NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIIC)


Từ ngày 21/4/75 cho đến ngày 28/4/75, có biết bao nhiêu những diễn biến...Tổng thống Ford tuyên bố, trong một bài diễn văn tại trường đại học Tulane…chiến tranh Đông Dương đă chấm dưt…và quan  thái thú Martin nhấn mạnh::

 

“…Nhà Trắng cố dập tắt những lời công kích ấy bằng cách hứa một lần nữa, sẽ rút cộng đồng người Mỹ xuống c̣n 1.500 người trong mấy ngày tới. Lầu Năm Góc cho biết hạm đội di tản sẽ được tăng cường để có một cầu hàng không lớn máy bay lên thẳng sẵn sàng phục vụ. Những điều đó chưa làm quốc hội vừa ḷng. Nhiều nghị sĩ phê phán chính phủ muốn nhảy vào một cuộc chiến tranh mới. Phía Bắc Việt Nam cũng bất b́nh. Đài phát thanh Hà Nội cảnh cáo: “Thái độ ấy có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm”. Trong một bài diễn văn đọc chiều thứ tư ở Trường đại học Tulane, tổng thống Ford (tr.272) cố đánh tan những điều lo ngại ấy. Ông tuyên bố: đối với Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Đông Dương đă chấm dứt, ông đề nghị đất nước thôi không lao vào những cuộc đấu tranh, tranh căi như trước....

 

Martin chấp hành lệnh của Kissinger rất nghiêm chỉnh và tin rằng.nhân viên của ông cũng làm như thế. Khi Polgar xin phép đi mua một số nghị sĩ Sài G̣n để mau chóng đưa Minh lên cầm quyền th́ Martin không muốn nghe nói nữa. Ông nhấn mạnh: Người Nam Việt Nam phải quyết định lấy số phận của họ theo cách của họ, không có sự can thiệp của người Mỹ!....

 

Thế mà ông Hương vẫn c̣n tham vọng mơ màng như được làm quốc trưởng thật, nên đă tố Thiệu đă trốn tránh trách nhiệm. nay trách nhiệm thuộc về ông, để ông ta thương thảo với Cộng sản thật là ngây thơ chính trị.

 

"C̣n Hương, khốn khổ cho anh chàng giữ nhà ấy, vẫn có tham vọng đóng vai quốc trưởng, mà ông tưởng làm quốc tưởng thật. Hương nói với đại sứ Pháp Merillon: Thiệu đă trốn tránh trách nhiệm. Nay trách nhiệm thuộc về tôi. Để tỏ rơ quyền lực của ḿnh, Hương ra lệnh gỡ những băng và áp phích chống cộng trong thành phố…

 

Sáng thứ năm 24 tháng 4, Hương c̣n lợi dụng cả sự thất trận để nêu cao đạo đức hoà b́nh của ḿnh. Ông nói với Viên ra lệnh cho quân đội chỉ pḥng thủ thôi để tỏ rơ cho cộng sản biết chủ trương ḥa b́nh thật sự của Sài G̣n.

 

Hôm trước, chỉ mấy giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III c̣n gợi ư đề nghị máy bay B-52 của Mỹ ném một trận bom cuối cùng Viên đă gạt bỏ ư kiến ấy do nhiều nguyên nhân biển nhiên. Khác với Toàn, ông biết không c̣n máy bay (tr.274) B-52 nữa. Nhưng gợi ư làm hắn nghĩ đến những trận ném bom hồi trước. Được sự giúp đỡ của kỹ thuật viên phái bộ quân sự Mỹ, phi công Nam Việt Nam đă lắp vào máy bay một loại bom đặc biệt do Von Marbod và Weyand đưa sang hồi đầu tháng: đó là một vũ khí đáng sợ: bom CBU-55.

 

Vũ khí ấy gây khủng khiếp chiều thứ ba. Một máy bay C-130, mang theo bom CBU-55 cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất hay về Xuân Lộc, ném xuống bên ngoài một thị trấn cộng sản vừa chiếm được. Thiệt hại nằng nề. Hơn 250 lính Bắc Việt Nam biến thành tro bụi hoặc bị chết ngạt v́ thiếu không khí lúc bom nổ. Đài phát thanh Hà Nội lập tức lên án Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là đồ man rợ, ném bom vi trùng!....

 

Không những thế tên sáu Thiệu  vẫn c̣n mơ tưởng sẽ giành lai quyền lực và nếu ra đi phải có diễn tuồng nghi lễ long trọng và oai nghi trống giọng…

 

“…Từ ngày từ chức (ngày 21 tháng 4), Thiệu để th́ giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông ta nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hăi, không c̣n chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm, bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em họ của Thiệu. Đại sứ của Sài G̣n ở Đài Loan trở về mước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe. Ông ta nghĩ rằng ông ta c̣n giữ một vai tṛ ǵ đó ở đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhă: Nếu tôi phải ra đi, tôi sẽ đi với đoàn tuỳ tùng có trống giong cờ mở!

 

Nhưng đâu ngờ, Sáu Thiệu và Khiêm lại trốn chạy nhục nhă vô cùng như thế…Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc và quan thái thú Martin, tiễn  “em Thiệu” đi chưa bao giờ buồn thế, chỉ có lời “chào tạm biệt…và tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, được tướng Smith mô tả: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường…cho chúng ta thấy bọn Việt gian này chiến bại là phải và  đáng thương

 

“…17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến pḥng làm việc. Ở đấy, đă có Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẻ hỏi chúng tôi: Ban đêm, các anh có dám ra ngoài phố không? Chúng tôi đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết các ngơ ngách và những cái hẽm do người Pháp xây dựng không, những dù sao...Polgar tiếp tục nói: “Thế th́ tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với các anh, đồng thời là một phần thưởng v́ các anh đă làm việc rất tốt”….

 

….Mấy lính khác chơi bài. Phần đông tỏ ra không để ư ǵ đến việc đi lại của bọn “mũ cao áo dài” này. Có tiếng súng nổ ở phía sân bay. Đài radio trong một xe báo cho chúng tôi biết: hai lính Nam Việt Nam cáu kỉnh đă bắn súng ở đây: “Không thiệt hại ǵ, nay t́nh h́nh yên tĩnh. Đúng lúc đó, một xe Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn Thiệu giống một người mặc quần áo mẫu (tr.283) quảng cáo trong một tạp chí là một cựu nguyên thủ quốc gia. Ông ta không thèm nh́n chúng tôi!

 

Mấy phút sau, mấy người lực lượng, mỗi người xách một vali nặng, đi đến chỗ chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va ly vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim loại va vào nhau.

 

Tiếp đó Thiệu, Khiêm, Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp Nam Việt Nam, bước ra cửa tiến nhanh vào xe hơi. Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn….

 

Timmes hỏi: “Phu nhân và tiểu thư có khoẻ không ạ?” Thiệu trả lời: - Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ. Tôi nh́n rơ mặt cựu tổng thống qua tấm kính xe, mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth thoáng bay trong xe có máy điều ḥa không khí.

 

Đến gần cổng vào sân bay Tân Sơn Nhất, đèn pha xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức tường do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có ḍng chữ: “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người lính đồng minh”. Thiệu thở dài khá to và quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp xuống….

 

Một máy bay bốn động cơ C-118 của không quân Mỹ đậu gần đấy. Lính thủy Mỹ mặc thường phục đứng gác và đi theo đại sứ Martin, dàn hàng ngang bên cạnh máy bay. Đại sứ chờ ở chân cầu thang.

 

Khi Polgar mở cửa sau xe tôi, Thiệu cúi xuống vỗ vào vai tôi, nói giọng khàn khàn: “Cảm ơn”. Ông ta ch́a tay ra, giữ tay tôi một lúc. Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc...

 

Sau này, Martin thuật lại: “Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có cấu nói lịch sự nào. Chỉ một lời tạm biệt”…..

 

Trong khi đó, ở cổng sau sứ quán, nhiều xe của chính phủ Nam Việt Nam đến. Một viên tướng, một đại tá, một nhân vật chính trị từ xe chui ra. gật đầu chào lính gác rồi chạy vào thang máy. Họ ra đi. Từ sáng sớm, những máy bay lên thẳng của không quân Mỹ không ngừng đỗ xuống mái nhà, bay đi chở theo giới thượng lưu Sài G̣n đến sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đấy máy bay Mỹ đă chờ họ.

 

Sáng ấy, người khách quan trọng nhất là tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng. Ông đến sứ quán, chào lính gác (tr.296), nhân viên bộ ngoại giao đang mở cửa cầu thang. Ông tiến vào - cửa đóng. Chuyến “du lịch” cuối cùng của ông bắt đầu. Sau này tướng Smith nói: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường. Một máy bay lên thẳng chở Viên ra tàu của Hải quân đận ngoài khơi. C̣n tổng thống Hương, ông ta thuyên chuyển một số người chỉ huy quân đội, thực tế quân đội không c̣n tư lệnh nữa. Điều đó không ngăn cản các tướng, nhất là Quang và Kỳ, cấu xé nhau….

 

Timmes hỏi Minh nghĩ ǵ về tương lai. Ông ta mỉm cười và nói: c̣n khả năng thương lượng, vả lại Sài G̣n, Tây Ninh và vùng đồng bằng vẫn thuộc về ta. Timmes hỏi lại: Nếu những nơi ấy mất th́ ông tính sao? Sứ quán sẵn sàng giúp ông, dành cho ông chỗ tạm trú. Minh một lần nữa lại mỉm cười, lắc đầu: “Người Việt Nam là nhân dân của tôi, tôi (tr.299) không muốn đi”. Tuy nhiên, Minh cũng đề nghị giúp các cháu và con gái ông ta, vợ một viên đại tá, di tản….” Click đọc: Phần IA, Phần IB, Phần IIAPhần IIB, Phần III A, Phần IIIB  

 

 

 

MỘT Ư NGHĨ QUÁ GIẢN ĐƠN

 

 

Mặc dù việc di tản tiến triển nhanh, quốc hội cũng không bằng ḷng. Ở phủ tổng thống, người ta nghi ngờ. Có phải chính phủ muốn hoăn việc tản cư người Mỹ lại để đưa người Việt Nam đi trước không? Một thượng nghị sĩ nói với các nhà báo: “Chúng tôi không muốn ở Sài G̣n c̣n quá số người Mỹ mà một máy bay lên thẳng có thể chở được”.

 

Nhà Trắng cố dập tắt những lời công kích ấy bằng cách hứa một lần nữa, sẽ rút cộng đồng người Mỹ xuống c̣n 1.500 người trong mấy ngày tới. Lầu Năm Góc cho biết hạm đội di tản sẽ được tăng cường để có một cầu hàng không lớn máy bay lên thẳng sẵn sàng phục vụ. Những điều đó chưa làm quốc hội vừa ḷng. Nhiều nghị sĩ phê phán chính phủ muốn nhảy vào một cuộc chiến tranh mới. Phía Bắc Việt Nam cũng bất b́nh. Đài phát thanh Hà Nội cảnh cáo: “Thái độ ấy có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm”. Trong một bài diễn văn đọc chiều thứ tư ở Trường đại học Tulane, tổng thống Ford (tr.272) cố đánh tan những điều lo ngại ấy. Ông tuyên bố: đối với Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Đông Dương đă chấm dứt, ông đề nghị đất nước thôi không lao vào những cuộc đấu tranh, tranh căi như trước. Ông nói: một số người tưởng rằng nếu chúng ta không đạt mọi thắng lợi ở mọi nơi th́ chúng ta không thắng lợi ở đâu cả. Tôi phản đối sự khẳng định ấy. Chúng ta có thể và có nhiệm vụ giúp đỡ người khác để họ tự giúp họ. Nhưng số phận của những người đàn ông, đàn bà ở khắp thế giới này, nói chung, cuối cùng nằm trong tay họ.

 

Ở Sài G̣n, phía bên kia trái đất, 18 sư đoàn Bắc Việt Nam được nhiều đơn vị xe bọc thép, pháo binh yểm hộ, đang tiến như gió mùa. Sự có mặt của họ thể hiện suốt ngày bằng những trận đánh phục kích. Một ô tô buưt bị đổ trên đường Sài G̣n - Tây Ninh. Ở quốc lộ số 4, cách Sài G̣n 27 kilômét về phía Tây Nam, một cuộc đột kích xảy ra. Trên đường Xuân Lộc - Biên Ḥa, sự uy hiếp mỗi lúc một tăng. Trạm ra đa ở Phú Lâm, cách Sài G̣n mấy kilômét lại bị đặc công tiến công. Nhưng lần này, những kẻ bảo vệ không muốn chống cự nữa, vừa nghe tiếng súng, chúng đă bỏ chạy!

 

Sân bay Biên ḥa đă đóng cửa, lănh sự quán cũng thế. John Stocwell trở lại Sài G̣n lần cuối cùng, vào thứ tư ngày 23 tháng 4, xem người Việt Nam của anh được di tản chưa. Chỉ c̣n mấy tên lính gác người Nùng ở lại trụ sở. Dick Peters, tổng lănh sự, chờ đến chiều, phút cuối cùng, mới đi, không phải v́ anh nhận rơ trách nhiệm ḿnh là người chỉ huy mà v́ khôn ngoan thôi! Anh báo cho sứ quán: anh không thể về Sài G̣n nếu không có một máy bay lên thẳng hộ vệ. Sự cẩn thận ấy có vẻ đúng v́ trên đường đi, anh gặp nhiều lính tức giận bắn vào mui xe anh!

 

Trong khi tướng Dũng khép chặt ṿng vây chung quanh Sài G̣n, th́ Kissinger cố gắng sử dụng th́ giờ c̣n lại. Trong một điện gửi cho Martin, sáng 23 tháng 4, ông nói: có hai giải pháp: hoặc là cố cứu chính quyền Hương trong một lúc, hoặc là thực hiện kế hoạch của người Pháp, thiết lập một chính phủ mà cộng sản có thể chấp nhận. Ông nghiêng về giải pháp thứ nhất. (tr.273)

 

Martin chấp hành lệnh của Kissinger rất nghiêm chỉnh và tin rằng.nhân viên của ông cũng làm như thế. Khi Polgar xin phép đi mua một số nghị sĩ Sài G̣n để mau chóng đưa Minh lên cầm quyền th́ Martin không muốn nghe nói nữa. Ông nhấn mạnh: Người Nam Việt Nam phải quyết định lấy số phận của họ theo cách của họ, không có sự can thiệp của người Mỹ!

 

Đó là việc người Nam Việt Nam vẫn làm nhưng họ thường không thấy việc ǵ sẽ bảo đảm hơn sự sống c̣n của họ. Về phần Minh, vẫn là người chỉ phù hợp với việc thay đổi chính phủ bất chấp Hiến pháp, ông ta cho rằng chỉ có ông ta mới cứu được nước này, mới nói chuyện được với cộng sản. Minh nói với Viên và nhiều người khác: không khi nào ông ta chịu để Hương bổ nhiệm ông làm bộ trưởng. Ông chỉ chấp nhận một chức vụ: tổng thống với điều kiện chức vụ ấy do một khối liên hợp trung lập phong.

 

Tổng thống Trần Văn Hương (giữa) ngày 27-4-1975 - một ngày trước khi trao quyền cho ông Dương Văn Minh - Ảnh tư liệu
C̣n Hương, khốn khổ cho anh chàng giữ nhà ấy, vẫn có tham vọng đóng cái quốc trưởng, mà ông trưởng làm quốc trưởng thật. Hương nói với đại sứ Pháp Merillon:
Thiệu đă trốn tránh trách nhiệm. Nay trách nhiệm thuộc về tôi. Để tỏ rơ quyền lực của ḿnh, Hương ra lệnh gỡ những băng và áp phích chống cộng trong thành phố. Ông cho một cộng tác viên đến sân bay Tân Sơn Nhất thăm ḍ xem có thể mở cuộc thương lượng với Đoàn đại biểu Bắc Việt Nam trong Ủy ban hỗn hợp quân sự không.

 

Sáng thứ năm 24 tháng 4, Hương c̣n lợi dụng cả sự thất trận để nêu cao đạo đức hoà b́nh của ḿnh. Ông nói với Viên ra lệnh cho quân đội chỉ pḥng thủ thôi để tỏ rơ cho cộng sản biết chủ trương ḥa b́nh thật sự của Sài G̣n.

 

Cử chỉ ấy dù tốt nhưng nhiều tướng của Viên phản đối. Mặc dù họ không có ảo tưởng ǵ về khă năng kháng cự của quân đội, họ muốn cho cộng sản nếm lần cuối cùng, mùi sắt thép. Nếu có thương lượng th́ chỉ có hai bên. Hôm trước, chỉ mấy giờ sau khi Thiệu từ chức, tướng Toàn, tư lệnh Quân khu III c̣n gợi ư đề nghị máy bay B-52 của Mỹ ném một trận bom cuối cùng Viên đă gạt bỏ ư kiến ấy do nhiều nguyên nhân biển nhiên. Khác với Toàn, ông biết không c̣n máy bay (tr.274) B-52 nữa. Nhưng gợi ư làm hắn nghĩ đến những trận ném bom hồi trước. Được sự giúp đỡ của kỹ thuật viên phái bộ quân sự Mỹ, phi công Nam Việt Nam đă lắp vào máy bay một loại bom đặc biệt do Von Marbod và Weyand đưa sang hồi đầu tháng: đó là một vũ khí đáng sợ: bom CBU-55.

 

Vũ khí ấy gây khủng khiếp chiều thứ ba. Một máy bay C-130, mang theo bom CBU-55 cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất hay về Xuân Lộc, ném xuống bên ngoài một thị trấn cộng sản vừa chiếm được. Thiệt hại nằng nề. Hơn 250 lính Bắc Việt Nam biến thành tro bụi hoặc bị chết ngạt v́ thiếu không khí lúc bom nổ. Đài phát thanh Hà Nội lập tức lên án Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là đồ man rợ, ném bom vi trùng!

 

Giữa sự phản kháng ấy, nhiều máy bay chở bom Daisy Cutters, một loại bom lớn 7500 kilôgam, dùng để san bằng đất làm nơi đỗ cho máy bay lên thẳng và chở bom bi 250 kilôgam ném xuống các đơn vị cộng sản chung quanh Xuân Lộc. Ngoài ra c̣n một trận đánh vào đoàn xe chở tên lửa SAM-2 ở phía Đông Bắc Quân khu III. Lần này, dùng tên lửa Wild Weasel và do máy bay Mỹ phóng. Cả Polgar lẫn các nhân viên t́nh báo khác của ông không hề biết những trận đánh này. Nhà Trắng không muốn người ta biết máy bay Mỹ lại trở lại chiến trường.

 

Cộng sản phản kháng ngay tức th́. Chỉ mấy giờ sau trận ném bom CBU, cuộc bắn phá sân bay Biên Hoà tăng cường, các đường băng hỏng hết. Một vài máy bay phản lực F-5A c̣n lại vội bay về Sài G̣n c̣n những máy bay A-37 cất cánh đi Cần Thơ.

 

Đúng lúc Sài G̣n dồn sức cho một trận đánh cuối cùng th́ cuộc đàm phán chính trị mà Kissinger hằng thiết tha mong muốn tắt ngấm ở chân trời...

 

Về phía ông, tướng Dũng xem lại lần cuối kế hoạch tiến công. Chiều thứ năm, tướng Lê Trọng Tấn, chỉ huy mặt trận Xuân Lộc - Biên Hoà đề nghị ông cho phép đánh sớm hơn ngày dự kiến - ngày 26 tháng 4 - để có thể đặt đại bác ở Nhơn Trạch kiềm chế và bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất ba (tr.275) ngày sau đó. Trong 12 giờ, tướng Dũng không trả lời đề nghị đó.

 

Trong lúc đó, Quang Tân, chỉ huy xe bọc thép, nghiên cứu chi tiết bản đồ trung tâm Sài G̣n. Buổi sáng, ông được tin sư đoàn xe bọc thép 203 của ông có nhiệm vụ xung phong vào thủ đô Nam Việt Nam. Ông được vinh dự cao cả chiếm dinh tổng thống. Ông rất xúc động nhưng cũng rất bận. Chiều 24 tháng 4, quân của ông chưa sẵn sàng; hai đơn vị chưa hành quân tới. Mặt khác, ông chưa rơ “mục tiêu” của ḿnh ở đâu, chưa đến Sài G̣n bao giờ và chưa biết phố xá và vùng phụ cận thành phố ra làm sao. Ông chỉ dựa vào những bản đồ của Hà Nội, những bản đồ vẽ, in vội vàng.

 

Quân của tướng Dũng tỏ ra phần nào chểnh mảng trong việc chuẩn bị chiến đấu. Nhưng tin tức radio đánh đi không hoàn toàn bằng mật mă khá rơ đối với cơ quan thu tin của chúng tôi: cuộc tiến công vào Sài g̣n sắp đến nơi rồi. Nhưng Polgar vẫn chưa tin. Ông nói với tôi ngày thứ năm: Có thể quân cộng sản định lừa chúng ta bằng những bức điện như thế để chúng ta mắc bẫy và lo sợ.

 

Trong khi Martin và Polgar tiếp tục t́m kiếm một dấu hiệu chính trị nhỏ nhen nào đó th́ Merillon và nhân viên sứ quán Pháp vẫn tỏ ra tin tưởng. Chiều 24 tháng 4, mười ngh́n công nhân Pháp trong thành phố đươc lệnh là không đông đậy ǵ v́ sắp có ngừng bắn. Kết quả là một số đông người Pháp định giúp bạn bè và người quen Việt Nam di tản thôi không hoạt động nữa.

 

Một số phần tử trong cộng đồng người nước ngoài không dễ dàng bị lừa. Sáng thứ năm, bốn đại sứ quán đóng cửa hẳn. Không một sứ quán nào ra đi có danh dự. Sứ quán Anh và Canada bỏ mặc nhân viên. Đại diện lâm thời Canada, với giọng cáu kỉnh, giải thích với các nhà báo rằng không phải ông ta có nhiệm vụ giúp những người di tản khi những người này chỉ có những giấy tờ không hợp lệ! Sứ quán Đài Loan lại c̣n tồi hơn, không những bỏ rơi các nhân viên, mà c̣n để mặc một ngh́n kiều dân Trung Hoa quốc gia trong thành phố, trong số này có nhiều người làm điệp viên t́nh báo. (tr.276)

 

Noi gương khu vực sứ quán, phần lớn các hăng dầu và hàng không nước ngoài đều ngừng hoạt động hôm đó. Cả hăng Hàng không Pan Am cũng chấm dứt những chuyến bay mỗi tuần hai kỳ. Ban giám đốc hăng Hàng không dân dụng Hoa Thịnh Đốn tuyên bố vùng trời Campuchia và Việt Nam nguy hiểm đối với máy bay thương mại.

 

Khác với giới ngoại giao, giới buôn bán gặp nhiều khó khăn trong việc giúp đỡ người Việt Nam mà họ chịu trách nhiệm. Đại diện các hăng Chase Manhattan, First National City Bank và Bank of America, đă trở lại Sài G̣n (sau khi vội vă rời thủ đô trước đó) để di tản các nhân viên người bản xứ. Nhiều hăng nhỏ định thuê chung một máy bay đặc biệt đi Bangkok.

 

Cuối cùng, vào đầu tuần, Bộ ngoại giao đă giải quyết được vấn đề bảo hiểm cho chuyến bay quân sự chở 220 triệu đô-la vàng của ngân khố Việt Nam, từ Sài G̣n đến New York. Những người chịu trách nhiệm ở Bộ Kinh tế phụ trách việc đóng gói. Máy bay sẽ đến sáng ngày 25 tháng 4. Nhưng đến phút cuối lại có trục trặc. Sáng thứ năm, bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hảo, báo cho Dan Ellerman, cố vấn kinh tế của Martin, biết tổng thống Hương đă ra lệnh hoăn chuyến bay đó cho đến lúc chính phủ mới được thành lập. Martin cố thuyết phục Hương bỏ lệnh ấy. Không có kết quả. Ông quyết định để nguyên số vàng tại chỗ cũ, ra lệnh cho Ellerman giữ máy bay lại cho đến đêm 27 tháng 4.

 

Martin hy vọng nhờ được Hảo. Nhưng sau khi thất thủ Sài G̣n, nhiều nguồn tin cho tôi biết Hảo từ lâu là người của cộng sản. Đầu tháng tư, nhiều cán bộ Bắc Việt Nam bảo đảm với Hảo rằng: sẽ được chế độ mới đối xử khoan hồng nếu ông ta ngăn không cho chở số vàng trên ra khỏi nước này. Hảo không phải là đảng viên cộng sản nhưng ông ta là một thanh niên sôi nổi, phần nào lư tưởng hoá. Hảo tin vào những lời nói của cộng sản. Không những Hảo từ chối không di tản mà c̣n mánh khóe lễ phép, ngăn cản Ellerman chiếm số vàng trên. Dự trữ 220 triệu đô la bằng vàng (tr.277) nằm trong một ca-bin máy bay vận tải ở sân bay Tân Sơn Nhất lúc quân của tướng Dũng chiến thắng tràn vào thành phố.

 

Chiều thứ năm, khi tôi trở về nhà, Tư Hà bận trong bếp. Cô khua xoong chảo để làm át tiếng súng đại bác nổ ở phía Biên Hoà. Cô chẳng chào tôi nữa. Một tuần nay, cô có vẻ sợ hăi và do dự hết mức, có cảm giác như lúc nào cô cũng say thuốc. Đứng ở cửa, nghe cô nói, tôi đă có một quyết định tốt trong ngày. Nếu tôi điên, đến phút cuối cùng c̣n muốn chơi tṛ anh hùng, th́ tôi không có quyền ǵ đ̣i cô phải chơi tṛ ấy.

 

Tư Hà và gia đ́nh cô chẳng có ǵ phải giấu giếm và sợ cộng sản cả. Chưa bao giờ họ ủng hộ mạnh mẽ chính phủ hoặc tâng bốc quá cao người Mỹ. Có thể bố mẹ cô lo sợ khi biết tin cô quan hệ tốt với một “con mắt tṛn”. Chưa bao giờ ông bà ấy biết rằng cô đă làm chiêu đăi viên mấy năm nay trong các tiệm ở Vũng Tàu và đường Tự Do.

 

Tuy nhiên, nếu cộng sản hiểu lầm quá khứ của cô và quan hệ giữa cô với người Mỹ th́ cái ǵ sẽ xảy ra? Phải tính đến chuyện đó, dù đó là việc rất nhỏ.

 

Trong bữa cơm chiều, tôi hỏi cô ta muốn làm ǵ. Cô vừa nức nở khóc vừa nói: Toi sợ đi Mỹ lắm nhưng ở lại cũng không yên tâm. Tôi vừa lúng túng gấp thức ăn bằng đũa, vừa nói: có cách lấy giấy tờ cho cô đi, và có người nhận nuôi cô.

 

Cô ngồi yên một lúc, rồi hỏi tôi một câu rất quan trọng mà tôi không trả lời được: Việt cộng có giết tôi không? - Tôi không biết. Nói xong cô thấy nên thôi không nói chuyện nữa. Tôi bảo cô chuẩn bị 12 giờ nữa sẽ đi. Cô nh́n tôi với vẻ van nài. Cô nói lí nhí: “C̣n việc này nữa - h́nh như cô sợ phải nói đến việc đó - tôi có thể đem theo gia đ́nh được không?” Tôi không biết đă giảm nhẹ thể lệ giấy tờ, nên trả lời: “không thể được”.

 

Sáng hôm sau, Joe Kingsley và tôi phân công nhau. Từ nay, Joe trông non việc di tản các bạn Việt Nam của chúng tôi, c̣n tôi phụ trách công việc bàn giấy. Anh kêu lên: “Như thế tốt quá, tôi đă khá mệt với những tṛ phân tích, báo cáo rồi. Dù thế nào, không c̣n ai quan tâm đến nữa”. Tôi hiểu anh muốn nói ǵ. (tr.278)

 

Trong những giờ sau, Kingsley thu thập giấy tờ giả mạo, nói với một người bạn cũ làm người bảo lănh và đưa Tư Hà ra khỏi nước này. Moorefield gọi dây nói từ sân bay Tân Sơn Nhất về báo cho biết, họ đă có chỗ để bay đi.

 

Trong lúc đó, Tư Hà và cha cô cố rút tiền gửi ở Ngân hàng ra, khoảng hơn ngh́n đôla bằng tiền Việt Nam. Nhưng pḥng trả tiền đă đóng cửa.

 

Bố cô, một người buôn bán, chắc không tin vào dự tính của cô mặc dù cô chưa nói ǵ, ngoài việc cô có ư định rời thành phố này một thời gian. Lúc cô trở về nhà chuẩn bị hành lư th́ mẹ cô đi chợ.

 

Ăn cơm sáng xong, Tư Hà đến nhà tôi, xách theo va li. Cô gửi cô sen của tôi một bức thư đề nghị trao cho bố mẹ cô, trong thư cô giải thích việc ra đi. Hai giờ sau, Kingsley đến dẫn cô ra sân bay. Trước khi từ biệt ở chỗ phân loại, Kingsley đưa cho cô một pḥng b́, trong đó, tôi để một ngh́n đô-la.

 

Tám giờ sáng hôm sau, Tư Hà, người bạn Mỹ và nhân t́nh người Việt Nam của anh ta lên một máy bay C-141 của không quân Mỹ. Chuyến bay lạnh lẽo, mất 9 giờ. Nhiều khách đi bị ốm. Pḥng vệ sinh không dùng được, không có ǵ ăn uống. Nhưng cái làm Tư Hà xúc động nhất là sự yên lặng trong ca-bin. Các bạn đồng hành người Việt Nam của cô, lẳng lặng khóc nức nở, không nói một lời!

 

Khi máy bay hạ cánh xuống Guam, đă 4 giờ chiều. Nhân viên Hải quan phân phát bánh biscuit và cháo. Đêm đầu tiên, Tư Hà và 11 người khác ngủ trên sàn gỗ một túp nhà dài, rộng một chiều một mét. Sáng sớm, đàn ông, đàn bà đều muốn đi tắm nhưng không có nước.

 

Tư Hà ở trên đảo hơn sáu tuần, ngày ngày ngồi tỏng túp nhà tồi tàn ấy. Các nhà chức trách cơ quan nhập cư khám phá thấy giấy tờ của cô giả mạo, từ chối không cho cô đi Mỹ cùng với người bảo lănh. Một số phụ nữ cô quen phải ăn nằm với lính thuỷ hoặc nhân viên nhập cư để được tiếp tục vào Mỹ.

 

Tư Hà phải mất tiền mới được thả. Một bạn cô, người Việt Nam, có nhiều người bảo lănh ở California bán cho cô (tr.279) một giấy chứng nhận lấy một trăm đola. Nhờ đó cô có giấy xuất cảnh và một địa chỉ rơ ràng. Cặp vợ chồng đón cô ở bên bờ biển phía Tây là vợ chồng một sĩ quan đă nghỉ hưu. Họ có vẻ hiền và dễ thân như người nhà. Nhưng chỉ một, hai tuần sau, anh chồng đă tán tỉnh Tư Hà bị người vợ bắt được và đuổi cô đi.

 

Chắc chắc Tư Hà sẽ có nhiều bạn trẻ, những thanh niên California v́ thấy cô lạ và quyến rũ. Nhất là trong túi cô lại có nhiều tiền. Họ sẽ dẫn cô đi ăn cơm tối, đi xem chiếu bóng và chị chị tôi tôi, mời cô trả tiền cho mọi người. Chẳng máy lúc, cô hết một ngh́n đô-la và họ sẽ bỏ rơi cô!

 

Thất vọng, cô bé viết cho hai vợ chồng một cô bạn Việt Nam đang sống ở Nouvelle Orleans, đề nghị cho cô đến ở nhờ. Mấy tháng sau khi Sài g̣n thất thủ, tôi mới t́m thấy Tư Hà. Nhờ khéo xoay sở, cô đă nhận làm người may vá và có một pḥng ở. Với giọng nói trọ trẹ, cô bắt đầu sử dụng những tiện nghi mới nhất của Mỹ.

 

MỘT NGƯỜI LÁI XE CƠ CỠ

 

Sáng 25 tháng 4, đài phát thanh Sài g̣n dựng đứng lên một tin giật gân: có người bị ám sát ở Hà Nội v.v...Tưởng rằng có thể đánh lừa được mọi người nhưng ai cũng biết đó chỉ là chiến tranh tâm lư. Nhà chức trách Sài g̣n tung tin này để ḥng lung lạc tinh thần quân đội Bắc Việt Nam đang ở cửa ngơ thủ đô.

 

Phần lớn người Sài G̣n đều thấy đó là một tin ngớ ngẩn. Họ không bụn mở đài để nghe thêm chi tiết nữa. Quân Bắc Việt Nam cũng không hề xúc động. Chỉ có những nhà báo Mỹ là những người nghe và tin rằng này có thật. Trong buổi sáng, tôi nhận được không biết bao nhiêu cú điện thoại của (tr.280) các nhà báo quen thuộc hỏi lại tin trên. Tôi trả lời: đó là tṛ đùa tồi của Sài G̣n.

 

Hôm ấy, tôi viết vào sổ tay: “Thành phố là một ḷ than”. Người ta chiếu cuốn phim mới nhất của John Wayne trong một rạp rỗng không ở giữa thành phố. Không ai c̣n cần có cảm xúc mạnh trong lúc sự thật đă quá căng thẳng.

 

Như thường lệ, tiền là thước đo tinh thần. Ngoài chợ đen, một đô-la trị giá năm ngh́n đồng. Hôm qua, hôm kia có ba ngh́n. Ít con gái ra đường. Theo một anh bạn nhà báo, những cô gái xinh của “ba” Mimi sáng nay đă đưa hành lư lên một xe Chevrolet. Một người Mỹ tháo vát đă t́m cách đưa họ lên tàu “Chim tự do”.

 

Ở sứ quán, một t́nh bạn giả tạo nẩy nở giữa chúng tôi là những người được coi là “cần thiết” phải ở lại. Có những đồng nghiệp chưa hề nói chuyện với nhau nay trở thành bạn tri kỷ. Họ ăn sáng (rất nhanh) với nhau và kể cho nhau nghe những chuyện về nguồn gốc xă hội của đại sứ, thái độ của ông và về kế hoạch của cộng sản. T́nh thân hữu ấy lúc này rơ ràng là một nhu cầu chung. Con sen, người đầu bếp, em bé đánh giầy đều vắng cả, chẳng có ai giúp chúng tôi làm những việc lặt vặt. Phải sát cánh lại với nhau. Vợ một viên chức bộ ngoại giao (một phụ nữ duy nhất c̣n lại) nhận nấu ăn cho chúng tôi trong khách sạn ở đằng sau sứ quán, người quản lư nhà tôi ở, cũng nhờ được bà hàng xóm rủ mâư người đến làm cơm cho chúng tôi.

 

Mặc dù Tư Hà đă ra đi, tôi vẫn xoay sở được. Tuy nhiên, một cô thư kư nhắc tôi: quần áo và sơ mi của anh bẩn rồi đấy! Tôi tiếp tục cố gắng cung cấp tin cho bạn bè và đồng nghiệp. Tôi tự bảo phải nắm được tin chứ không được bịa ra. Hôm nọ, Eva Kim bảo tôi, mỗi khi trông thấy tôi vào pḥng đại sứ với bản báo cáo trong tay, tim chị lại đập th́nh th́nh!

 

Tôi có cảm giác đi khắp mọi nơi, từ pḥng đại sứ sang pḥng Polgar, trở về pḥng tôi. Tôi nghiên cứu, phân tích t́nh h́nh rất nhanh. Qua những tin mỗi lúc một nghèo nàn, tôi (tr.281) t́m xem có hy vọng mỏng mạnh nào không. Polgar vẫn cho rằng các đài phát thanh Hà Nội và Giải phóng sẽ phản ảnh thái độ tốt của kẻ thù. Do đó, cứ mỗi giờ tôi lại sang pḥng nghe đài của CIA để lấy những bản dịch tin mới nhất.

 

Sáng thứ sáu, được tin Hoa Thịnh Đốn đồng ư để cho 130 ngh́n người tị nạn vào Hoa Kỳ. Mấy giờ sau, lính dù Việt Nam định vượt hàng rào dây thép gai rai rải chung quanh nới phân loại người đi của phái bộ quân sự...Một tiểu đội lính thủy sẵn sàng bảo vệ ngôi nhà. Sau này tướng Smith nói: nếu có những người làm cho lính Việt Nam kiêng nể th́ đó là những người lính thủy.

 

Thủ tướng (trái) Kỳ và Tr. Tướng Thiệu (phải) tại Hội nghị Honolulu, 7/2/1966)
Từ ngày từ chức (ngày 21 tháng 4), Thiệu để th́ giờ đi bách bộ trong nhà của ông ta ở bờ sông. Ông ta
nghiền ngẫm một cuộc trả thù và mơ tưởng đến việc giành lại địa vị trước kia. Vợ ông ta, quá sợ hăi, không c̣n chịu được cảnh thất thế này. Sáng thứ năm, bà ta đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại. Em họ của Thiệu. Đại sứ của Sài G̣n ở Đài Loan trở về mước khuyên anh sớm ra đi. Nhưng Thiệu chưa nghe. Ông ta nghĩ rằng ông ta c̣n giữ một vai tṛ ǵ đó ở đây. Ông ta nói với em họ là Hoàng Đức Nhă: Nếu tôi phải ra đi, tôi sẽ đi với đoàn tuỳ tùng có trống giong cờ mở!

 

Thiệu, vốn thường kín đáo, ít nói, nay có vẻ cảm động. Ông ta nói với Nhă: Em là người duy nhất c̣n ở lại bên anh, mặc dù anh đă làm hại em, cách chức và đuổi em đi!

 

Nhă t́m cách an ủi Thiệu. Ông ta nói với Thiệu: “Anh cứ coi tôi như Cambroune, viên tướng trung thành với Napoléon ở ngoài đảo Elbe

 

Hương, người kế vị Thiệu, không dám giục Thiệu di tản, sợ bè phái Thiệu sẽ trả thù. Hương nói với Martin làm việc đó. Đại sứ cũng không thích thú làm việc này. Cho đến nay, ông vẫn làm cho người ta tưởng rằng sứ quán không can thiệp vào việc Thiệu từ chức. Ông không muốn làm thay đổi nhận định ấy.

 

Nhưng có một yếu tố phải tính đến. Minh lớn cho rằng sự có mặt của Thiệu ở Sài G̣n vẫn là một trở ngại lớn cho hoạt động (tr.282) của ông ta. Minh đề nghị Timmes, cơ quan CIA, giải quyết giúp việc này. Điều đó làm vừa ḷng Martin.

 

17 giờ ngày 25 tháng 4, Polgar gọi tôi đến pḥng làm việc. Ở đấy, đă có Joe Kingsley, tướng Timmes và một nhân viên CIA nữa. Polgar nhỏ nhẻ hỏi chúng tôi: Ban đêm, các anh có dám ra ngoài phố không? Chúng tôi đều gật đầu. Riêng tôi, tôi không chắc có thuộc hết các ngơ ngách và những cái hẽm do người Pháp xây dựng không, những dù sao...Polgar tiếp tục nói: “Thế th́ tốt. Tôi đề nghị các anh tối nay, giúp tôi cho Thiệu và Khiêm đi Đài Loan. Đó là một ân huệ đối với các anh, đồng thời là một phần thưởng v́ các anh đă làm việc rất tốt”.

 

Thật ra, Polgar mới chỉ biết “phần thưởng” này cách đây mấy giờ. Trước đó, Martin định giao cho Phái bộ quân sự thu xếp mọi việc, kể từ việc tổ chức một chuyến bay đặc biệt cất cánh từ cuối đường băng Tân Sơn Nhất. Đến phút cuối cùng, ông lại giao cho CIA.

 

Khoảng 20 giờ 30 phút, bốn người chúng tôi đi ba xe đến bộ tổng tư lệnh Nam Việt Nam ở Tân Sơn Nhất, Khiêm ở trong khu vực này. Joe và tôi giấu vũ khí dưới chỗ ngồi. Chúng tôi không thể không tính đến việc diễn lại cuộc ám sát anh em Diệm trước đây. Chúng tôi định kế hoạch như sau: có những sĩ quan trẻ ngăn chúng tôi lại trên đường đi, ra lệnh cho chúng tôi xuống xe và bắt chúng tôi. Tức th́ chúng tôi nổ súng!

 

Quá 21 giờ, Polgar đến nhà Khiêm, trong một xe riêng có lái xe lái. Ông đến uống rượu với Khiêm và Timmes. Chúng tôi đứng đợi ngoài sân. Kingsley và tôi, để giết th́ giờ, hai đứa nói chuyện với những người lính gác Việt Nam. Mấy lính khác chơi bài. Phần đông tỏ ra không để ư ǵ đến việc đi lại của bọn “mũ cao áo dài” này. Có tiếng súng nổ ở phía sân bay. Đài radio trong một xe báo cho chúng tôi biết: hai lính Nam Việt Nam cáu kỉnh đă bắn súng ở đây: “Không thiệt hại ǵ, nay t́nh h́nh yên tĩnh. Đúng lúc đó, một xe Mercedes xám đỗ trên đường. Một người tầm thước, tóc bạc, chải lật ra sau gáy, mặt bôi kem, quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng tối, Nguyễn Văn Thiệu giống một người mặc quần áo mẫu (tr.283) quảng cáo trong một tạp chí là một cựu nguyên thủ quốc gia. Ông ta không thèm nh́n chúng tôi!

 

Mấy phút sau, mấy người lực lượng, mỗi người xách một vali nặng, đi đến chỗ chúng tôi, bảo chúng tôi mở cửa xe, để tự họ xếp va ly vào. Khi họ để va li xuống, có tiếng kim loại va vào nhau.

 

Tiếp đó Thiệu, Khiêm, Polgar và Timmes, theo sau có nhiều nhân vật cao cấp Nam Việt Nam, bước ra cửa tiến nhanh vào xe hơi. Thiệu ngồi xe tôi, ở ghế đằng sau. giữa Timmes và một người Việt Nam. Timmes khuyên ông ta: tổng thống ngồi thấp xuống để được yên ổn.

 

Chuyến đi chỉ có mấy phút nhưng tôi thấy rất dài. Timmes nói với Thiệu những chuyện không đâu, về quá khứ. Họ quen nhau năm 1961 trong một cuộc lửa trại ngoài Quân khu I. Trong những năm sau. Timmes thường cho Thiệu biết sự tiến triển của việc b́nh định “thưa tổng thống, đó là một thành tựu lớn của chúng ta”. Có một lúc Timmes giới thiệu tôi với Thiệu như một người nhận định tin có tài ở sứ quán, một người lái xe “có cỡ”! Mọi người bất đắc dĩ cười. Tiếp đó, Thiệu nói tiếng Anh pha giọng Pháp, cho rằng tất cả những lái xe ở Sài G̣n đều có cỡ những xấu nhất, hay xấu hơn cả những kẻ điên ở Bangkok.

 

Timmes hỏi: “Phu nhân và tiểu thư có khoẻ không ạ?” Thiệu trả lời: - Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ. Tôi nh́n rơ mặt cựu tổng thống qua tấm kính xe, mắt sáng dưới ánh đèn ngoài đường, mùi rượu Scoth thoáng bay trong xe có máy điều ḥa không khí.

 

Đến gần cổng vào sân bay Tân Sơn Nhất, đèn pha xe hơi rọi thẳng một lúc vào bức tường do người Việt Nam dựng để tưởng nhớ những người Mỹ chết trong chiến tranh. Trên bức tượng có ḍng chữ: “Chúng tôi không bao giờ quên sự hy sinh cao cả những người lính đồng minh”. Thiệu thở dài khá to và quay mặt đi. Một lần nữa Timmes nhắc Thiệu ngồi thấp xuống. B́nh thường, cơ quan an ninh Việt Nam đứng gác ở sân bay không chú ư đến xe của sứ quán Mỹ. Nhưng quá 21 giờ 30 rồi, quá giờ thiết quân luật hơn một tiếng. Những người gác có thể ngăn xe lại. Trời ơi may quá, họ không làm ǵ cả.

 

Đoàn người đi qua đường băng. Người lái xe trước tắt đèn. Tôi cũng làm theo. Trong một lúc tôi thấy dài ghê, tôi không trông thấy ǵ cả. Chiếc xe Chevrolet đồ sộ của tôi chạy một ḿnh trong đêm tối. Sau tôi mới quen dần. Chợt tôi trông thấy Polgar chạy qua đường băng, cách tôi mấy mét. Tôi vội hăm phanh. Bánh xe kêu ken két. Xe dừng lại. Thiệu và người ngồi xe tôi bị xô vào ghế trước. Những xe sau vội quay ngang, quay dọc bao vây lấy xe tôi: một cảnh trong phim trinh thám Polgar chạy đến vẫy tay và mở cửa xe cho Thiệu.

 

Một máy bay bốn động cơ C-118 của không quân Mỹ đậu gần đấy. Lính thủy Mỹ mặc thường phục đứng gác và đi theo đại sứ Martin, dàn hàng ngang bên cạnh máy bay. Đại sứ chờ ở chân cầu thang.

 

Khi Polgar mở cửa sau xe tôi, Thiệu cúi xuống vỗ vào vai tôi, nói giọng khàn khàn: “Cảm ơn”. Ông ta ch́a tay ra, giữ tay tôi một lúc. Ông ta cố nén không khóc. Tiếp đó ông ta rời xe, bước lên cầu thang máy bay. Khiêm và đoàn tuỳ tùng Thiệu đi sau, tay xách va li, vai đeo máy ảnh, xắc...

 

Sau này, Martin thuật lại: “Tôi chỉ chào tạm biệt ông ta. Không có cấu nói lịch sự nào. Chỉ một lời tạm biệt”.

 

Đối với tôi cũng nhe đối với Joe Kingsley, ngay mấy từ ấy cũng dài lê thê. Bên ngoài, trên đường băng, chúng tôi cáu kỉnh nh́n chu vi của sân bay. Polgar và Martin măi mới trở lại, đầu cúi gầm. Máy bay nổ máy. Lúc đại sứ từ bậc cuối cùng của cầu thang bước xuống ông quay lại, vịn vào thành cầu thang như muốn giữ lại mối liên hệ với quá khứ. Tôi kêu lên: “Thưa đại sứ, tôi có thể giúp đại sứ việc ǵ?”

 

Martin đứng lại. Ông đăm đăm nh́n tôi. Ông thở. Lúc ấy với đôi kính gọng bầu dục, màu da, đại sứ thật giống một ma quái ăn mặc chỉnh tề hơn là một nhà ngoại giao vừa vĩnh biệt dấu vết cuối cùng của ba mươi năm thực hiện một chính sách tồi tệ.(tr.285)

 

ĐẾN LƯỢT CHÚNG TÔI

 

Sáng hôm sau, lúc mặt trời mọc trên sân bay Biên Ḥa, một làn sóng người tị nạn, xe hơi riêng, xe tắc xi chạy trốn từ thị xă này. Nơi đây trước kia là thiên đường của dân phe, là nơi ăn chơi phè phỡn bổ sung cho Sài G̣n. Xa lộ có bốn đường xe, chạy thẳng tắp về Sài g̣n là niềm tự hào của kỹ sư Mỹ, lúc này giống như một con rắn khổng lồ ḅ dưới những đám mây khói xăng, dầu của những xe hơi nối đuôi nhau. Lực lượng an ninh đặt những trạm kiẻm soát đề pḥng sự thâm nhập của cộng sản nhưng phải bỏ ngay.

 

Tướng Viên, Trần Văn Đôn và nhiều người khác, buổi sáng ở dinh tổng thống để ép Hương từ chức. Đến trưa, ông già này chấp nhận. Nhưng, hoặc để trả thù, hoặc muốn hợp hiến hay muốn vừa ḷng Martin, Hương đ̣i phải có yêu cầu của quốc hội. Ông nói: Tôi không trao quyền cho Minh một cách dễ dàng như thế. Quốc hội có nhiệm vụ phải hợp pháp hoá sự thay đổi này bằng cách chính thứ bán ḿnh. Ông kêu gọi các nghị sĩ và nói thêm: “Nếu các vị thấy không thể thay tôi bằng tướng Minh và các vị không thể điều đ́nh có kết quả th́ Sài G̣n sẽ biến thành biển máu. Và chúng ta sẽ phải chiến đấu cho danh dự dân tộc chúng ta”.

 

Hương không làm ǵ để tạo điều kiện thuận lợi cho Minh lên cầm quyền. Nhưng về phía cộng sản, họ có vẻ có ư định ấy. Buổi trưa, Trần Văn Đôn cho biết ông ta đă tiếp xúc với trung gian của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Người nàu nói chắc chắn sẽ có ngừng bắn nếu Minh nắm chính quyền và nếu người Mỹ không chuyên chở vuc khí, đạn dược đi (von Marbod đă cố làm việc này)...Ngày 26 tháng 4, đài phát thanh Hà Nội đ̣i chính phủ và quan đội Nam Việt Nam phải đầu hàng và kêu gọi lực lượng thứ ba cùng với nhân dân nổi dậy tổng khởi nghĩa. Minh thường được coi là người trung lập của lực lượng thứ ba!? (tr.286)

 

Buổi trưa, tỏng một cuộc họp báo, đại tá Vơ đông Giang trả lời một nhà báo khi anh này hỏi về triển vọng của những cuộc thương lượng: quân đội chúng tôi tiếp tục tiến công.

 

Ông Giang đă biết rơ ḿnh nói ǵ. Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời đă được bộ tư lệnh của tướng Dũng mật báo cuộc tiến công Sài G̣n sắp nổ ra. họ đào hầm trú ẩn trong chỗ ở, đề pḥng bom đạn ba ngày nữa sẽ nổ.

 

Trong lúc Sài G̣n và Hoa Thịnh Đốn c̣n mơ hồ về ư đồ thật sự của Hà Nội th́ tướng Dũng đang đi xe trên một đường đất ở Quân khu III. B́nh minh ngày 26, ông từ Lộc Ninh đến Bến Cát, cách Sài g̣n 48 kilômét về phía Bắc. Ở đấy, trong một túp lều tranh ông điều hoà kế hoạch cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh. Người phó của ông, tướng Trần Văn Trà, đă vạch những đường tiến công trên bản đồ. Ở phía Đông, tướng Lê Trọng Tấn, tư lệnh mặt trận Biên Ḥa, đang chuẩn bị cho cuộc tiến công vào ngay buổi chiều hôm đó.

 

Hai lănh tụ cộng sản, các ông Lê Đức Thọ và Phạm Hùng ủy viên Bộ Chính trị, vẫn ở lại Lộc Ninh, để xem xét thái độ chính trị mới nhất.

 

Trừ người Pháp, c̣n bất cứ người nào ở Sài g̣n cũng thấy chuyện thương lượng đến phút này là vô ích. Trong 24 giờ qua, số người Mỹ và người Việt Nam xếp hàng nối đuôi nhau ở nơi phân loại người di tản của phái bộ quân sự tăng gấp đôi. Sáng 26, phải đóng cửa nơi này. Ba viên chức lănh sự quán cùng với Moorefield làm việc cật lực mà không kịp. Mỗi đêm họ chỉ ngủ ba, bốn giờ. Moorefield kể lại: “Mỗi phút, chúgn tôi phải có một quyết định sống c̣n. Thí dụ như làm tan nát một gia đ́nh hay đẩy người này, người nọ vào tay Việt cộng. Là sĩ quan đă từng tham chiến, tôi có kinh nghiệm để chịu trách nhiệm về những việc này. Các anh ở bộ ngoại giao không có kinh nghiệm ấy”.

 

Buổi trưa, một đồng nghiệp của Moorefield điên. Bỗng nhiên, anh nhảy khỏi ghế, ném chai coca-cola vào tường. Rồi anh vừa kêu vừa chửi. Moorefield phải cho anh ta nghỉ. Những người khác cố cầm cự, cố tính toán. Moorefield thuật lại: “Tôi nhớ có một người Mỹ đến lúc 6,31 giờ. Anh ta nói rằng có một bạn Hoa kiều sẵn sàng làm cho chúng ta giàu có nếu chúng ta đóng dấu xuất cảnh cho người ấy. Tôi ngạc nhiên về điều anh ta yêu cầu. Đó là bạn tôi, người thật thà. Nhưng tôi cho rằng anh cũng là nạn nhân của sự căng thẳng mỗi lúc một lớn”.

 

Người ta chất ngày càng nhiều người tị nạn lên những máy bay C-141. Và ở đầu đằng kia của cầu hàng không, rối loạn chẳng kém ǵ ở chỗ bay đi. Cuối cùng, chiều 26 tháng 4, Hoa Thịnh Đốn ra lệnh cho những người tị nạn đi sau đến đảo Wake, cách đảo Guam hai ngh́n kilômét về phía Đông Bắc.

 

Từ bộ tư lệnh ở phía Đông Sài G̣n, tướng Lê Trọng Tấn theo dơi nhịp độ di tản qua những bản báo cáo do đặc công cộng sản nằm cạnh sân bay Tân Sơn Nhất nói radiô về. Điều ông muốn biết là có máy bay Mỹ tham gia chuyên chở không. Máy bay thám thính của ông, cho đến lúc ấy, không thấy.

 

Đúng 17 giờ, viên tư lệnh quân đội Việt Nam nh́n đồng hồ. Ông gật đầu ra lệnh cho người điều khiển radiô. Mấy giây sau, lệnh bằng mật mă ban ra: cuộc tiến công của cộng sản vào Nhơn Trạch và vùng phụ cận phía đông Sài g̣n bắt đầu. Sáu tư lệnh của sáu sư đoàn nằm dưới quyền của tướng Tấn cùng nổ súng mở đầu “chiến dịch Hồ Chí Minh để giải phóng Sài G̣n”

 

Trong khi đó ở Sài g̣n, giới chính trị vẫn c̣n tranh căi nhau. Chiều rồi mà các nhóm khác nhau trong quốc hội vẫn chưa thoả thuận được với nhau về cách lập lại chính phủ cho vừa ḷng cộng sản, cũng không thấy rơ sự cần thiết phải làm. Một số nghị sĩ, thuộc phe cánh của Thiệu trước đây, phản đối việc bầu Minh, sợ sau đó, Minh sẽ ra lệnh trả thù. Một số thuộc phái hữu muốn Kỳ thay Hương. Trước t́nh h́nh rắc tối ấy, quốc hội giao cho việc chủ tịch già giải quyết thế nào cho có lợi để thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Việc đó cũng không rơ ràng như những đ̣i hỏi của Hương. (tr.288)

 

Trước giờ thiết quân luật, tôi đi xe đến khách sạn Duc. Những bản báo cáo đầu tiên về cuộc chiến chung quanh Biên Ḥa đă được gởi tới nhưng thiếu chi tiết. Tốt hơn hết là ăn một bữa cơm ngon và ngủ một giấc đầy.

 

Tối hôm ấy, ở khách sạn, người ta tưởng như đang xem một vở kịch của Brecht. Chúng tôi đến rất đông, uống ly rượu cuối cùng để mong lấy lại sức, nhưng không có không khí vui vẻ của một ngày vừa làm việc xong. mọi người đều cho là đă đến ngày tận thế. Qua cửa kính, ánh lửa đại bác nhấp nháy.

 

Tôi kéo một ghế đẩu, ngồi bên cạnh một anh bạn cũ, chuyên về châu Mỹ la tinh, đổi sang Việt Nam từ lâu. Mặt anh trắng bệch như phấn, mồ hôi nhễ nhăi, tay anh run khi anh cầm cốc rượu scoth đưa lên môi. Tôi hỏi thăm sức khoẻ v́ biết anh đau tim. Anh nói anh mạnh đều nhưng những sự kiện xảy ra ngày hôm nay làm anh sợ. Anh ở phái bộ quân sự từ sáng đến chiều cố xoay chỗ cho mấy người bạn Việt Nam. Khổ quá: Cả ngày ở ngoài nắng mà chỉ có một cốc bia. Không c̣n ǵ nữa. Thử tưởng tượng xem.

 

Tôi ngắt lời anh, không muốn nghe những chi tiết hăi hùng nữa. Thế c̣n người vợ Việt Nam của anh? C̣n gia đ́nh anh? Họ được di tản chưa? Anh gật đầu. Rồi, họ đi mấy ngày trước đây. Anh mỉm cười cho biết họ gặp trắc trở do những người kiểm soát của phái bộ quân sự làm khó dễ. Gia đ́nh anh nuôi heo ở sân sau, vợ anh muốn đem một, hai con sang Mỹ. Chị dắt hai con lớn nhất đến nơi phân loại người đi. Nhưng những người kiểm soát ngăn lại.

 

Tôi cười vỡ bụng. Chúng tôi nói vui về tài xoay xở của người Việt Nam. Tôi mời anh một ly Scoth. Anh nh́n ly rượu, nét mặt giăn ra. Anh khóc.

 

Tôi ngủ được khoảng bốn giờ th́ tiếng chuông điện thoại ở đầu giường reo. Viên chức CIA thường trực ở sứ quán gọi tôi. Đài phát thanh Hà Nội vừa ra tuyên bố chính trị quan trọng, một lời cảnh cáo đối với nhà chức trách Sài G̣n đ̣i họ phải đầu hàng ngay theo điều kiện của Chính phủ Cách mạng lâm thời (tr.289). Tôi bảo anh đừng có đánh thức Polgar dậy v́ chuyện ấy. Ông không đếm xỉa ǵ đến những lời cảnh cáo đâu.

 

Khoảng một giờ sau, tiếng nổ đầu tiên hất tôi ra khỏi giường. Tức th́ tôi sờ soạng trong đêm tối để t́m áo giáp và khẩu M-16. Tiếng nổ tiếp tục làm rung cửa, tôi ḅ lại bàn đêm gọi dây nói cho sứ quán. Viên chức thường trực trả lời: Đó là đạn rốc kết. Không biết bao nhiêu phát. Đều bắn vào giữa thành phố. Tôi bảo anh, mặc quần áo xong tôi sẽ tới.

 

Tôi mặc sơ mi, quần gin, đang khoác áo giáp th́ có nhiều tiếng đập cửa buồng hốt hoảng. Tôi tháo chốt an toàn khẩu súng, từ từ mở cửa. Đó là Joe Kingsley, hàng xóm và đồng nghiệp của tôi. Anh mặc quần đùi, nhưng đội mũ sắt và khoác áo giáp. Anh mỉm cười nói: “Có vẻ chiến tranh rồi. Anh đi không ? Tôi trả lời: đi, nhưng tôi đề nghị anh ở lại điều khiển việc di tản trong trường hợp có lệnh tiếp tục làm. Máy bay lên thẳng, như đă hẹn trước sẽ đỗ trên mái nhà”.

 

Lúc tôi đến sứ quán, cảnh sát đă cho biết: năm quả rốc kết bắn vào thành phố: hai quả vào khu trung tâm, ba quả vào Chợ Lớn. Một quả trúng khách sạn Majestic sang trọng. Một quả trúng cạnh Nha cảnh sát đô thành. Nhiều người chết và bị thương, nhiều nhà bị cháy hoặc bị phá huỷ.

 

Buổi sáng, Polgar đă cho nhiều người ra phố điều tra t́nh h́nh và xem có triệu chứng hoảng hoạn không. Nhưng người Việt Nam vẫn sống như người Việt Nam, nói với giọng triết lư là mặc cho số phận. Một bà già sống trong một cái lều, nói với một nhà báo: “Tuần trước, chúng tôi thấy những người tị nạn ngủ trong lều. Thật khổ sở. Nay đến lượt chúng tôi”.

 

Ở phía Đông, tướng Tấn vừa mở cuộc tiến công nhỏ. Đại bộ phận quân đội Bắc Việt Nam nay mới hoạt động. sớm ngày 27, sư đoàn 232, cánh quân chiến thuật do tướng Lê Đức Anh chỉ huy, chiếm một thị xă trên đường số 4, cách Sài G̣n 19 kilômét về phía Tây Nam. Ở phía Tây Bắc, Quân đoàn I chặn đường Tây Ninh - Sài G̣n, bao vây một sư đoàn 25 Nam Việt Nam ở Củ Chi. Mấy giờ sau, một đơn vị Bắc Việt Nam chặn (tr.290) đường Sài G̣n - Vũng Tàu, làm cho việc di tản ra bờ biển mà Martin đă nghĩ đến, không thể thực hiện được.

 

Như tướng Dũng đă dự kiến, pḥng tuyến ngoài Sài G̣n vụn như vỏ củ hành. Dũng chưa bằng ḷng. Ông gửi một điện khẩn cho tướng Tấn: Phải vượt mọi khó khăn để chúng ta có thể ngày 29 tháng 4 mở trận đánh cuối cùng vào Sài G̣n.

 

Buổi sáng, lực lượng cộng sản đă đến sát Biên Ḥa và tiếp tục tiến. Hai nhà báo Pháp lang thang t́m đề tài viết bị quân tiên phong đuổi kịp. Một người bị bắt làm tù binh, người kia bị chết v́ đạn lạc. Ở phía Tây thành phố, quân đặc công đánh ḿn phá đổ một cầu quan trọng đi vào Sài G̣n. Quân Nam Việt Nam vội vàng gài ḿn vào những cầu khác. Lính đào ngũ của sư đoàn 18 Nam Việt Nam và đơn vị Dù vừa chạy vừa đốt, cướp.

 

Trong khi đó, đài Giải phóng nêu ra nhiều đ̣i hỏi đối với Hoa Thịnh Đốn: rút ngay tất cả hạm đội, nhân viên t́nh báo và cố vấn Mỹ, người Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đối với một số người chúng tôi, điều đó có nghĩa là sứ quán cũng phải thu xếp hành lư.

 

Giữa lúc đó. Viên tổng thống già Trần Văn Hương lại nổi cơn sốt hiến pháp. Hắn mời chủ tịch thượng nghị viện Trần Văn Lắm tới và ngỏ ư muốn nhường Minh làm người kế vị, nhưng ông muốn được quốc hội chuẩn y để ông không phải chịu trách nhiệm một ḿnh. Lắm triệu tập ngay phiên họp đặc biệt có 134 thượng, hạ nghị sĩ c̣n ở lại thành phố tới dự.

 

Sau mấy giờ tán láo, quốc hội mới nhất trí thông qua nghị quyết (có một phần ba nghị sĩ vắng mặt) bầu Minh làm tổng thống. Hôm sau mới tuyên thệ. Hương đ̣i lễ tuyên thệ làm vào buổi chiều để ông được khoe với gia đ́nh và bạn bè, ông ta làm tổng thống trong một tuần!

 

Minh thăm ḍ ngay ư kiến để thành lập chính phủ. Một công việc phức tạp v́ phần đông giới chính trị chưa nắm quyền, đều thuộc phe cánh Thiệu, dưới h́nh thức khác. Người duy nhất không có vấn đề là bạn chính trị của Minh, Vũ Văn Mẫu (tr.291), được Minh giao cho làm thủ tướng. Tướng Kỳ thấy ḿnh không xơ múi ǵ, liền tuyên bố ủng hộ Minh và ra lệnh cho phe cánh cũng làm như thế.

 

Trước khi quốc hội bàn, đại sé Merillon cố vận động lần cuối cùng cho ḥa b́nh. Ông đến sân bay Tân Sơn Nhất trực tiếp gặp các đoàn đại biểu cộng sản. Nhưng điều làm ông sửng sốt, những người này chỉ nhắc lại những đ̣i hỏi mới nhất của đài phát thanh Hà Nội. Họ đồng ư đem lại ḥa b́nh với điều kiện quân Mỹ rút hết, hoàn toàn và từ chối không đàm phán với Minh. Polgar cũng đi thăm ḍ nhưng chỉ được trả lời: đă quá muộn, không thể nào có thoả hiệp.

 

Polgar bất b́nh, tưởng tai ḿnh nghe lầm. V́ sao lại từ chối thoả hiệp khi Minh đă lên cầm quyền? Không một lúc nào, ông có thể nghĩ rằng quân Bắc Việt Nam uy hiếp về mặt quân sự không phải v́ những lư do chính trị mà v́ những lư do hoàn toàn quân sự.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, một số nhà quan sát cũng lạc quan như ông. Mặc dù Schlesinger nghi ngờ, những người nhận định t́nh h́nh ở bộ quốc pḥng, trong báo cáo ngày 27 tháng 4, cũng viết: “Những cuộc bắn phá bằng rốc kết sáng nay nhằm mục đích ép Nam việt Nam mau chóng thương lượng. Có thể cộng sản sẽ hoăn cuộc tiến công ồ ạt vào Sài G̣n để nghiên cứu khả năng chính trị”. Cùng lúc ấy, những sư đoàn của tướng Dũng đă mở giai đoạn đầu của cuộc tiến công cuối cùng.

 

Tối ấy, khoảng 20 giờ, lúc tôi rời được pḥng làm việc, th́ tôi biết sắp đến lúc kết thúc. Đường Sài G̣n ra vũng Tàu bị cắt nhiều quăng. Không c̣n liên lạc được với 700 quân c̣n lại của sự đoàn 18 Nam Việt Nam đóng ở phía Đông Biên ḥa và đường số 4 về đồng bằng sông Cửu Long cũng bị ngăn chặn ở nhiều nơi. Sài G̣n trở thành một đảo, liên lạc với bên ngoài bằng một câu duy nhất, cầu hàng không!

 

Trên đường về, tôi tạt vào nhà Joe Kingsley, uống một ly martin cho khoẻ. Mặc dù có nhiều sự kiện trong ngày. Kingsley (tr.292) vẫn vui vẻ. Tôi nhanh chóng khám phá ra v́ sao. Chúng tôi đang uống ly thứ hai th́ có người gơ cửa. Joe nói: đó là cô Tuệ. Anh mở cửa, một phụ nữ Việt Nam xinh đẹp khoảng 19 tuổi bước vào, nét mặt tươi cười, ngực đồ sộ. Đó là một chiêu đăi viên của ba “Mimi”. Cô ta không muốn rời thành phố với những cô khác. Cô đang t́m khách. Tôi quyết định chiều cô và anh cũng thế. Đêm nay, cô ở với anh trong nhà này.

 

Thú vui và mệt nhọc không hợp nhau. Dù sao cũng không phải pḥng tôi. Tôi khó chịu v́ Joe quá săn sóc tôi. Tôi định từ chối món quà nhưng Joe không nghe. Đă quá giờ thiết quân luật, không cho cô gái về được nữa.

 

Và không biết làm thế nào, tôi dẫn Tuệ sang pḥng tôi. Cô nhún vai khi bước vào trong pḥng. Gian nhà lộn xộn, mất trật tự, ḥm xiểng để khắp mọi nơi. Tôi đưa nước ra uống, chúng tôi ngồi nói chuyện. Một lúc sau, tôi thấy ư định của Joe không phải là không tốt. Nhưng chuông điện thoại reo lên: viên chức thường trực như thường lệ gọi tôi. Họ vừa nhận được tin của đài Hà Nội, rất cần tôi phải đến sứ quán ngay.

 

Tôi bảo Tuệ ở lại coi như nhà ḿnh và ra xe đi. Phố xá vắng tanh. Đây đó có hàng rào dây thép gai, mấy người lính dân vệ dưới 20 tuổi ngủ trên hè.

 

Viên thuốc đài Hà Nội mới gửi càng khó nuốt. Họ nói: “việc thay đổi chính phủ ở Sài G̣n, đuổi Hương, đưa Minh lên thay qua cũng chỉ là một tṛ gian giảo, nham hiểm định thay Thiệu - Hương bằng một bọn tay sai khác để cứu văn chế độ Sài G̣n”. Polgar có cần có thêm chứng cớ để hiểu rằng không có vấn đề thương lượng. Minh cầm quyền cũng chẳng ăn thua ǵ. Tôi gọi ông đọc qua dây nói tuyên bố của Hà Nội. Ông lau bàn rồi mắc day nói vào.

 

Khi tôi trở về nhà th́ Tuệ đă ngủ say giữa giường tôi. Có tiếng đạn rốc kết nổ xé tan bầu không khí yên tĩnh ban đêm cô cũng không dậy. (tr.293)

                              

HỌ ĐANG Ở CỬA

 

Đó là một buổi sáng mát mẻ và sương mù, một buổi sáng hiếm có ở Sài G̣n. Binh Minh vừa qua, quân đặc công Bắc Việt Nam đánh phá và đốt ngay một kho của chi nhánh cơ quan phát triển Mỹ bên kia  Minh vừa qua, quân đặc công Bắc Việt Nam đánh phá và đốt ngay một kho của chi nhánh cơ quan phát triển Mỹ bên kia sông. Họ chiếm luôn hai vị trí tiền tiêu của chính phủ bên kia cầu Tân Cảng, cách trung tâm thành phố vài kilômét. Họ đặt một khẩu liên thanh giữa cầu, bắt đầu bắn vào mục tiêu di động. Phía chính phủ cho máy bay lên thẳng vũ trang đến phản kích. Cầm tách cà phê buổi sáng, tôi cùng Joe đi lên mái nhà sứ quán, xem họ bắn. Kể từ năm 1968, chiến tranh chưa bao giờ gần Sài G̣n như hôm nay. Họ chiếm cầu nên xa lộ Sài G̣n - Biên Ḥa không đi được. Biên Ḥa cũng bị đánh phá không ngừng, lính đào ngũ đă cướp phá Sở chỉ huy Quân khu III.

 

Ở phía Nam, nhiều đơn vị quân Bắc Việt Nam từ đồng bằng tràn lên đường số 4, thâm nhập vào ngoại ô Sài G̣n. Về phía Tây Bắc, đêm qua, Tây Ninh bị bắn phá dữ dội. Sư đoàn 25 Nam Việt Nam cố phá vỡ pḥng tuyến của quân Bắc Việt Nam trên đường số 1 về Sài G̣n mà không ăn thua

 

Các đường chính về thủ đô đều bị cắt làm cho quân lính mất tinh thần và không c̣n nguồn tiếp tế, không c̣n đường rút lui. Nhưng có thể có một vài thuận lợi. Do quân Nam Việt Nam phần lớn bị bao vây bên ngoài thành phố nên Sài g̣n may ra không bị đánh. Quân Bắc Việt Nam không có lư do ǵ để phá huỷ Sài g̣n, đội quân thua trận càng không thể phá huỷ nó được. Bóc vỏ củ hành, tướng Dũng đă cứu chúng tôi!

 

Các ông Lê Đức Thọ và Phạm Hùng vừa đến Sở chỉ huy tiền phương của tướng Dũng, cách Sài G̣n 48 kilômét về phía Bắc. Các ông nhanh chóng cho tướng Dũng biết t́nh h́nh chính trị và nhắc lại chỉ có thắng lợi quân sự thôi! Tướng Dũng tán thành và quay lại với bản đồ tác chiến. (tr.294)

 

Thủ đô căng thẳng như da mặt trống. Tiếng súng ở phía cầu Tân Cảng vang dội đến trung tâm thành phố. Phố xá đầy binh lính và dân thường từ đồng quê chạy ra bằng chân, xe hơi, xe đạp. Dọc các phố phụ sĩ quan cảnh sát và quân đội cởi binh phục, mặc quần áo thường, để khỏi bị bắt.

 

Đến chiều, hơn sáu ngh́n người Việt Nam sợ hăi tập trung trước cửa phái bộ quân sự. Những người Mỹ ra đi chưa nhiều - cả ngày mới được 123 người, v́ một số muốn ở lại thu xếp cho xong công việc. Martin muốn người Mỹ đi nhanh, tất cả các nhân viên không cần thiết đi ngay, nhất là những viên chức thuộc phái bộ quân sự, như ông đă hứa với Bắc Việt Nam, đi trước ngày 30 tháng 4.

 

Trên các đảo Guam và Wake, các trung tâm đón tiếp chật ứ người tị nạn. Trong số 20 ngh́n người đến từ đầu tháng mới có 12 ngh́n người đi California, ở căn cứ không quân Travis. Những người khác, do quan liêu, giấy tờ, chưa nhúc nhích được. Cơ quan nhập cư phải chịu trách nhiệm một phần về t́nh trạng này. Họ cử đến đây có 90 viên chức.

 

Lúc trận đánh cầu Tân Cảng diễn ra, bốn trong số năm tàu đậu gần đấy đă nhổ neo đi Vũng Tàu, không chở ai cả. Tàu thứ năm cùng với ba tàu kéo và bốn sà lan chạy ra quân cảng, chắc chắn và gần trung tâm thành phố hơn.

 

Phái bộ quân sự tiếp tục cho rằng sà lan không phải là phương tiện tốt để chở người di tản, trái lại, sứ quán đă nghĩ đến việc sử dụng sà lan v́ sứ quán biết rơ là cẩu hàng không không thể chở hết người ghi trong danh sách.

 

Buổi sáng, một đám đông người mất trật tự đă tràn vào sân chơi đằng sau sứ quán. Người Việt Nam mỗi lúc một đông, nhất là những nhân viên làm việc cho các cơ quan của sứ quán. Họ đến, đem theo giấy giới thiệu, hy vọng có một chỗ ra sân bay. Nước bể bơi không thay mấy ngày qua, vàng như nước tiểu. Vẫn có người tắm giặt. Căng tin đă đóng cửa v́ người phục vụ cuối cùng đă đi Guam. Một người Mỹ ở bộ phận hành chính của sứ quán lợi dụng lúc bấy giờ đem bán những bản khai danh dự cho người Việt Nam với giá đắt. (tr.295)

 

Giữa buổi sáng, một nữ Hoa kiều tôi quen biết từ lâu gọi dây nói đề nghị tôi giúp đỡ. Người chồng Mỹ của chị đă bỏ rơi chị ở lại với đàn con. Chị chẳng biết trông cậy vào ai lúc này. Tôi bảo với chị rằng tôi đang bận chưa giúp được chị. Một giờ nữa, chị gọi lại tôi thử xem. Yên lặng một lúc ở đầu đường dây đằng kia. Rồi chị b́nh tĩnh nói: “Nếu anh không giúp tôi, tôi sẽ tự tử với các cháu. Tôi đă mua thuốc độc rồi”. Tôi liếc nh́n giấy tờ xếp thành đống trước mặt. Polgar muốn tôi thảo nhanh một bản nhận định t́nh h́nh có lẽ chẳng dùng làm ǵ cả. Tôi không thể bỏ nơi đây được. Tôi bảo chị: Một giờ nữa, gọi lại. Tôi sẽ giúp chị”.

 

Như đă hẹn, một giờ sau, chị gọi tôi những tôi không có trong pḥng làm việc. Chị để lại một mẩu giấy: “Tôi chờ anh, chào anh”. Đó là lần cuối cùng, tôi nhận thư chị.

 

C̣n các đồng nghiệp của tôi, họ ném vào ḷ sưởi hàng đống hồ sơ. chỉ mấy giờ, mọi cái trong nhà đều đầy tro, khói.

 

Các người phụ trách chi nhánh Mỹ cơ quan AID xin phép gửi hồ sơ quí bằng máy bay đi Thái Lan hay Philippines. Đại sứ không đồng ư, theo ông, sau khi ngừng bắn, vẫn c̣n th́ giờ.

 

Trong khi ḷ sưởi ngốn hàng đống hồ sơ, báo cáo, tin t́nh báo và nhiều giấy tờ, công văn th́ nhiều viên chức khác gói hàng bó tiền. Buổi sáng, phái bộ quân sự đă rút trong tủ sắt ra ba triệu đôla. Để trả phụ cấp đi đường cho các nhân viên sứ quán. Đến trưa, trong số 900 người Việt Nam giúp việc chỉ c̣n 20 người chưa được lĩnh tiền.

 

Trong khi đó, ở cổng sau sứ quán, nhiều xe của chính phủ Nam Việt Nam đến. Một viên tướng, một đại tá, một nhân vật chính trị từ xe chui ra. gật đầu chào lính gác rồi chạy vào thang máy. Họ ra đi. Từ sáng sớm, những máy bay lên thẳng của không quân Mỹ không ngừng đỗ xuống mái nhà, bay đi chở theo giới thượng lưu Sài G̣n đến sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đấy máy bay Mỹ đă chờ họ.

 

Sáng ấy, người khách quan trọng nhất là tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu
Tướng Cao Văn Viên (1921-2008)
Tướng Cao Văn Viên (1921-2008)
trưởng. Ông đến sứ quán, chào lính gác (tr.296), nhân viên bộ ngoại giao đang mở cửa cầu thang. Ông tiến vào - cửa đóng. Chuyến “du lịch” cuối cùng của ông bắt đầu. Sau này tướng Smith nói: “Đó là một con người sung sướng. Khi ông đến phái bộ quân sự, ông xử sự như đồ con nít. Ông không giấu được vui vẻ mừng khi ông đổi binh phục lấy những quần áo thường. Một máy bay lên thẳng chở Viên ra tàu của Hải quân đận ngoài khơi
. C̣n tổng thống Hương, ông ta thuyên chuyển một số người chỉ huy quân đội, thực tế quân đội không c̣n tư lệnh nữa. Điều đó không ngăn cản các tướng, nhất là Quang và Kỳ, cấu xé nhau.

 

Trong bữa ăn sáng, Bill Johnson viết vội mấy chữ cho vợ là Pat, đang ở Bangkok. Anh viết: “Đang đi đến dàn xếp thương lượng, em đừng lo”. Rồi anh lấy xe đi ra thành phố thăm mấy quan chức cao cấp thuộc Nha cảnh sát đặc biệt và Bộ thông tin. Anh định để họ di tản bằng một máy bay đặc biệt do CIA tổ chức hôm đó. Anh cho rằng nếu có thành lập chính phủ liên hợp th́ những người trên ở ngoài có lợi hơn. Anh nói: Tôi giúp họ không phái v́ t́nh thầnh nhân đạo, tôi giúp họ v́ tôi nghĩ sau này họ có thể giúp ta thành lập ở nước ngoài một mạng lưới t́nh báo cho Sài G̣n.

 

Trong cuộc thảo luận giữa anh với những người nói trên, anh không hề đề cập đến việc di tản tám trăm nhân viên người Việt Nam mà tính mạng có thể bị uy hiếp. Anh giải thích: Sự chăm sóc của chúng tôi hoàn toàn do nghiệp vụ chứ không do ḷng nhân đạo.

 

Gần trưa, Johnson chào vĩnh biệt viên chỉ huy mới Nha cảnh sát đặc biệt. Anh thuật lại: “Ông ta khóc, v́ biết rằng nay là chỉ huy th́ mai kia sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Tôi bắt tay, vỗ vai ông ta và nói: cố dũng cảm lên!”.

 

Hai ngày sau, tên này đă gí khẩu súng Browning vào đầu tự bắn vỡ sọ.

 

Sáng 26 tháng 4, Johnson c̣n làm mấy tṛ nữa để hy vọng sau này đánh lừa cộng sản. Anh ra lệnh làm một số tài liệu mật giả mạo, xếp trong tủ sắt của sứ quán. Trong số này có cả (tr.297) danh sách nhân viên t́nh báo CIA, nhiều người là quan chức cao cấp của cộng sản...

 

Polgar theo dơi mọi việc đang xảy ra. Ông cố pha tṛ nhạt. Joe Kingsley, cáu kỉnh nói đến ổ liên thanh trên cầu Tân Cảng. Polgar bảo anh đi xe ra xem thế nào, làm như đi xem một việc b́nh thường. Joe mặt tái xanh nói: “Ông cho tôi một tay súng giỏi để bảo vệ”. Polgar bảo anh đi t́m ở bộ phận khác rồi hất tay ra lệnh cho anh đi.

 

Joe vừa đi, Polgar gọi tôi lại giao cho tôi một nhiệm vụ đặc biệt. Tôi phải mang một bức thư đến cho người bạn lâu đời của ông là Malcolm Brown, phụ trách pḥng phóng viên báo New York Times. Đây là những câu hỏi mà Brown sẽ đặt ra với người của anh trong Chính phủ Cách mạng lâm thời: Cộng sản có đồng ư để Minh làm Quốc trưởng không? Có đồng ư đề người Mỹ c̣n có mặt ở Sài g̣n không? Ông nói với tôi: Phải đi nhanh, đừng đi xe anh, lấy xe tôi mà đi. Út, người lái xe của tôi rất thạo.

 

Ông nói đúng, Út lách qua hàng trăm xe Peugeot và Honda trên đường Tự Do trong năm phút.

 

Brown đi vắng. Hai nhà báo đang ngồi chờ. Tôi đưa cho họ thư của Polgar đề nghị họ giao cho Brown. Họ có vẻ hơi ngượng nhưng rất cảm ơn tôi. Sau tôi mới biết đó là hai phóng viên của tờ Washington Post. Tôi đă giao một thư tối mật của Polgar vào tay những người đang cạnh tranh. Thảo nào họ cảm ơn ghê quá. Dù sao Brown cũng nhận được thư ngay và gửi đi Tân Sơn Nhất cho đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời. Họ không trả lời ngay. Nhưng đài phát thanh Hà Nội trong một buổi phát thanh thường đă đưa tin phái bộ quân sự Mỹ sẽ rút khỏi Sài G̣n ngày 30 tháng 4. Họ cũng biết phái bộ này di tản đến nơi rồi.

 

Vẫn c̣n bám lấy ư nghĩ dàn xếp, Polgar bắt đầu t́m giải pháp đẩy mạnh di tản. Suốt buổi sáng ông nói chuyện với Martin ở pḥng đại sứ. Họ thảo luận một vấn đề thoạt đầu tưởng như chẳng ra sao, đó là việc chặt cay me mọc giữa sân sứ quán (tr.298) để máy bay lên thẳng có thể hạ cánh chở người đi di tản trong trường hợp cấp bách. Martin phản đối. Ông nói chặt cây me sẽ được coi là dấu hiệu người Mỹ thất bại phải ra đi. Hơn thế, đến ngày E, sứ quán chỉ cho nhiều nhất hai trăm người, không cần phải chặt cây.

 

Cách đó không xa, trong biệt thự riêng của ḿnh, ở số 3 đường Trần Quí Cáp, tướng Minh, tổng thống mới, đang ngẫm nghĩ. Tuỳ viên báo chí của ông ta đề nghị đầu hàng không điều kiện cho xong việc. Minh từ chối đi xa như thế. Ông cho rằng quân đội c̣n có thể làm một công cụ chính trị. Tuy nhiên Minh có một cử chỉ hoà giải: ra lệnh cho phó tổng thống nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn Huyền, báo tin chính phủ Minh không phản đối việc người Mỹ phải ra đi trong 24 giờ.

 

Suốt buổi sáng, Minh cố moi người trong giới chính trị Sài G̣n, để thành lập chính phủ. Nhiều người được mời đến. Minh bắt tay từng người, gật đầu chào, mời vào trong vườn, hỏi ư kiến rất lễ phép nhưng vẫn có vẻ thờ ơ. Vừa nói chuyện, ông vừa nh́n hoa phong lan. Nhưng không có đối tượng nào Minh vừa ư. Người này quá diều hâu, người kia quá bồ câu. Cuối cùng Minh quyết định chỉ lựa chọn sau lễ tuyên thệ và lúc này ông cầm quyền cùng với phó tổng thống Huyền và thủ tướng Mẫu.

 

Buổi sáng, tướng Pháp Vanuxem đến t́m Minh để giục hắn tiếp tục chiến đấu. Vanuxem được uống nước trà. Cả tướng Timmes, buổi chiều cũng đến ba lần hỏi Minh về chính phủ mới, cho ông ta biết phái bộ quân sự sẽ ra đi và đặt một đường dây thẳng từ dinh tổng thống đến sứ quán.

 

Timmes hỏi Minh nghĩ ǵ về tương lai. Ông ta mỉm cười và nói: c̣n khả năng thương lượng, vả lại Sài G̣n, Tây Ninh và vùng đồng bằng vẫn thuộc về ta. Timmes hỏi lại: Nếu những nơi ấy mất th́ ông tính sao? Sứ quán sẵn sàng giúp ông, dành cho ông chỗ tạm trú. Minh một lần nữa lại mỉm cười, lắc đầu: “Người Việt Nam là nhân dân của tôi, tôi (tr.299) không muốn đi”. Tuy nhiên, Minh cũng đề nghị giúp các cháu và con gái ông ta, vợ một viên đại tá, di tản.

 

Trước bữa ăn sáng, Erich Von Marbod đi lẫn vào đám đông trên lầu ba của sứ quán. Anh định nói chuyện với đại sứ. Trông thấy Martin, anh giật ḿnh, lo sợ. Mặt xám, ngơ ngác Martin bị cảm ho, tiếng khàn. Marbod cẩn thận đề nghị cho di chuyển khỏi Sài g̣n cả phương tiện chiến tranh c̣n lại.

 

Maritn cúi xuống bàn, t́m một bức điện. Ông đă t́m thấy và đưa cho Marbod. Sau này, ông kể lại: “Tôi đă nhắc lại với Marbod những điều đă nói với anh nhiều lần: Không được làm ǵ có thể giảm năng lực chống cự của quân đội Nam Việt Nam, chống cự được càng lâu càng tốt. Mặc dù hôm ấy, ngày 28 tháng 4, quân đội Nam Việt Nam không c̣n lực lượng, không c̣n ư chí chiến đấu chống quân Bắc Việt Nam. Nhưng dù sao, quân đội Nam Việt Nam cũng là con chủ bài quan trọng trong trường hợp chính phủ Minh có thể mở cuộc đàm phán”. Marbod rất ngạc nhiên khi nghe Martin nói trong ba ngày nữa sẽ có ngừng bắn và có ba mươi ngày để thành lập chính phủ liên hợp. Một điều khoản của thỏa hiệp với cộng sản là phải giúp quân Nam Việt Nam và rút vũ khí , đạn dược đi. Von Marbod có đủ th́ giờ để cứu phương tiện chiến tranh. Von Marbod liếc mắt đọc mấy bức điện. Không có bức nào chứng minh sự lạc quan ấy. Trước khi Marbod tỏ rơ sự nghi ngờ của anh, Martin cho anh biết ông chắc chắn như thế v́ người Pháp và một số người Việt Nam bảo đảm với ông điều đó.

 

Sau buổi nói chuyện Marbod đi xe cùng đại sứ về nhà ông ăn sáng. Anh thấy Martin chưa hề thu nộp hành lư riêng. Bà Martin vẫn c̣n ở Sài G̣n. Marbod vội kêu lên: Trời, xin ông cho bà Dottie đi ngay. Martin từ chối: việc bà ấy có mặt ở đây làm yên ḷng người Việt Nam!

 

Một giờ sau Marbod t́m cách sửa đổi lệnh của đại sứ. Ông cấm không cho di chuyển vũ khí ở Sài G̣n nhưng không nói đến đạn dược ở Biên Hoà. Anh liền cử Rich Armitage, người phó của anh, dùng máy bay lên thẳng đến Biên Ḥa để vận chuyển vũ khí. (tr.300)

 

Tiếp đó anh đến gặp tướng Khuyên ở bộ tổng tham mưu, báo cho ông ta quyết định di chuyển vũ khí ở Biên Ḥa. Anh đ̣i không quân phải cho các máy bay đi Cần Thơ và Phú Khánh và khuyên phải cho phá huỷ những kho vũ khí ở Biên Ḥa mà Armitage không chuyển đi được. Khuyên hứa sẽ cố thực hiện.

 

Von Marbod sắp từ biệt Khuyên th́ có điện thoại của Minh ra lệnh giữ lại một ít lâu các kho vũ khí, đạn dược. Minh nói: “sắp có ngừng bắn tại chỗ!”

 

Armitage thuật lại: khi tôi đến sân bay Biên Ḥa, có 50 người Việt Nam đang trông nom vũ khí. Tôi hứa đưa họ về Sài G̣n nếu họ giúp tôi khuân vác lên máy bay. Tôi cũng nói: phải hạ sát ngay bất cứ kẻ nào định vượt rào để ngăn chúng ta. Trong nửa giờ sau, mấy kẻ đào ngũ định nhảy qua hàng rào dây thép gai, chúng tôi đă đuổi chúng đi và đóng gói được vũ khí vào ḥm.

 

Chúng tôi đang tiếp tục làm việc th́ chợt Von Marbod gọi radio cho tôi. Sau này mới biết phái bộ quân sự bắt được điện của Bắc Việt Nam nói: Chúng ta đang bao vây địch ở Biên Ḥa, không để chúng thoát!”

 

Tôi trả lời Von Marbod: tôi không thể đi nếu không cho 50 người Việt Nam đi theo. Marbod ra lệnh: “đồng ư, cho họ lên máy bay lên thẳng. Nhưng đi ngay!” Tôi đă làm như thế.

 

Một giờ sau, Von Marbod đề nghị với tướng Smith và Polgar sử dụng máy bay anh chưa huy động. Smith chấp nhận ngay và cho chuyển đi được nhiều vật liệu và hồ sơ. Polgar không thích làm thế. Ông bảo Marbod: “Tôi sẽ nói chuyện với anh về vấn đề này”. Ông không nói nữa, mất cơ hội sử dụng máy bay để di tản nhân viên CIA trong giờ phút cuối cùng này.

 

Đến trưa, ngồi trên xe Ford Pinto, tôi lách vào một con đường nhỏ đi đến câu lạc bộ thể thao. Nơi đây tôi đă được hưởng nhièu buổi chiều vui vẻ. Ṭ ṃ, tôi muốn biết xem có người Việt Nam giàu có nào vẫn cảm thấy ḿnh b́nh yên, đến (tr.301) đây không. Không, chỉ có một kẻ giở người, hay là một nhân viên cộng sản?

 

Tôi thất vọng khi thấy nơi tắm nắng và nơi uống cà phê bên bể bơi vắng tanh. Có một nhóm người Pháp ngồi ở một bàn trong góc. Họ nh́n tôi vẻ hằn học h́nh như tức giận v́ thấy một người Mỹ lúc này dám vào đây, xen vào cuộc nói chuyện thân mật của họ.

 

Đến trưa, mưa đầu mùa rơi rả rích. Bầu trời sẫm tối. Tiếng sấm xem lẫn với tiếng đại bác bắn vào Biên Ḥa. Đến 16 giờ, nhiều nhân vật họp trong pḥng tiếp khách của phủ tổng thống. Khoảng gần hai trăm người gồm nghị sĩ, tướng đă nghỉ hưu hay đang tại ngũ, một số người thuộc phe đối lập. Một số, hàng năm nay, chưa bước chân vào ngôi nhà đồ sộ này. Họ đến mừng quốc trưởng mới: tổng thống Dương Văn Minh.

 

Tổng thống vừa thoái vị Hương khai mạc buổi lễ bằng một bài diễn văn không đầu không đuôi, chắp vá, đầy những lời tự khen, tự bào chữa. Khi ông đọc xong, hai sĩ quan tiến ra, thay dáu ấn tổng thống bằng những phù hiệu riêng của Minh tiêu biểu cho đạo Khổng. Có tiếng x́ xào khen ngợi.

 

Bài diễn văn đầu tiên của Minh đặc biệt ngắn và thiếu thực tế. Nói thẳng với Chính phủ Cách mạng lâm thời - lần đầu, một thủ lĩnh Sài G̣n chính thức công nhận Chính phủ Cách mạng - Minh đề nghị ngừng bắn ngay và họp một hội nghị ḥa b́nh trong khuôn khổ hiệp định Paris. Ông hứa thành lập một chính phủ dựa trên cơ sở thật rộng răi, có nhiều nhân vật độc lập, “nhất quyết ḥa hợp”. Minh nói: việc tôi làm trước hết là thả những người bị bắt giam v́ lư do chính trị và băi bỏ chế độ kiểm duyệt đối với các báo.

 

Những điều cam kết ấy đáp ứng rơ ràng những đ̣i hỏi của Chính phủ Cách mạng muốn làm tiêu tan hiệu lực của bộ máy nhà nước và gây cho Martin một sự khó chịu khi ông ngồi nghe bản dịch trong pḥng làm việc. Biết bao nhiêu lần, ông đă tŕnh bày trước quốc hội và nhiều cơ quan khác: ở miền Nam Việt Nam, không có tù chính trị, báo chí ở đây là báo chí tự do nhất thế giới. Rơ ràng, tổng thống mới không đồng ư với nhân định của ông.

 

Minh cũng nói mấy lời với quân đội Nam Việt Nam: “Các chiến hữu có một nhiệm vụ mới bảo vệ phần lănh thổ c̣n lại. Giữ vững tinh thần. Siết chặt hàng ngũ. Quyết hoàn thành nhiệm vụ. Khi có lệnh ngừng bắn, các chiến hữu thực hiện nghiêm chỉnh lệnh theo điều khoản của hiệp định Paris, và giữ vững trật tự an ninh những vùng các chiến hữu bảo vệ”. Những lời kiên quyết ấy không phải là lời của một kẻ sắp đầu hàng. Rơ ràng Minh c̣n tin rằng c̣n có thể thương lượng được!

 

Sau khi giới thiệu phó tổng thống và thủ tướng chính phủ. Minh cúi đầu chào những người tới dự lễ. Một ánh đèn chụp ảnh loé sáng, cử toạ vỗ tay. Lúc ấy là 17,50 giờ.

 

Mười phút sau, tư lệnh không quân cộng sản cho máy bay lượn trên toàn thành phố.

 

Trái với dư luận của nhiều nhà quan sát, cuộc oanh tạc bằng máy bay chiều nay không phải là câu trả lời bài diễn văn của Minh. Một nhân viên t́nh báo của tôi cho biết: trận ném bom đă được ấn định từ ngày 17 tháng 4, hàng tuần nay rồi. Trùng hợp với lễ tuyên thệ của Minh là một điều mỉa mai của số phận.

 

Bản tin chính thức của phái bộ quân sự khô khan và rơ ràng: ngày 28 tháng 4, 18 giờ, năm máy bay A-37 (máy bay phản lực cộng sản chiếm được) trang bị ĐK 81 đă bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất, bom rơi trúng nhà để máy bay của không quân Nam Việt Nam phá huỷ nhiều chiếc (ít nhất có ba máy bay AC-119 và nhiều máy bay C-47). Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm soát. Không có máy bay của không quân Hoa Kỳ bị bom.

 

Trong hồi kư của ḿnh, tướng Dũng viết: “Lúc 15 giờ 40 phút, một biên đội năm chiếc A-37 các đồng chí ta lái do Nguyễn Thành Trung dẫn dường, đă cất cánh từ sân bay Thành Sơn đi đánh Tân Sơn Nhất. Một trận phối hợp tuyệt đẹp, một trận đánh hiệp đồng quân chủng, binh chủng đầy đủ nhất từ trước đến nay của quân đội ta vào một thời điểm hết sức quan (tr.303) trọng có tác động lớn đến diễn biến chiến dịch...Chính đồng chí Tư lệnh quân chủng Pḥng không - Không quân đă đến ngay sân bay Thành Sơn cùng các đồng chí tại đó tổ chức kiểm tra và động viên anh em trước khi cất cánh, đi làm nhiệm vụ.

 

Tôi ở trong pḥng làm việc, trên lầu thượng của sứ quán khi những máy bay đầu tiên bay tới. Trước đó, có mấy tiếng súng đơn độc. Rồi bỗng nhiên, đất rung giữa tiếng đạn đại bác và súng liên thanh nổ liên tục. Tôi cố đứng dậy, hai đầu gối run cầm cập. Một lần nữa, tôi cố ḅ ra hành lang. Các đồng nghiệp của tôi chen nhau trong gầm cầu thang. Mấy người ḅ ra h́nh như muốn nậy sàn gác để trốn. Tôi cố lấy lại tinh thần, chạy về pḥng, quỳ bên máy điện thoại, an toàn, tôi gọi phái bộ quân sự, c̣n tay kia vội tắt đèn. Tôi không c̣n nghe rơ tiếng ở bên kia đầu dây nói v́ tiếng vang của bom nổ và tiếng súng tự động. Chợt anh bạn ở phái bộ quân sự hét lên: “Chúng ta bị oanh tạc rồi. Nhiều máy bay A-37 đang bổ nhào xuống đường băng. Một hay hai máy bay F-5 có lẽ cất cánh được c̣n hầu hết những máy bay khác đều nằm tại chỗ. Nguy kịch. Không hiểu nơi người tị nạn ở có bị ném bom không? C̣n chỗ các anh thế nào? Tôi trả lời: “Tôi chưa biết nói ǵ. Có cảm giác máy bay đang bay trên đầu. Ngoài phố, mọi người bắn loạn xạ”.

 

Tôi đến pḥng Polgar. Hai thư kư của ông, sợ hăi đang trú sau bàn, gần cửa sổ. Tôi hét lên: “Xuống gầm bàn”, và chạy đến núp trước họ.

 

Polgar đứng gần cửa sổ, cố theo dơi máy bay. Tôi ấp úng kể lại: vừa gọi dây nói cho phái bộ quân sự...và chờ ông hỏi. Ông vẫn đứng lặng yên, đăm đăm nh́n bức tường bằng xi măng làm màn ảnh, ở bên kia cửa sổ. Tôi nói: “ông nên tránh xa chỗ này, đề pḥng một viên đạn lạc”. Ông vội tỉnh lại, quay gót, theo tôi vào pḥng đợi. Pittman cố động viên các cô thư kư. Bỗng nhiên, một tiếng kêu vang dội từ cầu thang lên: “Họ đang ở cửa! Họ đang ở cửa! Tôi không phải là người duy nhất nhớ lại cảnh năm 1968, ngày đặc công Bắc Việt Nam tràn vào sứ quán. Từ đầu đến cuối gầm cầu thang, chỉ có tiếng sửa lại súng. Các viên chức, người nọ đến người kia, ai cũng xem lại bao đạn.(tr.304) Tôi lấy khẩu 38, dắt lên hông, người nào đó từ pḥng bên cạnh ra tay cầm khẩu M16. Tiếp đó, nghe thấy tiếng chân người trên cầu thang. Hai lính thuỷ, mặc áo giáp chắn đạn, đi lên mái nhà. Một người khi đi qua kêu lên: “Báo động giả. Sứ quán không có ǵ nguy hiểm”.

 

Trên lầu thượng sứ quán, Polgar cố khôi phục lại trật tự. Giơ tay lên, ông nói: Thôi, xếp vũ khí lại. Chúng ta là viên chức t́nh báo chớ không phải lính xung kích. Chúng ta đừng ḥng chống lại quân đội Bắc Việt Nam.

 

Trong khi mỗi người chúng tôi xếp vũ khí lại, và không bằng ḷng th́ Pittman lấy một điếu thuốc, châm lửa vừa hút mấy hơi, vừa nghĩ, anh gợi ư tổ chức một trung tâm kháng cự tạm thời ở lầu dưới. Ở đó ít sợ máy bay hơn. Polgar đồng ư và bảo tôi: “Xuống viết bản báo cáo về t́nh h́nh vừa qua. Tiếp tục cho tôi tin tức và cố liên lạc với các nhân viên của ta ở phái bộ quân sự”. Đường dây nói trực tiếp và trạm vô tuyến điện ở trên lầu sáu, cạnh pḥng làm việc của tôi. Bấy giờ tôi mới biết Polgar chỉ định tôi ở lại lầu trên. Tôi bối rối!

 

Tôi đang cắm cúi làm việc và trả lời dây nói, chợt nhớ đến Joe Kingsley. Đúng lúc phải nhờ anh giúp và hỏi kinh nghiệm chiến đấu của anh. Nhưng Joe không có ở pḥng làm việc. Anh ra phố sắm cho vợ chiếc nhẫn và uống mấy ly rượu ở ba.

 

Sau này, anh kể lại: “Tôi đang đi xe giữa đường Tự Do chợt máy bay tiến đánh. Tôi biết ngay cái ǵ xảy ra. Tôi nhảy khỏi xe, chạy lại tủ sắt của “ba”, ở đây có cả một kho vũ khí: súng Thompson, súng M-16, lựu đạn ném tay. Tôi cố mang theo thật nhiều. Lúc ấy, hai lính thuỷ được phân công đến sứ quán ở ba đi ra, lắc lư say rượu. Hai người mặc thường phục. Họ  bảo tôi: cho chúng tôi đi nhờ xe - OK. Rồi tôi ném cho họ khẩu 45 tự động và cùng họ nhảy vào xe. Tôi cầm chặt tay lái, cho xe phóng rất nhanh về sứ quán, xe vừa chạy vừa va phải nhiều xe khác trên đường, c̣n mấy khách đi xe của tôi thỉnh thoảng lại nổ súng. Tôi cầu trời họ không giết ai dọc đường!”.

 

Khi chúng tôi về đến sứ quán th́ cửa đă khóa kỹ. Một lính thuỷ cùng đi với tôi chĩa khẩu 45 vào người gác Việt Nam. Người (tr.305) này kêu lên bằng tiếng Việt Nam: “Không có ch́a khoá, không có ch́a khoá”. Ngươi lính thuỷ không hiểu. anh định bắn vỡ sọ người Việt Nam. Tôi vội cướp lấy khẩu 45, khuyên anh b́nh tĩnh. Chợt, bất ngờ, một tên ngớ ngẩn nào đó, đứng ở ngoài phố, gần sứ quán Anh, bắn vào chúng tôi. Chúng tôi vội nấp vào sau một cây trong khi đó lính thuỷ đi lấy ch́a khoá và mở cửa cho chúng tôi. Chúng tôi chạy qua đường lọt vào sứ quán, đạn bắn vu vơ, réo bên tai tôi. Từ trận Quảng Ngăi hồi năm 1968 đến giờ, chưa bao giờ tôi chứng kiến cảnh lộn xộn như thế!

 

Ở Tân Sơn Nhất, nơi bị ném bom, một số người lại thấy thích thú. Trước trận bom, các nhân viên hai đoàn đại biẻu Chính phủ Cách mạng lâm thời và Bắc Việt Nam đă xuống hầm trú ẩn mà họ đào dưới đất tuần trước. Họ ở đó suốt trận ném bom, nghe dây nói từ thành phố gọi đến và không ngớt khen ngợi tài năng của các phi công.

 

Ở sở chỉ huy phái bộ quân sự, đại tá Legro kém vui. Ông bị nghẹn trong bữa ăn của các sĩ quan với mấy nữ chiêu dăi viên Việt Nam. Một số khóc nức nở không thể nào nín được. Logro vừa dỗ, vừa vỗ nhẹ vào vai cô ta: “Đừng sợ, quân Bắc Việt Nam chưa đến đâu!”.

 

Các nhân viên của đoàn đại biểu Mỹ bên cạnh Uỷ ban quân sự hỗn hợp vội càng chạy từ nhà này sang nhà khác của khu vực phái bộ quân sự để đẩy những người Việt Nam vào góc tướng hoặc xuống gầm bàn và động viên họ giữ b́nh t́nh.

 

Moorefield kể lại: “Ở nơi phân loại người di tản, chúng tôi đang làm việc như điên th́ máy bay bay tới. Tiếng bom nổ rất to. Đèn rơi từ trên trần nhà xuống. Một bóng đèn vỡ rơi trúng bàn của Mc Bride và vai anh. Nhiều tiếng nổ tiếp theo. Khoảng một trăm người Việt Nam đang c̣n làm việc với chúng tôi vừa kêu vừa chạy loạn xạ như đàn gà con bị cáo đuổi. Tôi đứng dậy, cầm khẩu súng, cùng với Bride, xua họ sang một ngôi nhà khác vững chắc hơn ở bên kia phố.

 

Chúng tôi đang chạy th́ ba, bốn chiếc máy bay ṿng lại. Trời đầy khói, mục tiêu chỉ cách chỗ chúng tôi hơn trăm mét, thiệt hại rất nặng.(tr.306)

 

Mặc dù trận ném bom chỉ diễn ra khoảng 15,20 phút nhưng chúng tôi phải ngồi xổm ở nơi trú ẩn đến hai giờ đồng hồ. Tôi rất buồn là máy bay Nam Việt Nam mất quá nhiều th́ giờ để bay lên chống cự. Sau tôi mới biết là họ phải bay ṃ v́ trạm hướng dẫn đă bị hỏng.

 

Thật là chuyện mỉa mai, trong hai năm chiến đấu ở đồng bằng, biết bao nhiêu lần tôi chỉ huy những trận ném bom xuống vùng Việt cộng, nay tôi mới biết rơ một mục tiêu không có bảo vệ th́ như thế nào!

 

Vẫn bảo thủ và bướng bỉnh, Polgar, thoạt đầu cho là trận ném bom do phe cánh Kỳ gây ra, định làm đảo chính chống Minh lớn. Nhưng phóng viên báo New York, một bạn cũ của Kỳ, gọi tôi, cải chính nhận định ấy.

 

Một bản tin sau đă khẳng định là Bắc Việt Nam đă ném bom. Máy bay xuất phát từ căn cứ không quân Phan Rang, trên bờ biển. Khi tôi đưa đến cho ông tin ấy và lời cải chính của phóng viên báo New York, Polgar đang ngồi ở ghé một nữ thư kư trong một pḥng khác và đang đánh một điện cho bộ tư lệnh CIA trên một máy chữ cũ. Ông vừa ở pḥng đại sứ trên lầu ba về. Mồ hôi nhỏ giọt trên đầu hói, ông đang nghỉ lấy lại sức. Ông ghi những tin tức của tôi vào bức điện và bảo tôi gọi cho Malcolm Brown, người của báo New York Times để hỏi xem có phản ứng ǵ về phía đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời ở sân bay Tân Sơn Nhất không.

 

Trước khi tôi gọi được anh th́ Brown đă gọi tới. Anh có vẻ tức giận và hốt hoảng. Anh nói, câu được câu chăng: Đồng nghiệp anh trông thấy một Mig-19 bay trên nóc nhà thờ, gần những ngôi nhà của sứ quán, nhiều máy bay A-37 bay nhiều lượt trên dinh tổng thống. Nhưng những tin tức nhận được từ Chính phủ Cách mạng lâm thời đều xấu cả. Qua dây nói, một người phát ngôn của chính phủ báo cho Brown: “Chính phủ Cách mạng lâm thời không chấp nhận Minh lớn. Hoa Kỳ phải chấp hành những điều khoản I, IV và IX của hiệp định Paris, phải tôn trọng ư chí và quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam. Người phát ngôn nhắc lại những điều khoản của (tr.307) hiệp định, đ̣i người Mỹ phải rút hoàn toàn, rồi mới ngừng bắn...Hai là, Hoa Kỳ phải từ bỏ chính quyền Sài G̣n, đó chỉ là một bộ máy chiến tranh và đàn áp. Những lời tuyên bố của Minh không đáp ứng những đ̣i hỏi ấy!”.

 

Đọc xong tin trên, Polgar tái mặt. chứng cớ rơ ràng những hoạt động của ông không được ích lợi ǵ.

 

Như đă dự kiến, trận ném bom cắt đứt hoàn toàn cầu hàng không. Chỉ mấy phút sau khi máy bay bay qua lần thứ nhất, tướng Smith đă ra lệnh cho hai máy bay C-130 chờ ở phía Đông Nam sân bay Tân Sơn Nhất. Ông cũng ra lệnh cho thuộc hạ đưa tất cả xe ô tô buưt chưa chạy đến tập trung ở các địa điểm đă qui định. Ông đă nhận được lệnh chuẩn bị rút hết trong 24 giờ, ông muốn sau khi tiếng súng ngừng, sẵn sàng cho xe đi đón những người giúp việc.

 

Đến 19 giờ 15 phút, đại sứ Martin gọi trúng Smith hỏi về sự thiệt hại. Nơi phân loại người tị nạn có việc ǵ không? Tướng Smith trả lời: Thưa không việc ǵ. Và ông cũng không biết ở nơi khác có người chết không? Đường băng thế nào? Có thể tiếp nhận được máy bay C-130 không? Smith cân nhắc. Tuy chưa đến tận nơi kiểm tra. Nhưng theo những bản báo cáo đầu tiên và từ cửa sổ ông nh́n ra th́ thấy c̣n nhiều chỗ để máy bay lớn đậu.

 

Đại sứ thở dài, yên tâm. Quả thật, nhiều cộng tác viên trực tiếp của ông trong đó có Polgar đă đề nghị với ông lập ngay cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng. Nhưng việc đó chưa cần v́ vẫn c̣n dùng được đường băng. Một cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng sẽ làm người Việt Nam hoảng sợ. Nhất là, làm mất hy vọng một cuộc dàn xếp thương lượng. Martin quyết định tiếp tục cầu hàng không bằng máy bay thường, đỡ nguy hiểm hơn.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, v́ múi giờ khác, nên lúc ấy mới sáng sớm. Kissinger báo cho tổng thống Ford biết việc ném bom và nói rằng Martin bảo đảm cầu hàng không bằng máy bay thường vẫn duy tŕ được.(tr.308)

 

Tổng thống không bằng ḷng. Ông vẫn chưa hiểu cái ǵ đă đưa người Nam Việt Nam đến thảm họa ngơ cụt không lối thoát ấy. Ông cũng không thấy cần để Martin một ḿnh đưa ra những quyết định quan trọng. Vấn đề đàm phán đặc biệt làm ông suy nghĩ. Schlesinger cho là không có hy vọng ǵ. C̣n Kissinger ngày càng nghi ngờ. Chỉ có một ḿnh Martin nghĩ là có thể lợi dụng thời cơ! Thái độ Colby là sự thỏa hiệp giữa thái độ Schlesinger và thái độ Martin. Ngày 28 tháng 4, Colby nói: “Biên Ḥa và sân bay có thể mất trong mấy giờ nữa. Quân Bắc Việt Nam tiếp tục uy hiếp mạnh. Cuộc kháng cự ở Long Binh (một căn cứ quân sự gần Biên Hoà) chắc không được lâu nữa. Tây Ninh và Long An sắp rơi vào tay cộng sản. Tóm lại quân Bắc Việt Nam đang uy hiếp Sài G̣n. Đối với Minh, thử xem ông ta có thể thương lượng được một cuộc đầu hàng cho phép những người cộng sản giữ một vị trí trong chính phủ Sài G̣n? Không c̣n nhiều thời giờ để đi đến kết quả ấy, từ một đến ba ngày là cùng”.

 

Cuối cùng, sau khi thổ lộ với Kissinger những điều băn khoăn của ḿnh, tổng thống Ford quyết định thỏa hiệp. Đành cho Martin quyết định thời gian đưa người Mỹ đi, trao quyền cho Kissinger nói chuyện với Hà Nội.

 

Khoảng 20 giờ, giờ Sài G̣n, tướng Smith cho phép hai máy bay C-130 đỗ xuống sân bay Tân Sơn Nhất chở 360 người đi, không xảy ra chuyện ǵ. Trong lúc đó, từ Honolulu, đô đốc Gayler gọi dây nói cho Smith phổ biến quyết định mới nhất của Hoa Thịnh Đốn: Đ́nh chỉ ngay tất cả các chuyến bay bằng C-141, để 24 giờ tới, có thể có được 60 chuyến bay C-130. Như vậy sẽ đi tản được mười ngh́n người, trong đó có nhân viên phái bộ quân sự.

 

Tất cả các viên chức dưới quyền sứ quán đều được báo cho biết kế hoạch ấy. Và tất cả những người phụ trách các bộ phận đều được lệnh báo cho các nhân viên và tập hợp các cộng tác viên mà họ muốn đưa đi. Đại sự ước tính phải mất ít nhất hai ngày, đến ngày 30 tháng 4, mới di tản hết các viên chức cao cấp Việt Nam. (tr.309)

 

Trước khi đi ngủ, tôi sang pḥng Joe Kingsley, uống một ly rượu và nói chuyện. Đài radiô đeo dưới thắt lưng tôi, chỉ phát ra tiếng kêu đều đều. Lúc Joe mở cửa cho tôi th́ anh đă uống ly Martin thứ ba. Anh ấp úng: “Cho quên những việc xảy ra ban ngày!” Một anh lính mũ nồi xanh, bạn cũ của Joe đang say tuư luư, đến chỗ tôi: Thuyền gặp gió. Anh chàng ba hoa: “Trời, ḿnh ở lại Sài G̣n, ḿnh muốn đánh đắm tàu”. Joe cho anh uống một viên thuốc dă rượu. Ba chúng tôi ngồi nghiên cứu kế hoạch di tản từ trên mái nhà và thoả thuận với nhau, có việc quan trọng xảy ra ban đêm th́ người này phải gọi hai người kia.

 

Tôi trở về buồng. Trước khi đi ngủ, tôi xếp mũ sắt, áo giáp, khẩu M-16 xuống đất, bên cạnh bàn ngay đầu giường để trong đêm tối có thể dễ dàng t́m thấy



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend