nên đơn vị tạo điều kiện cho về thăm nhà, về gần đến nơi th́ bị giặc bắn chết. Người cha đau yếu năm đó cũng qua đời. Chị em bà từ đó phải ly tán mỗi người một phương. Bà lên Sài G̣n ở với người d́ ruột, vừa đi học, vừa bán hàng rong để kiếm sống. Một thời gian ngắn sau, bà lại tiếp tục nhận được tin hy sinh của những người thân...

 

    Và rồi, người chồng của d́, cũng bị giặc bắt và tra khảo cho đến chết. Phải chứng kiến thêm một sự hy sinh nữa của người thân, Sáu Thảo quyết định rời Sài G̣n về quê chiến đấu với những kẻ nợ máu với gia đ́nh ḿnh. Tuổi mới chỉ 16, Sáu Thảo đă khai tăng thêm 2 tuổi để đủ điều kiện đi làm cách mạng. Đó là vào năm 1958.

 

    Ngày đầu hoạt động cách mạng, nhiệm vụ của bà là vận động thanh niên đi theo cách mạng và vận động quần chúng đóng góp vật chất để cơ sở hoạt động. Bên cạnh đó, dưới vỏ bọc là cô thợ may cao ráo, xinh xắn và hiền lành, phải tận dụng cơ hội bọn lính trong các đồn bốt gần đó đến tán tỉnh để khai thác những thông  tin cần thiết về t́nh h́nh quân số, vũ khí và những tên ác ôn, kể cả những người tốt trong hàng ngũ của địch để báo cáo với tổ chức.

 

    “Cô thợ may” ấy đă là nguồn thông tin cần thiết để du kích xă Thái Ḥa (Tân Uyên, Sông Bé cũ) tổ chức tiêu diệt ác ôn, cướp vũ khí và đánh thẳng vào đồn địch. Tổn thất nặng, địch đă nghi ngờ nên nguy cơ bị lộ đến rất gần, Sáu Thảo đă chủ động xin tổ chức được thoát ly vào vùng kháng chiến.

 

    Vào vùng giải phóng, bà được bố trí làm văn thư đánh máy tại Văn pḥng Tỉnh ủy Thủ Dầu Một. Đến tháng 3/1967, do yêu cầu bức thiết từ chiến trường miền Đông, cô văn thư nổi tiếng cẩn thận ấy được Khu ủy miền Đông xin về để tăng cường cho công tác an ninh. Căn cứ Khu ủy lúc đó ở chiến khu D, nổi tiếng gian khổ, thiếu ăn, thiếu mặc và sốt rét hoành hành. Gia đ́nh và bạn bè thương bà phận gái, muốn xin bà ở lại Văn pḥng Tỉnh ủy v́ họ nghĩ công việc đó sẽ phù hợp với bà, nhưng chính bà lại quyết đi.

 

    Ở chiến khu D, Sáu Thảo vẫn tiếp tục làm công tác văn pḥng kiêm công tác đoàn thể. Do nhiệm vụ nào bà cũng hoàn thành xuất sắc, lại kín đáo, cẩn thận nên tháng 10 năm ấy (1967), bà được cử đi học lớp Trinh sát thuộc Trường An ninh miền Nam. Ra trường với kết quả xuất sắc, đạo đức tốt và có lai lịch ở Sài G̣n, bà được tổ chức phân về công tác tại Ban điệp báo miền Nam dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Sáu Ngọc.

 

    Với nhiệm vụ là bằng mọi cách vào hoạt động hợp pháp tại Sài G̣n, Sáu Thảo được phân công xây dựng mạng lưới giao liên hai chiều để vào nội đô Sài G̣n và móc nối cơ sở của ta ra gặp lănh đạo. Nhiệm vụ này được phân công cho 3 mũi, một ḿnh bà một mũi, c̣n hai mũi kia, mỗi mũi có 3 người và người đảm nhiệm là nam giới. Bà được cấp một tháng sinh hoạt phí, một khẩu súng ngắn và đặc biệt là một ḿnh thi hành nhiệm vụ. Sáu Thảo núp dưới vỏ bọc là một người “vợ lính” khi hoạt động nội đô và là một người buôn bán khi ra vùng giáp ranh.

 

    Nơi hoạt động chính của bà là huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh và nhiệm vụ trực tiếp là phải tự t́m đầu mối xây dựng cơ sở đi vào Sài G̣n. Ngay từ đầu, bà đă nghĩ đến gia đ́nh một người nông dân ở huyện Bến Cầu làm nơi dừng chân và bằng mọi giá phải lấy cảm t́nh của chị vợ để từ đó xây dựng lực lượng giao liên.

 

    Công việc hằng ngày của Sáu Thảo là đi chợ, làm rẫy, nấu cơm và chăm sóc con cái của gia đ́nh ấy. Thời gian đầu, một ḿnh bà lặng lẽ nắm t́nh h́nh. Về sau, khi vợ của chủ nhà coi bà như chị em trong gia đ́nh, bà bắt đầu làm quen với người dân. Qua công tác nắm t́nh h́nh, bà đă xây dựng được người em gái của vợ đồng chí Phó Bí thư huyện Bến Cầu vào làm giao liên.

 

    Tiêu chí chọn giao liên nữ của Sáu Thảo là phải chọn người tốt, trung thành, biết chữ, thông minh để có khả năng ứng phó mọi t́nh huống và đặc biệt, về nhan sắc chỉ... vừa phải để không bị bọn lính tráng cḥng ghẹo. Cô gái được chọn đầu tiên không nằm ngoài những tiêu chí đó. Với những thử thách ban đầu là việc “gửi mua” những đồ dùng cá nhân, thuốc men rồi dần tiến đến nhờ “t́m” những địa chỉ nội thành. Chỉ sau hai tháng, bà đă có được một người đồng chí thường xuyên vào nội đô đúng yêu cầu của cấp trên.

Từ đầu mối này, bà nhân rộng ra. Cứ thế, bà dần dần xây dựng được mạng lưới giao liên để đáp ứng yêu cầu liên lạc từ vùng kháng chiến đến vùng địch hậu và chiều ngược lại. Bên cạnh đó bà c̣n xây dựng một mạng lưới dự bị đề pḥng mạng lưới trên bị lộ.

 

    Đặc biệt, thời gian ra, vào nội đô bà đă xây dựng được 2 hộp thư quan trọng là H6 và hộp thư Cây Quéo, trong đó hộp thư H6 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng 3. Mạng lưới giao liên do Sáu Thảo xây dựng cho đến ngày miền Nam giải phóng vẫn không hề bị lộ, mặc dù “người cầm đầu” này đă hai lần bị địch bắt và tra tấn rất dă man.

 

    Đó là vào tháng 3/1969. Trong một lần vào nội thành để gặp và truyền đạt chỉ thị cấp trên cho cơ sở điệp báo, qua ngă ba Hóc Môn bà bị địch phát hiện sử dụng căn cước giả. Khi bị bắt, lợi dụng lúc đông người, Sáu Thảo đă kịp thời nhai tài liệu mật và nuốt luôn vào bụng.

 

   Dù bị bắt v́ tội sử dụng giấy tờ giả nhưng địch vẫn nghi ngờ bà là “Việt Cộng” dù chúng không có chứng cứ để buộc tội. Những ngày sau khi bị bắt, chúng đă đánh đập để buộc Sáu Thảo khai báo nhưng bà đă chuẩn bị tinh thần chịu đựng và một mực khai là đi buôn làm mất giấy tờ, nhờ người làm giùm nên không biết đó là căn cước giả. Sau một tuần “tra tấn ban đầu”, không khai thác được ǵ, chúng tiếp tục đưa bà về giam ở bốt Hàng Keo (Gia Định).

 

    Suốt 4 tháng trời, cuộc sống của bà là những ngày ở xà lim, tra tấn điện, đổ nước xà pḥng vào miệng, d́m nước, ghim kim vào mười đầu ngón tay bà... Nhưng tất cả đều vô hiệu, chúng đành chuyển bà về đề lao Gia Định chờ ngày đưa đi xét xử.

 

    Những ngày ở đề lao, cực h́nh giảm bớt, với kinh nghiệm của một người làm công tác điệp báo, bà tranh thủ thời gian tuyên truyền cho những bạn tù đấu tranh vạch trần những tên chỉ điểm của địch cài vào tù ngấm ngầm hại chị em. Sau 4 tháng ở đây, bà được đưa về Tây Ninh chờ xét xử. Tuần đầu tiên, chúng tiếp tục thẩm vấn. Tất cả đều một lời khai: “Tôi là vợ lính...” và sự chịu đựng những cơn tra tấn. “Tội lỗi cuối cùng” mà cái ṭa án đó đưa ra cũng chỉ là... xài căn cước giả và kết án bà 5 tháng tù nhưng lúc này bà đă chịu cực h́nh được... 6 tháng!

 

    Khi ra tù, bà về thẳng đơn vị cũ. Tháng 10/1969, đơn vị chuẩn bị về hoạt động ở vùng Mỏ Cày, Bến Tre, bà được phân công nhiệm vụ để xây dựng bàn đạp vào nội thành. Như những lần trước, bà lại đi một ḿnh nhưng khác là, đi không có giấy tờ tùy thân. Bà sử dụng tấm giấy ra tù. Lại vẫn cái vai đă quen thuộc, giả người buôn bán nhỏ trà trộn vào dân để đi xuống Bến Tre.

 

    Từ Bến Tre, bà một ḿnh mày ṃ bắt liên lạc với cơ sở để báo cáo t́nh h́nh trong một tuần sau đó, tự lo chỗ ăn ở và hoạt động. Nhưng lúc này, việc đi lại và “buôn bán” hợp pháp không đơn giản bởi bà không có giấy tờ tùy thân. Yêu cầu cấp bách đối với bà lúc này là làm thế nào để có được giấy căn cước thật?

 

    Sau khi rời cơ sở, bà về ấp Giông Dầu, xă Cái Mơn, huyện Mỏ Cày tá túc tại nhà ông Bí thư chi bộ xă hoạt động bí mật, trong vai người cháu họ của ông. Tại đây, bà lân la làm quen với một gia đ́nh hàng xóm, bà chủ nhà trước đây từng là một chủ chứa, có quan hệ rộng răi với những nhân vật tai to mặt lớn trong chính quyền Sài G̣n. Hàng ngày, Sáu Thảo giúp bà việc gánh nước, nấu cơm, làm đồng, đi chợ và tất cả những việc có thể dù nhỏ nhất.

 

    Trong một thời gian ngắn, Sáu Thảo đă lấy được ḷng tin của người phụ nữ này và bà ta đă rất thương cho hoàn cảnh “bị chồng bỏ, trôi nổi, mất giấy tờ không có giấy tờ đi làm ăn” của... Sáu Thảo!

 

    Bà đă nhờ mấy tên chính quyền xă chứng nhận Sáu Thảo là người địa phương bị thất lạc giấy tờ, rồi giới thiệu đến tay phụ trách hành chánh huyện để qua được “khâu huyện”. Khi qua khâu huyện lên tỉnh, bà móc nối với người ở hộp thư Cây Quéo và móc nối đường dây bố trí gặp được tên trưởng ban làm căn cước của tỉnh Bến Tre.

 

    Thế là bà đă có trong tay tấm căn cước thật, lấy tên của mẹ ḿnh. Qua những khâu làm căn cước như vậy, bà đă lân la làm quen và h́nh thành một đường dây làm căn cước thật sau đó bà nhờ vả làm căn cước cho một số đồng chí khác như Sáu Ngọc, Năm Thạch, Đỗ Việt Dũng và y sĩ của đồng chí Mai Chí Thọ cùng với 5 căn cước của giao liên trong cụm điệp báo. Đường dây vẫn bảo đảm  an toàn và căn cước sử dụng tốt.

 

    Năm 1970, theo yêu cầu của lănh đạo, Sáu Thảo được giao nhiệm vụ đưa đồng chí Năm Xuân (tức đồng chí Mai Chí Thọ, lúc này là Phó Bí thư Thành ủy Sài G̣n - Gia Định) từ Bến Tre xuống Trà Vinh rồi về Hồng Ngự (Đồng Tháp) đến biên giới Campuchia. Kế hoạch được đặt ra là bố trí cho đồng chí Năm Xuân giả làm chủ đồn điền đi bằng tàu trên sông cùng với một đồng chí nữ giao liên. C̣n Sáu Thảo và một đồng chí điệp báo nam đi bằng xe ôtô song song để kịp thời xử lư những t́nh huống bất trắc xảy ra.

 

    Kế hoạch được duyệt, đồ đạc chuẩn bị đầy đủ nhưng khi kiểm tra lại, Sáu Thảo thấy đồ đạc của đồng chí Năm Xuân không phù hợp với vai ông chủ đồn điền. Bà đề nghị thay trang phục cho phù hợp và với kế hoạch, đồng chí Năm Xuân đă đến biên giới Campuchia an toàn và đúng với thời hạn dự định.

 

    Gần tết năm 1970, đồng chí Sáu Ngọc phân công Sáu Thảo đi nắm t́nh h́nh hoạt động của cảnh sát từ huyện Thạnh Phú, Bến Tre đến Mỹ Tho lên Sài G̣n để chuẩn bị cho các đồng chí lănh đạo vào nội thành công tác. Theo kế hoạch, trong 10 ngày phải hoàn thành nhiệm vụ.

 

    Với nhiều vai hóa trang từ người đi buôn, người bán hàng rong, người từ Sài G̣n xuống Bến Tre thăm người thân, bà đă đi liên tục 3 chuyến. Đến chuyến thứ 4, lúc quay về gặp sóng lớn, tàu bị ch́m. Rất may, những người dân chài đă kịp thời đưa thuyền cứu bà và 30 người nữa cùng con tàu lên bờ an toàn.

 

    Sau lần bị ch́m tàu, Sáu Thảo sợ sông nước. Ngày thứ 5, thứ 6... thứ 8 đi về an toàn. Đến ngày thứ 9, khi về gần đến đơn vị th́ trời tối nhưng đúng hẹn bà phải có mặt ở điểm giao liên để về căn cứ. Khi tới nơi, bà phát hiện căn cứ đang bị địch bố ráp. Nhưng bằng mọi cách, bà phải qua sông. V́, ngày thứ 10, lănh đạo phải lên đường!

 

    Kế hoạch được thực hiện đúng theo quy định thời gian, bước đầu, đồng chí Sáu Ngọc sẽ ghé làm việc ở Bến Tranh (tỉnh Mỹ Tho cũ) rồi mới đi tiếp. Nơi đây, lực lượng giao liên có một hộp thư bí mật mà thủ trưởng Sáu Ngọc đă hẹn trước sẽ có một cuộc gặp bí mật tại đây.

 

    Khi xe đến Bến Tranh, không thấy tín hiệu an toàn, đồng chí Sáu Ngọc vẫn đề nghị xe dừng lại để đi bộ đến v́ đă hẹn với anh em. Với tư cách là người bảo vệ, Sáu Thảo quyết không để xe dừng lại và đề nghị đồng chí Sáu Ngọc không được đi bộ xuống. Chiếc xe lướt đi và khi về đến nội thành an toàn, cơ sở báo tin Bến Tranh bị lộ và địch đang đón lơng ở đó để chờ “bắt cả cụm”.

 

    Đầu năm 1971, bà được phân công quay trở lại nội đô để móc nối cơ sở, t́m cách cứu một đồng chí lănh đạo an ninh của ta mới bị địch bắt. Trước khi lên đường, đồng chí Sáu Ngọc gửi thư tay cho bà giới thiệu vào cơ sở của một cụm điệp báo khác. Trên đường từ Hồng Ngự về Sài G̣n, Sáu Thảo và một nữ giao liên đường ngắn bị địch theo dơi và chúng bắt cả hai người. (kỳ Ị ngày 19/7/07)

 

  

 

 

Sáu Thảo hóa trang trước khi đi xây dựng cơ sở năm 1971.
    Tuy không bất ngờ khi bị rơi vào tay giặc, nhưng bị bắt trong trường hợp với một người nữa là một bài toán khó trong việc nghĩ ra cách đối phó với địch của Sáu Thảo. Hơn nữa, khác với lần bị bắt trước, bà không thể thủ tiêu tài liệu được. Chúng đă phát hiện trong ống kem là tài liệu liên lạc mà đồng chí Sáu Ngọc đă viết cho Sáu Thảo.

 

    Kỳ II: Xây dựng cơ sở điệp báo trong ḷng địch

 

    “Không được phép lúng túng” - Sáu Thảo tự nhủ ḿnh và bà nghĩ ngay đến việc chúng có thể tách riêng hai người để khai thác, phát hiện ra những điều mâu thuẫn trong lời khai. Địch hỏi cung đồng chí nữ giao liên trước, nhưng Sáu Thảo đă nhanh nhẹn cướp lời.

 

    Khi Sáu Thảo chưa nói hết câu th́ tên cảnh sát đấm vào miệng bà làm bà ngă xuống đất và găy mấy cái răng. Thấy máu chảy nhiều, chúng để người giao liên cầm máu cho Sáu Thảo. Dù rất đau nhưng bà vẫn tranh thủ nói nhỏ với đồng đội: “Cứ khai tôi là người lỡ đường không biết nhau để tôi dễ đối phó”.

 

    Khi chúng quay lại tách riêng hai người ra để tra hỏi, đến trưa, đồng chí giao liên được thả c̣n bà vẫn bị chúng giam giữ. Chứng cứ sờ sờ, tài liệu c̣n đấy, bà nghĩ vậy và... chuẩn bị lời khai và tinh thần hứng chịu những đ̣n tra tấn khốc liệt. Suốt gần 1 năm, cứ hàng tuần, thậm chí hàng ngày, bà đă quá quen với ḱm kẹp, tra tấn điện, châm kim ngón tay... C̣n địch đă quen với những lời “không biết” và một mực kêu oan của người phụ nữ bị chúng tra tấn.

 

    Có lần dùng điện tra tấn, chưa đă, chúng đổ nước xà pḥng, tưởng như bà đă chết, rồi quẳng bà ra hành lang. Những tù nhân thường phạm đă hô hấp và sơ cứu ban đầu giúp bà vượt qua được bàn tay tử thần, khi tỉnh dậy bà thấy ḿnh nằm trong pḥng giam tăm tối. Những ngày trong nhà tù, bà tranh thủ thời gian tiếp cận với những phạm nhân nữ, nhất là những người không có người thân thăm nuôi và dạy họ đan len.

 

    Từ t́nh cảm đó, bà đă làm  quen và xây dựng được cơ sở là người thân của người bạn tù. Sau khi được tha, bà đă tranh thủ về nhà của người đó để xây dựng cơ sở. Về sau, người  này trở thành giao liên của đơn vị cho đến ngày giải phóng.

 

    Về những tài liệu trong ống kem, bà khai, có một người quen nhờ đưa một túi hàng cho gia đ́nh, trong đó có ǵ bà không biết. Người quen đó ở vùng giáp ranh. Ông ta là một bác sĩ nhưng v́ trốn quân dịch nên phải chạy đến vùng đó để trốn lính và làm... bác sĩ vườn. Ông có nhờ bà vào nội đô nhận giùm một túi đồ của người d́ ruột gửi, bà chỉ đến chỗ hẹn nhận giúp. Giờ người d́ đó nhà ở đâu và tên ǵ bà không biết. C̣n người bác sĩ ấy, dĩ nhiên là địch không thể chạy vào vùng đó để điều tra được.

 

    1 ngày, 1 tuần, 1 tháng và gần 1 năm cuộc thi gan vẫn không có hồi kết và chúng cũng không  thể kết tội được bà, không thể khẳng định là tội nặng đến cỡ nào nên chúng đă viết vào hồ sơ tội danh “t́nh ngay lư gian”. Tháng 11/1971, Nguyễn Văn Thiệu đắc cử Tổng thống “Việt Nam cộng ḥa” lần thứ 2 và tiến hành một đợt ân xá với phạm nhân nhẹ tội. Bà Sáu Thảo được chúng thả vào khoảng thời gian ấy v́ chúng không khai thác được ǵ.

 

    Sau khi ra tù, lại có kinh nghiệm của một người có thể xây dựng được cơ sở trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Sáu Thảo được tổ chức phân công xây dựng cơ sở điệp báo trong tổ chức địch để nắm t́nh h́nh. Đối tượng cần phải nắm là giới sinh viên, trí thức ở những cơ quan đầu năo của giặc.

 

    Tuy nhiên, bà nhận  thấy nhiệm vụ này rất khó khăn với ḿnh, v́ bà chỉ là một cô gái thôn quê mới học hết bậc đệ nhị, thoát ly vào rừng, chiến đấu nhiều năm, giờ quay lại thành phố hoạt động hợp pháp và tiếp cận với những trí thức học cao hiểu rộng là một việc làm quá sức.

 

    Điều đầu tiên mà cần phải có, đó là uy tín với đối tượng tiếp cận và một chỗ đứng vững chắc ở nội đô. Nhưng quan trọng vẫn là chỗ ăn, ở đàng hoàng và một việc làm hợp pháp. Việc làm lúc này vẫn là một lái buôn, thường buôn dừa khô từ miền Tây lên Sài G̣n và nơi thường trú là số 6 Đặng Đức Siêu, quận 1 và 135/7 phường 13, quận Phú Nhuận. “Lái buôn” này vẫn “buôn bán” b́nh thường nhưng thực tế là những cuộc vận động xây dựng các cơ sở điệp báo tại Sài G̣n. Một ḿnh lặn lội, ṃ mẫm kiếm t́m để sớm xây dựng lực lượng bí mật có thể hoạt động... b́nh thường và “uy tín” với địch.

 

    Từ đầu năm 1972, bà đă xây dựng được nhiều cơ sở, đa số là giao liên, cơ sở ăn ở, để hoạt động bí mật... Góp phần h́nh thành được 3 cụm điệp báo quan trọng: cụm số 6, cụm Z8 và cụm Z7.

 

    Các cơ sở nội đô có “gốc rễ” hoặc quan hệ thân thiết, an toàn tin cậy với chính quyền Sài G̣n. Nhưng để t́m kiếm được họ quả là một vấn đề không đơn giản. Qua những đầu mối giới thiệu, bà nắm được những nhân vật hiện công tác trong các cơ quan của chính quyền Sài G̣n, họ đa số là những nhà trí thức có tinh thần yêu nước. Có lần được giới thiệu 10 nhân vật, bà không chọn được người nào để xây dựng cơ sở.

 

    Nhưng cũng có những lần xây dựng được 2 đến 3 cơ sở. Công việc đầu tiên là phải nắm được lư lịch của họ, có những người thân ở đâu, những người thân nào là cách mạng. Qua tiếp cận với những người thân cách mạng, biết được nguyện vọng của những nhân vật ấy, họ có tư tưởng tiến bộ và thiện cảm với cách mạng như thế nào sau đó là bước tiếp cận đối tượng chính.

 

    Khi tiếp xúc đối tượng, Sáu Thảo ăn vận lịch sự để tương xứng với những nhân vật bà sẽ tiếp xúc. Bà lấy những lư do để gặp họ, thường là “chị của một người bạn học ở nước ngoài tên X, Y, Z nào đó nhờ chuyển quà”...

 

    Qua tṛ chuyện, bà đi thẳng vào vấn đề chính. Ư thức được ḿnh, bà nói rằng bà xuất thân trong một gia đ́nh b́nh dân, học hành có hạn, bà chỉ làm cầu nối  giữa những nhân vật này với cách mạng. Và rất may mắn, những nhân vật này họ hợp sức và cái họ quan tâm nhất là được đến với cách mạng chứ không quan tâm là người tiếp cận học nhiều hay học ít, xuất thân trong gia đ́nh thế nào.

 

    Trong  số các cơ sở của bà, có “Z7” là Phó tiến sĩ du học ở nước ngoài về, được cài vào một cơ quan của Tổng ủy Dân vận chiêu hồi. Cơ sở này đă tạo được chỗ đứng hợp pháp, được sự tin tưởng và chi phối Chủ tịch Thượng nghị viện Phạm Như Phiên thực hiện những công việc có ích cho cách mạng, tạo điều kiện cho đấu tranh hợp pháp của trí thức ủng hộ cách mạng trong thành phần thứ ba. Bên cạnh đó, “Z7” c̣n tiếp cận Trần Quốc Bửu, vừa chi phối, vừa tác động, vừa nắm t́nh h́nh chủ trương của Bửu đối với từng nghiệp đoàn, qua đó, tác động có lợi cho cách mạng.

 

    Cơ sở “Z8” tiếp cận những trí thức, học sinh, sinh viên thân Bảo Đại, thân Pháp và tiếp

Anh hùng Sáu Thảo hiện nay

cận dân biểu Trần Quang Thuận với yêu cầu nắm t́nh h́nh và kiềm chế sự ác ôn của Thuận. “Z8” là người khéo léo, nhanh nhẹn, thu thập được rất nhiều tin tức và đặc biệt có một sức tác động lớn đối với lực lượng thanh niên, sinh viên yêu nước đứng về phía cách mạng đấu tranh với chính quyền Thiệu.

 

    Bên cạnh những cơ sở trên, Sáu Thảo c̣n xây dựng và điều khiển một số cơ sở đặc biệt. Có thể kể đến cơ sở có bí danh “Diệu”, cũng du học nước ngoài về. “Diệu” được cài vào Tổng ủy Dân vận chiêu hồi của Hoàng Đức Nhă. Đây là một trọng điểm quan trọng mà ta cần nắm được về những thông tin, tài liệu của ta bị địch phát hiện. Đặc biệt, với nhiệm vụ quan trọng này, “Diệu” cũng nắm được thông tin về những người trong hàng ngũ cách mạng đă đầu hàng phản bội làm tay sai cho giặc.

 

    Trong khoảng thời gian hoạt động, “Diệu” đă được tổ chức đánh giá là một trong những cơ sở xuất sắc nhất. Sau đó, tổ chức t́m cách để “Diệu” có điều kiện chui sâu, leo cao, trong Tổng ủy Dân vận chiêu hồi.

 

    Tại Nha Kế hoạch Chính phủ Thiệu, Sáu Thảo đă xây dựng được một cơ sở có bí danh “Cường”, là một tiến sĩ khoa học. “Cường” nằm ở vị trí chuyên nghiên cứu về b́nh định và kế hoạch hậu chiến. Tại vị trí này, dưới sự chỉ đạo của ta, “Cường” đă thu thập và cung cấp nhiều thông tin chính xác, kế hoạch quan trọng về b́nh định nông thôn và kế hoạch hậu chiến của Mỹ - ngụy. Từ những thông tin đó, lănh đạo an ninh nắm được t́nh h́nh phục vụ kế hoạch để đối phó và vận động phản công lại kẻ thù.

 

    Để nắm được những chủ trương, chiến lược của Thiệu, Sáu Thảo xây dựng và điều khiển cơ sở "Trúc". “Trúc” có nhiệm vụ tiếp cận Trương Quang Đáng là một nhân vật trong nội các của Thiệu. Ở vị trí này, “Trúc” đă thu thập được nhiều tài liệu nguyên bản về kế hoạch b́nh định và kế hoạch hậu chiến toàn miền Nam chuyển về chiến khu phục vụ yêu cầu trước mắt và lâu dài của cách mạng. Cho đến những năm sau ngày giải phóng, những tài liệu này vẫn c̣n nguyên giá trị trong việc góp phần bóc trần mạng lưới mật báo viên của địch c̣n cài lại.

 

    Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, cần có sự phối hợp hành động giữa các chiến trường trên tất cả các lĩnh vực. Sáu Thảo được đồng chí Trần Quốc Hương, lúc đó là Trưởng ban An ninh Sài G̣n - Gia Định giao nhiệm vụ phải xây dựng một cơ sở trong Nha Viễn thông của ngụy để có thể thực hiện việc cúp điện, vô hiệu hóa rađa khu vực đèo Hải Vân và núi Bà Đen. Nhiệm vụ được thực hiện trong thời gian 6 tháng. T́m một cơ sở cho nhiệm vụ này không hề đơn giản bởi nó sẽ góp phần quyết định giờ phút quan trọng của lịch sử.

 

    Cuối cùng th́ Sáu Thảo t́m được một người với bí danh “Hô”.

 

    “Hô” làm việc tại Nha Viễn thông Sài G̣n. “Hô” không trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, ông bàn với Sáu Thảo chọn trực tiếp một kỹ thuật viên chịu trách nhiệm về an toàn đường dây. Lănh đạo phân công Sáu Thảo cùng cơ sở này phải thực hiện nhiệm vụ  trong ṿng 6 tháng nhưng chỉ mới 3 tháng, bà đă xây dựng được một cơ sở nữa thông qua “Hô” và thực hiện thành công nhiệm vụ được giao.

 

    Sáu Thảo c̣n xây dựng một cơ sở có bí danh “Thông”. “Thông” có nhiệm vụ đi sâu nắm về lực lượng an ninh t́nh báo của Nha Cảnh sát đô thành, Tổng nha Cảnh sát, cung cấp tin tức, danh sách phục vụ cho ta một cách đầy đủ, trước mắt giúp ta tháo gỡ mạng lưới địch trong nội bộ ta trên địa bàn miền Nam và cả nước.

 

    Để sống hợp pháp giữa nội đô nhưng ngày ngày phải qua lại nắm t́nh h́nh các cơ sở, Sáu Thảo khi là một người giúp việc nhà, khi là cô bán hàng rong, người bà con ở quê lên, rồi thợ may... Tất nhiên, để hoạt động được hiệu quả th́ vấn đề tài chính cũng phải đảm bảo. Bà đă tự tổ chức tài chính bằng cách thành lập một bộ phận làm kinh tế (làm tổ điện lạnh) để lấy tiền chi phí cho hoạt động.

 

    Thời điểm gần đến ngày giải phóng, chủ trương của cấp trên là tất cả mạng lưới điệp báo phải quán triệt cho cơ sở tinh thần: cố gắng giữ nguyên hiện trạng về cơ sở vật chất và tài liệu trong các cơ quan, cơ sở đă được cài cắm vào, đặc biệt là hồ sơ tài liệu của các trung tâm như: Nha Cảnh sát đô thành, Tổng nha Cảnh sát quốc gia, Bộ Dân vận chiêu hồi...

 

    Đến ngày giải phóng, mạng lưới cơ sở điệp báo do Sáu Thảo xây dựng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Riêng chỉ có cơ sở “Phát” được cắm vào pḥng mật mă của Tổng nha Cảnh sát, v́ cố gắng giữ lại máy móc và tài liệu, nên bị quân giải phóng hiểu lầm bắt giữ, Sáu Thảo đă đến bảo lănh.

 

    Năm 1973, đồng chí Năm Thạch, một cán bộ cao cấp của Lực lượng Công an vào nội thành hoạt động bị địch phát hiện và bao vây. Thấy nguy hiểm và t́nh thế quá gấp rút nên Sáu Thảo không kịp xin ư kiến cấp trên,  đă quyết định tổ chức đưa đồng chí Năm Thạch ra vùng giải phóng. Dù biết làm vậy là sai nguyên tắc, nhưng bà vẫn thực hiện kịp thời và an toàn. Về sau, bà được lănh đạo đánh giá là làm việc mưu trí và nhạy bén.

 

    Tháng 3/1975, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đơn vị của bà từ Long Khánh được chuyển về Đức Huệ - Long An. V́ phải điều khiển mạng lưới cơ sở nên bà được tổ chức phân công vào hẳn nội đô từ ngày 10/4/1975 để sát cánh cùng các cơ sở phục vụ chiến dịch giải phóng Sài G̣n.

 

    Cho đến ngày giải phóng, toàn bộ các cơ sở điệp báo của Sáu Thảo không ai bị địch bắt. Họ vẫn giữ vững nguyên tắc bảo mật và sẵn sàng nhận nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới - giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xă hội chủ nghĩa. ( kỳ II, trọn bộ, ngày 17/7/07)

 

 

Trích ANTG, Hoàng Nguyên Vũ ( theo lời kể Anh hùng Nguyễn Thị Thảo)

NDVN, ngày 30/10/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend