NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIID & Kết)


    Chúng ta hăy nh́n hoạt cảnh “Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn” của đế quốc Mỹ, thật là hỗn loạn không có kế hoạch và định hướng rơ ràng cho kiều dân Mỹ và bọn Việt gian Ngụy VNCH di tản có trật tự, v́ Hoa Thịnh Đốn và ṭa Đại sứ Mỹ vẫn c̣n mơ tưởng sẽ thành h́nh một chính phủ liên hiệp, có được thành phần Ngụy VNCH tham gia trong đó.

 

    Cho nên, khi đế quốc Mỹ, hiểu thấu triệt con đường cách mạng thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh và đảng CSVN:  “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của ḿnh và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”, th́ cuối cùng con đường di tản bằng hàng không (cầu không vận) phải hủy bỏ v́ đường băng Tân Sơn Nhất không xử dụng được, chỉ c̣n giải pháp di tản bằng trực thăng vận mà thôi!

 

    Đoạn cuối đời, mặt thật của bọn tướng tá và quan chức Ngụy quân - Ngụy quyền hơn 20 năm làm tay sai Việt gian phản quốc cho đế quốc Mỹ, đă tháo chạy theo quan thầy Mỹ thật là ô nhục vô cùng…

 

    Tướng Timmes hỏi: “V́ sao người Pháp lại nghĩ thế?” Tướng Minh trả lời: “Trước hết, người Pháp biết rằng Trung Quốc phản đối việc Bắc Việt Nam chiếm toàn bộ nước này. Bắc Kinh sẽ dùng ảnh hưởng của ḿnh để làm cho cộng sản không chiến thắng hoàn toàn. Sau nữa, Hà Nội không có đủ cán bộ để cai trị cả nước, có thể họ phải chấp nhận một chế độ giao thời. Quan trọng hơn nữa là Chính phủ Cách mạng lâm thời không muốn Bắc Việt Nam đô hộ!”

 

    Timmes khẽ thở dài. Có phải đó vẫn là những luận điểm cũ mà người Pháp cố thực hiện một cách vô ích từ một tháng nay không? Thảo luận bây giờ cũng chẳng lợi ǵ. Tướng Timmes nghĩ thế rồi bảo Minh, ông sẽ báo cáo với Martin….(tr 310)

 

    Người phát ngôn của Hà Nội không im tiếng. Gần một giờ sau đài giải phóng tuyên bố: “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của ḿnh và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”. Trong một buổi khác, đài này gọi chính phủ Minh là “nguỵ quyền gian dối, một bộ máy chiến tranh trong đó lực lượng thứ ba là nạn nhân”.

 

    Hà Nội cũng lên án Hoa Kỳ hết sức nặng: “Đề nghị đơn giản của Hoa Kỳ là để lại sứ quán với một nhóm nhỏ nhân viên không thể được coi là chấm dứt sự can thiệp của Mỹ. Vấn đề cần thiết là sứ quán ấy được quyền làm ǵ và tại sao tất cả nhân viên không rút đi ngay, không có hạn định (không có sự phân biệt giữa cố vấn với những người khác...) đế quốc Mỹ có chịu bồi thường và hàn gắn những vết thương sâu và nặng chúng đă gây ra cho nhân dân Việt Nam không? Tóm lại, nếu người Mỹ muốn có mặt một cách chính thức nào đó ở Việt Nam, họ phải bỏ tiền ra và nhận tội. Những đ̣i hỏi ấy loại trừ hẳn việc duy tŕ một phái đoàn ngoại giao b́nh thường. Không c̣n vấn đề để lại một sứ quán Mỹ nhỏ nữa. (tr.311) Nhưng phải mất nhiều th́ giờ. Nhà Trắng mới nhận rơ vấn đề ấy….

 

    Một bất ngờ khó chịu khác lại đến với ông tướng khốn khổ ấy! không báo trước, năm hay sáu sĩ quan cao cấp không quân Việt Nam đến xin trú ẩn và đề nghị phái bộ quân sự giúp họ di tản. Smith lạnh lùng tiếp họ, lột vũ khí rồi đẩy họ vào một pḥng rỗng. Sẵn sàng từ chối không chiến đấu? Không phải hẳn như thế. Họ c̣n có thể giúp ích được. Smith ra lệnh nhốt họ cho đến khi phái bộ quân sự hoàn thành cuộc di tản (tr 319)…

 

    Quá 9 giờ, chiếc xe Chevrolet bọc thép của đại sứ đỗ trước phái bộ quân sự ở Tân Sơn Nhất. Tướng Smith vội vàng dẫn Martin vào hầm, ở đây đă có mấy sĩ quan Mỹ và Việt Nam. Đại tá Lương, trưởng pḥng t́nh báo Nam Việt Nam báo cáo vắn tắt t́nh h́nh: Về mặt quân sự không c̣n hy vọng, quân đội đă suy sụp, đặc công Bắc Việt Nam đă tiến đến chung quanh sân bay (tr 323)…

   

    Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông ở nhà, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nh́n biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật  giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông ta mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dơng dạc với người cai: “Cho người này vào”. Nhưng cũng phải tranh luận, người cai mới đồng ư hé cửa để Quang lách cái thân già và béo phệ của ông ta vào!

 

Tướng Đặng Văn Quang

 

    Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong pḥng làm việc của Polgar trên lầu sáu. Ông mặc bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều nhẫn kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu v́ trong lúc sợ hăi và vội vàng vào sứ quán, ông đă quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn khác. Phần lớn chúng tôi ghét Quang. Thấy ông ta ngồi trong pḥng, chúng tôi ra ngay. CIA đă trả ông ta nhiều tiền và đề cao ông ta nhiều năm. CIA cũng đưa ông ta lên ngồi bên cạnh Thiệu nhưng ông ta đă phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết chiến lược của Thiệu rút khỏi Tây Nguyên, đưa quân về cố thủ. Trong những giờ cuối cùng ở Sài G̣n này, mặc xác ông ta xoay xở. Buổi chiều, khi máy bay lên thẳng chở Quang đi, không có con ông ta, không người nào không nói: “đáng kiếp!” (331)….

 

    Thực tế, trụ sở bộ tổng tham mưu liên quân, ở gần Tân Sơn Nhất, gần như bỏ trống hoàn toàn. Tướng Kỳ một ḿnh, đi t́m tướng Khuyên, nguyên tham mưu trưởng. Sáng nay, Kỳ đă cho vợ con đi khỏi Sài G̣n, và ông muốn lấy một máy bay đi ném bom lần cuối cùng quân thù (sau này Kỳ mới nói lại như thế). Khuyên biến mất. Ở bộ tham mưu không quân người ta trả lời Kỳ, mọi người đă đến phái bộ quân sự. Lúc ấy, tướng Ngô Quang Trưởng, cựu tư lệnh Quân khu I, nay là một con người suy sụp và cay đắng, đang ở pḥng tác chiến. Ông thở dài: “Tôi chẳng c̣n biết làm ǵ nữa”. Kỳ cúi đầu, đặt tay lên vai Trưởng: “Đến chỗ tôi”. Họ ra khỏi ngôi nhà, lên máy bay trực thăng riêng của Kỳ, bay tới tàu USS Mldway, trên biển Đông.

 

    Ở phái bộ quân sự, một chỉ huy cao cấp của quân đội Nam Việt Nam đến thăm tướng Smith lần cuối cùng. Đứng trước người Mỹ, ông ta ăn mặc rất chỉnh tề, ngực đeo đầy huân chương. Đó là tướng Phạm Văn Phú, người đầu hàng không chiến đấu ở Tây Nguyên, viên tướng bỏ mặc quân lính tan ră. Ông ta chào trịnh trọng, thong thả tướng Smith, dậm gót chân rồi quay ra. Ông ta đề nghị Smith giúp một phần gia đ́nh ông ta di tản, nhưng không nói ǵ đến ông ta. Một lát sau, Phú bắn vào đầu tự tử….

 

    Ở dinh tổng thống, Minh giận dữ đi lại trong pḥng. Đoàn sứ giả đi Tân Sơn Nhất không biết sống chết thế nào. (tr.356) Nhiều người trong giới thân cận lại khuyên Minh đầu hàng không điều kiện. Nhưng Minh không thể làm như thế. Ông ta nói: Đồng bào tôi sẽ khinh tôi! Tôi sẽ quyết định sau. Ông ta muốn thành lập chính phủ để khỏi một ḿnh chịu sự ô nhục này.(DVM vẫn c̣n ngất ngơ, ảo tưởng thành lập chính phủ liên hiệp, NDVN)…(tr 357)

 

    Khi chính giới biết rơ luận điểm của ông, Kissinger lập tức đề pḥng việc nói ngược lại. Ông điện cho Martin đang ở trên tàu, ra lệnh không được nói ǵ với giới báo chí. Ông báo cho Thiệu ở Đài Loan (tr.375) biết ông ta không được phép vào Hoa Kỳ (con gái ông ta học ở đấy) trước khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra.

 

 

Chân Dung Tập đoàn “Lính Đánh Thuê” Ngụy quân - Ngụy Quyền VNCH

 

Photograph:Ngo Dinh Diem, 1954Trung Tuong Nguyen Van Thieu

Ngô Đ́nh Diệm  - Tướng Nguyễn Văn Thiệu - Tướng Nguyễn Cao Kỳ

 

 

Tướng Cao Văn Viên - Tướng Ngô Quang Trưởng

 Lieutenant General Nguyễn Văn ToànGeneral Lam Thi Quang.Chuan Tuong Ly Tong Ba

Tướng Nguyễn Văn Toàn - Tướng Lâm Quang Thi - Tướng Vĩnh Lộc - Tướng Lư Ṭng Bá

 

    Trong lúc đó, nhiều nhân vật trong tấn bi kịch Việt Nam bị lăng nhục thậm tệ. Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không c̣n trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời: Không! Các anh không c̣n quân đội, không c̣n Tổ quốc!”(tr 376)….

 

    Martin nhún vai. Có lẽ muộn quá rồi. Cộng sản muốn chiến thắng hoàn toàn. Sau khi cảm ơn Merillon một lần nữa về sự giúp đỡ của ông, Martin ra sân, đi tới bức tường chung của hai sứ quán, gơ ba lần vào cửa ngách, cửa mở, ông đi về pḥng ḿnh (tr 346)….

 

    Trên lầu sáu, đứng dưới nơi đỗ của máy bay lên thẳng, Tom Polgar ngồi trong pḥng làm việc trống trơ, trước chiếc máy chữ cũ kỹ. Ông vừa đánh xong một bức điện gửi Hoa Thịnh đốn, bức điện lịch sử như ông đă nhấn mạnh trong những câu đầu: “Đă nhận được lệnh tổng thống chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 45 phút, giờ địa phương, ngày 30-4. Muốn hỏi xem đó có phải là thông điệp cuối cùng gửi chi nhánh Sài G̣n không? Phải mất 20 phút mới phá huỷ được máy móc ở đây. Đến 3 giờ 20 phút, giờ địa phương, chúng tôi sẽ chấm dứt việc liên lạc”. Đoạn sau có một nội dung rất triết lư. Ông biết rằng ông viết đây là cho thế hệ mai sau. Nhưng cũng như nhiều bức điện trước ông gửi về Hoa Thịnh đốn trong mấy tuần qua, những điều ông viết chỉ phản ánh ảo tưởng của ông, chứ không nói về hoàn cảnh, về thực tế lúc bấy giờ. Nay cũng vậy, Polgar cho rằng sự bủn xỉn của quốc hội, những biện pháp nhỏ nhen, nửa vời (danh từ, tính từ ông thích dùng), đă gây nên sự đổ vỡ của chế độ Sài g̣n. Ông viết: Đó là một cuộc chiến đấu lâu dài và khó khăn mà chúng ta đă thua. (tr.365) Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đă chấm dứt. Nhưng sự nghiêm trọng của thất bại và hoàn cảnh đưa đến thất bại, buộc chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc chính sách, biện pháp nhỏ nhen, nửa vời chúng ta thường áp dụng trong sự can thiệp của chúng ta vào nước này mặc dù chúng ta đă ném vào đây bao nhiêu người và tiền của. Ai không học được ǵ ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử. Mong rằng chúng ta không phải học thêm kinh nghiệm của một Việt Nam khác mà nhớ đời bài học này! Chấm dứt liên lạc của Sài G̣n.(tr 366)…

 

    Nhiều người khác cũng phải chịu trách nhiệm về thảm hại của Sài G̣n. Đầu tiên là dân chúng Mỹ. Thật ra, sự bất b́nh trong cả nước cuối những năm 60 và đầu những năm 70 đă dẫn đến việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam và chấm dứt sự can thiệp dă man của Hoa Kỳ. Nhưng một khi lính Mỹ đă về nước th́ tư tưởng “cuốn theo chiều gió” đă có trong các giới đối ngoại cũng lan tràn trong dân chúng. Vấn đề Việt Nam không c̣n ở trong ḷng nước Mỹ nữa. Điều đó cho phép một số nhân vật có thế  lực tiếp tục một chính sách hợp lư. Đây có thể là một điều cảnh cáo. V́ việc quân của tướng Dũng vào Sài G̣n tháng 4 năm 1975 chỉ là kết quả sự nhắc lại những sai lầm và thiếu sót đă làm cho chúng ta tham gia chiến tranh. Hai tổng thống Hoa Kỳ đă đánh lừa dân chúng. Đại sứ đă thổi pḥng hy vọng thắng lợi. Người ta bỏ mặc những kẻ do chúng ta che chở ở Sài G̣n, thực hiện một chính sách thất bại. Mọi việc diễn ra như trong giới cao cấp của chính quyền, người ta vội quên những bài học của quá khứ.

 

    Mong rằng với thời gian và khi những vết thương chiến tranh Việt Nam đă lành, có thể trả lại vai tṛ cho lịch sử. Nghĩa là đánh giá lại từ đầu, một cách khách quan, toàn bộ chủ trương, chính sách, sự việc xảy ra, kể cả những ǵ làm cho nhiều người trong chúng ta mù mắt, không nh́n rơ diễn biến thật sự của t́nh h́nh Việt Nam. Đừng bỏ lỡ dịp. Thôi, đừng coi vấn đề Việt Nam là một ảo ảnh, dễ quên hơn là dễ nhớ lại. Nhất là trong cơn hấp hối của nó. Nếu không, chúng ta không thể thoát ra khỏi các thế lực, trên lĩnh vực t́nh báo cũng như trong địa hạt chính trị, đă thay đổi “khoảng cách chịu được” của Sài G̣n thành một kết thúc thảm hại của tấm thảm kịch Mỹ. (tr.385

 

Cuộc Tháo Chạy Tán Loạn (Toàn Tập)

 

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IA)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IB)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIA)  

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIB)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III A)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần III B)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIIC)

* "CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp (Phần IIID, Phần Kết)  

 

 

 

BUỔI SÁNG

 

Buổi họp được tổ chức trước nửa đêm trong hội trường của sứ quán. Có khoảng 20 người mệt mỏi và mất tinh thần tới dự lúc George Jacobson đến chỗ ngồi của đại sứ để làm chủ toạ cuộc họp thay đại sứ. Một viên chức lặng lẽ cầu khẩn buổi họp xong sớm. Nhưng anh đă thất vọng. Buổi họp kéo dài hơn một giờ, người nào cũng tưởng ḿnh là chuyên gia về di tản nên đều đứng lên phát biểu ư kiến. Jacobson mở đầu. Anh nói: “Đại sứ tin rằng quân Bắc Việt Nam c̣n chờ 48 giờ nữa mới mở cuộc tiến công cuối cùng. Sứ quán c̣n th́ giờ để di tản mười ngh́n người như dự kiến. Nhưng có một vấn đề là chất lượng. Đă dành quá chỗ đi cho bồi bếp. Đại sứ buộc mươi ngh́n người di tản c̣n lại phải là những người mà “tính mạng bị uy hiếp”. Jacobson quay lại phía Shep Lowman đă làm một danh sách cho sứ quán và nói: (tr.310) “Anh thử xem có đủ tên hai ngh́n người Việt Nam đáng được di tản không?” Lowman ngạc nhiên nh́n. Lần đầu tiên anh thấy người ta định chỉ tiêu.

 

Sau đó lại thảo luận về đường đi của xe buưt, nơi đón và khoảng một trăm chi tiết kỹ thuật khác. Cuối cùng, Lacy Wright giơ tay và hỏi: “Có ai có kế hoạch làm cho chúng tôi thoát khỏi nạn không? Nếu có th́ nói đi”. Jacobson mỉm cười và nói điều ǵ đó không ai nghe rơ.

 

Lúc kết thúc buổi họp, Lowman hỏi Alan Carter bản danh sách mới những người được anh chọn đi trước. Carter kêu lên: “Tôi đưa mấy ngày nay rồi”.

 

- Tôi biết, nhưng để lẩn mất rồi. Phải làm lại tất cả. Lowman chỉ tập hợp được mấy đồng nghiệp làm thành một nhóm hôm sau xung phong đi đón và đưa người tị nạn. Rồi cùng với Don Brewster, anh gọi dây nói cho những người Việt Nam đứng đầu danh sách.

 

Người phát ngôn của Hà Nội không im tiếng. Gần một giờ sau đài giải phóng tuyên bố: “Nhân dân ta hoàn toàn tin tưởng và lực lượng chính trị và quân sự của ḿnh và chắc chắn sẽ chiến thắng hoàn toàn, giải phóng miền Nam, đất nước của cha ông”. Trong một buổi khác, đài này gọi chính phủ Minh là “nguỵ quyền gian dối, một bộ máy chiến tranh trong đó lực lượng thứ ba là nạn nhân”.

 

Hà Nội cũng lên án Hoa Kỳ hết sức nặng: “Đề nghị đơn giản của Hoa Kỳ là để lại sứ quán với một nhóm nhỏ nhân viên không thể được coi là chấm dứt sự can thiệp của Mỹ. Vấn đề cần thiết là sứ quán ấy được quyền làm ǵ và tại sao tất cả nhân viên không rút đi ngay, không có hạn định (không có sự phân biệt giữa cố vấn với những người khác...) đế quốc Mỹ có chịu bồi thường và hàn gắn những vết thương sâu và nặng chúng đă gây ra cho nhân dân Việt Nam không? Tóm lại, nếu người Mỹ muốn có mặt một cách chính thức nào đó ở Việt Nam, họ phải bỏ tiền ra và nhận tội. Những đ̣i hỏi ấy loại trừ hẳn việc duy tŕ một phái đoàn ngoại giao b́nh thường. Không c̣n vấn đề để lại một sứ quán Mỹ nhỏ nữa. (tr.311) Nhưng phải mất nhiều th́ giờ. Nhà Trắng mới nhận rơ vấn đề ấy.

 

Đến 2 giờ 30 phút sáng, giờ Sài G̣n, ngày 29 tháng 4, khoảng hai ngh́n người Việt Nam ăn cơm ở nhà phụ của phái đoàn quân sự. Cầu hàng không tạm ngừng v́ phải bốc hàng từ ba máy bay C-130 xuống. Hơn một giờ sau, hai chiếc sẵn sàng chở người đi. Don Hays, người phụ trách việc phân loại mệt quá, không đếm được người đi. Hai chiếc máy bay bốc lên, chiếc thứ ba lăn bánh tới, Hays liếc nh́n đồng hồ: đă bốn giờ sáng. Một vài ngày sau. Trái rốc kết đầu tiên nổ vang. Nó làm rung chuyển pḥng tôi. Tôi lăn khỏi giường trong đêm tối, ṃ cái mũ, chiếc áo giáp và khẩu súng, ḅ tới cửa sổ, thầm tính khoảng cách từ đây đến những nơi có tiếng nổ nhỏ tiếp theo: chỉ độ vài kilômét, chắc là bắn ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trên các ngọn cây, tôi trông thấy những khói lửa tṛn bay trong bầu trời tối mịt. Chân trời vang lên tiếng súng pháo binh. Một tiếng kêu phát ra từ đài vô tuyến nhận tin đặt trên bàn giấy. Ai đó thét lên: “Tân Sơn Nhất bị rốc kết và đạn 130 ly bắn phá!” Tôi vội mặc quần, đi giầy và chạy ra hành lang. Ngoài phố, cảnh sát Việt Nam sợ hăi nằm dưới đất, ló đầu khỏi mấy xe hơi đỗ bên hè hoặc khỏi mấy bao cát. Tôi cúi người, chạy ven tường đến pḥng Joe Kingsley, xem anh đă thức chưa. Đúng lúc anh dậy. Anh vừa nói: “Lần này thế là hết”, vừa mặc áo giáp. Chúng tôi theo cầu thang bên ngoài, đi lên nóc nhà. Một trái rốc kết nổ gần máy bay C-130 đang đỗ trên đường băng, máy bay bị hư hại nặng một phần biến thành một tờ giấy nhôm. Hai trái nổ gần trạm gác Moorefield vừa cho đặt cách đây mấy giờ. Người cai Mc Mahon và anh binh nhất Judge chết ngay. Một trái nổ trên sân quần vợt của phái bộ quân sự. 1500 người Việt Nam ngồi gần bể bơi bị hơi đạn nổ đánh bạt đi như những ngọn lúa bị gió to lay đọng. Hays thét, họ nằm xuống và anh bị đè bên trên. Mấy giây sau, một trái nữa nổ ở góc pḥng thể dục, làm sụt mái nhà và chết một phụ nữ. Ba, bốn trăm người tị nạn ở trong nhà định phá tường sắt chạy ra ngoài. Cách đó mấy trăm mét, một trái nữa nổ, hất tướng Smith và Marbod từ giường xuống đất (tr.312). Trên lầu thường, một máy điều hoà không khí gắn vào tường bị ném cuống chân một giường trên có người ngủ. Anh này hoảng sợ vội vớ lấy khẩu M-16 chạy ra ngoài và ngảy xuống một hố. Sau anh mới biết là chưa mặc quần!

 

Cách đó năm kilômét, đứng trên mái nhà, chúng tôi tính thời gian từ lúc bắn đến lúc đạn nổ: khoảng năm giây. Jeo nói với vẻ thán phục: “chắc là đại bác 130 milimét. Không có đạn rốc kết nào có thể gây thiệt hại lớn như thế!” Ŕa sân bay Tân Sơn Nhất, một kho nhiên liệu trung đạn, bốc cháy ngay bắt đầu đỏ lửa ra chung quanh. Một đám khói đen cuồn cuộn lên bầu trời. Mấy giây sau, một trái nữa nổ vào đám cháy.

 

Joe, chỉ khu vực Hoa kiều ở Chợ Lớn kêu lên: “Đằng kia cũng bị!” Anh nói đúng. Bầu trời Chợ Lớn đỏ rực, gió biến thành một cơn băo lửa.

 

Từ lúc trái rốc kết đầu tiên nổ, tướng Dũng đă theo dơi được tiến triển của cuộc bắn phá nhờ có hàng loạt báo cáo do đặc công nằm ở phía Bắc sân bay Tân Sơn Nhất gửi về. Đến 5 giờ, có tiếng dây nói gọi ông.

 

Ông viết trong hồi kư:

 

“5 giờ sáng ngày 29 tháng 4, khi các cánh quân ta đồng loạt nổ súng tiến công th́ chúng tôi nhận được điện của Bộ chính trị gửi lời kêu gọi và những chỉ thị sau đây:

 

Nhiệt liệt khen ngợi toàn thể các đơn vị đă lập được chiến công lớn trong những ngày qua, kêu gọi toàn thể các cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, với quyết tâm lớn nhất, hăy nhanh chóng đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch với khí thế hùng mạnh của một quân đội trăm trận trăm thắng, đập tan mọi sức đề kháng của địch, kết hợp tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài G̣n - Gia định, hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, giành thắng lợi hoàn toàn cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại!”

 

Sau khi phổ biến chỉ thị của Bộ Chính trị cho cán bộ có mặt ở bộ chỉ huy, tướng Dũng và cộng tác viên của ông c̣n (tr.313) gửi một “lệnh động viên” cho tất mọi người. Lệnh do ông Phạm Hùng thông qua, đă quyết định số phận của Sài G̣n.

 

Hà Nội c̣n cho tướng Dũng biết: một số đông người Mỹ và người Việt Nam sẽ rời Sài G̣n bằng máy bay trong mấy giờ tới, trong đó có cố vấn quân sự Mỹ c̣n lại; quân đội tiếp tục siết chặt gọng kim chung quanh thành phố, nhưng đừng động đến cầu hàng không...

 

Quá 5 giờ, tướng Smith mặc binh phục, đeo khẩu 45 bên hông chạy qua sân quần vợt đến sở chỉ huy của phái bộ quân sự. Ông chưa hết mẹt th́ một sĩ quán mời ông đến nghe dây nói. Đại sứ Martin muốn nói chuyện với ông. Ông báo cáo: Vâng, chúng ta tiếp tục bị rốc kết bắn, một máy bay C-130 đang cháy”. Rồi ông nhớ lại chi tiết đáng buồn: hai lính thuỷ Mỹ bị chết bên hàng rào. Im lặng bên kia đầu dây. Có lẽ Martin chưa nghe rơ. Smith nhắc lại. Đại sứ cắt ngay: “Tôi rơ rồi”, tiếng khàn khàn, có vẻ ông bị viêm họng. đại sứ lại nhấn mạnh: việc đầu tiên là tất cả nhân viên phái bộ quân sự phải rời Sài G̣n trong 12 giờ tới dù có bị bắn phá hay không. Cầu hàng không C-130 phải bắt đầu ngay. Cái ǵ ngăn cản? Smith b́nh t́nh trả lời: Đường băng không chắc có c̣n sử dụng được!

 

Trở về nhà, tôi đi tắm, b́nh tĩnh cạo râu, mặc một quần cũ, một áo sơ mi và một áo ngoài thể thao. Đội mũ sắt lên đầu, đeo vào thắt lưng hai khẩu P.38. Cài khuy áo giáp xong, tôi buồn rầu nh́n lại lần cuối, căn pḥng tôi ở, mấy cái quần áo bỏ đi, đài thu thanh, tất cả gia tài của một “thực dân” Mỹ trước giờ ra đi. Tôi đến cầu thang máy.

 

Lính gác Nùng ở ngoài cửa, dưới nhà, chào tôi, đi theo tôi trong một buổi sáng ảm đạm. Lính Nùng được coi là nhân viên an ninh trong các trụ sở chính thức của CIA, họ rất được tin cậy v́ tinh thần chống cộng. Phần lớn họ tị nạn, từ Bắc Việt Nam vào. Đă hứa với họ có chỗ trên máy bay di tản nên họ đang chờ. Một người là chồng chị sen của tôi, giúp tôi đưa chiếc bọc đà vào xe Ford Pinto. Anh mở cửa xe cho tôi, chào tôi một lần nữa và ấp úng nói bằng thứ tiếng Anh giả cầy: “Đừng quên tôi”. Lần cuối cùng, tôi gặp anh. Anh và các bạn đồng ngũ với anh đều bị bỏ rơi! (tr.314)

 

Từ nhà tôi đến sứ quán chỉ mất ba phút đi xe hơi. Tôi phóng nhanh, trên những phố vắng người, nhưng có cảm tưởng là không bao giờ tới được. Sau cùng tôi dừng được xe sau sân chơi. Một lính thuỷ gác ở đây chỉ cho tôi chỗ đỗ xe ở ngoài phố. Đeo bạc đà lên vai, khoá xe, tôi đi về phía cổng sau ngôi nhà. Một lính thuỷ mở cửa đủ cho tôi len vào. Đi qua sân, tôi thấy một bóng người cao trước căn tin. Đó là George Mc Arthur, một trong những nhà báo tôi đă tiếp xúc trong bữa ăn tối của Carter 15 ngày trước và đă không tán thành luận điểm của tôi.

 

- Chào bạn, Mc Arthur nói bằng giọng kéo dài của người miền Nam nước Mỹ, có người cho biết, các bạn c̣n chỗ. Mấy phút trước đó, Mc Arthur được Eva Kim cho hay cầu hàng không hoạt động gấp và anh không muốn bị bỏ lại. Tôi sẽ gật đầu và tiếp tục đi.

 

Polgar chưa có ở pḥng làm việc. Viên chức thường trực đưa cho tôi khoảng 20 bức điện và tin vô tuyến điện, trong đó có những tuyên bố mới nhất của Hà Nội và một bản sao nhận định của Hoa Thịnh Đốn. Tôi ngồi vào bàn, thảo hai nhận định cho Hoa Thịnh Đốn.

 

Kết luận, tôi nói rơ không c̣n nghi ngờ ǵ về chủ trương của Hà Nội đối với Sài G̣n: không có thương lượng. Đó là bản phân tích về chính trị, quân sự...cuối cùng đánh đi từ sứ quán Mỹ ở Sài G̣n.

 

Mệt mỏi v́ phải quan sát, Kenneth Moorefield rời mái nhà về pḥng, xin một xe hơi. Sau này anh kể lại: “Tôi muốn đến sứ quán để nói chuyện với nhân viên an ninh. Nhưng sau lại thôi. Garrett và cộng tác viên của anh không hề biết ǵ về cầu hàng không. Thấy thế, tôi bảo họ, mặc kệ, tôi cứ đi. Rồi tôi đề nghị Garrett cho lính hộ vệ tôi ra ra sân bay Tân Sơn Nhất. Đi cũng dễ. Ngoài đường có ít người. Nhưng khi chúng tôi đến cửa chính sân bay th́ vấp phải ngay một chuyện: lính gác không cho chúng tôi vào. Họ cho tôi là nhà báo nên quá cáu kỉnh. Không thể trách họ được. Đạn rốc kết nổ khắp nơi. Máy bay Việt Nam định cất cánh và dưới đất mọi người đều bắn tứ tung. Tôi tưởng không thể nào vào được. Nhưng đúng lúc (tr.315) chúng tôi định quay về th́ trái đạn rốc kết nổ cách chỗ chúng tôi mấy trăm mét, chúng tôi vội nhảy vào một cái hốc. Lúc chúng tôi đứng dậy th́ những người lính gác quá sợ hăi. mặc chúng tôi muốn đi đâu th́ đi.

 

Đến 6 giờ, đoàn ngoại giao đến sứ quán. Đi trước họ là Polgar. Ông vào pḥng đại sứ báo cáo t́nh h́nh sân bay. Ông hỏi, rồi gợi ư: “đă đến lúc phải di tản bằng máy bay lên thẳng chưa? Ít nhất, phải cho cưa cây me ngoài sân đi”. Đại sứ không buồn nói chuyện nữa. Đối với ông, cầu hàng không bằng máy bay C-130 là quá đủ. Thế là chấm dứt. Tức giận, Polgar gọi Jacobson ra nói riêng: “Dù thế nào cũng phải cưa cái cây để bảo đảm an toàn”.

 

Cùng lúc ấy ở Hoa Thịnh Đốn là buổi chiều, tổng thống Ford họp hội nghị năng lượng ở Nhà Trắng. Một chuyên gia đang nói về khả năng người A rập cấm chở dầu lửa th́ tướng Brent Scowcroft, phó thứ nhất của Kissinger, dón chân đi vào pḥng và đưa cho tổng thống một tin “Tân Sơn Nhất bị bắn phá, hai lính thuỷ chết. Di tản tạm ngừng”. Ford hắn giọng, suy nghĩ một lát rồi ra lệnh cho Scowcrofl triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia trong một giờ.

 

Tại bộ tổng tư lệnh ở Honolulu, đô đốc Gayler đi bách bộ. Ông muốn cấp tốc thực hiện phương án di tản, nhưng Martin tiếp tục không nghe. Ông đă gọi dây nói thẳng đến sứ quán mấy phút trước nhưng được trả lời là đại sứ bận!

 

Đến 6 giờ 30 phút, tướng Smith ra lệnh mới cho cộng tác viên: Tất cả nhân viên phái bộ quân sự sẵn sàng ra đi, đúng cầu hàng không C-130 lập lại. Tức th́ đại tá Wahle, tuỳ viên quân sự gửi qua vô tuyến điện và dây nói một điện, báo động cho các địa điểm tập họp ở trung tâm thành phố. Đại tá giao cho đại úy Tony Woods tổ chức đoàn xe ô tô buưt và nói: chính thức ra th́ chỉ có nhân viên phái bộ quân sự đi thôi nhưng nếu có người Mỹ khác xin đi th́ cứ để họ đi.

 

Trước 7 giờ, một sĩ quan hải quân đứng ở đường băng vội chạy đến báo cáo t́nh h́nh với tướng Smith. Anh nói: ở đây rất xấu, rất xấu. Máy bay Việt Nam đậu trên đường băng như chim bị thương. Dầu, bom và nhiều vật liệu chiến tranh rải rác khắp rơi.(tr.316) Một máy bay phản lực F5, máy c̣n chạy, bị bỏ lại. Smith vừa nghe, vừa lắc đầu. Như thế th́ máy bay C-130 hạ cánh thế nào được? Nghe vừa xong, ông gọi ngay cho Polgar ở Honolulu và đề nghị có một phi đội máy bay tiêm kích đi bảo vệ máy bay vận tải.

 

Cách sở chỉ huy của tướng Smith mấy trăm mét, Moorefield vừa đột nhập nơi phân loại người di tản của phái bộ quân sự. Anh thuật lại: “hoàn toàn như một trại người điên. Đánh nhau khắp nơi. Không có cơ quan an ninh kiểm tra. Không có ǵ hết. Trước đây, có Woods, một sĩ quan hải quân giúp vào việc di tản, tôi đi t́m anh ta định xin một vài lính thuỷ ra trông coi nơi phân loại. Nhưng khi thấy anh th́ rơ ra là không ích lợi ǵ. Trời ơi, chính anh ấy lại đề nghị tôi giúp. Anh vừa được lệnh tập hợp các chuyến xe nhưng lại không biết rơ địa điểm ở đâu. Tôi biết nên phải giúp anh”.

 

Đến 19 giờ 23 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, Hội đồng an ninh quốc gia họp khẩn cấp đặc biệt ở Nhà Trắng. Tất cả cán bộ cao cấp của Bộ Quốc pḥng, cơ quan t́nh báo đều tham gia. Ford ngồi đầu bàn, Kissinger ngồi bên phải. Bên kia, theo thứ tự là bộ trưởng, quốc vụ khanh Ingersoll, giám đốc CIA Colby, Schlesinger và phó của ông là Clements, tướng George Brown, tham mưu trưởng liên quân, và một số nhân vật ít nổi tiếng khác. Kissinger bắt đầu tŕnh bày: không lập ngay cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng v́ máy bay thường c̣n có thể cất cánh được ở sân bay Tân Sơn Nhất. Schlesinger và Brown không đồng ư, cho rằng đă đến lúc phải thực hiện phương án IV. Cuối cùng, Brown đề nghị một thỏa hiệp: trước hết, bảy máy bay C-130, từ Philippines và Thái Lan bay đi Sài g̣n: nếu chúng đỗ được xuống th́ tiếp xúc cầu hàng không, trái lại phải dùng máy bay lên thẳng. Brown cũng đề nghị, như tướng Smith đă đề nghị với đô đốc Gayler, cho một phi đội máy tiêm kích hộ tống. Nhưng Kissinger phản đối. Theo ư ông, mọi cuộc biểu dương lực lượng lúc này có thể làm Hà Nội hiểu lầm.

 

Sau đó Hội đồng an ninh quốc gia bàn về số phận bản thân sứ quán. Hà Nội có vẻ bác bỏ mọi sự có mặt của người Mỹ ở (tr.317) Sài g̣n, nhưng Martin đă lầm, người Bắc Việt Nam nói có lư. Kissinger cau mày. Ford mỉm cười và cắt đứt câu chuyện. Cuối cùng, lại đi đến một thoả hiệp thứ hai: nhân viên sứ quán rút xuống c̣n một nhóm xung kích gồm 150 người. Những người khác phải di tản ngay trong ngày, cùng với đồng nghiệp ở phái bộ quân sự.

 

Sau buổi họp, Kissinger gọi dây nói cho Martin. C̣n tổng thống Ford cho rằng bộ tham mưu đă nắm vững t́nh h́nh cuộc khủng hoảng nên đi lên t́m vợ ở lầu hai Nhà Trắng để cùng nhau uống một ly Martin trước khi ăn tối.

 

Ở Sài G̣n. Alan Carter đến sứ quán vào 7 giờ 30 phút. Phần lớn đồng nghiệp anh đă đến họp ở pḥng làm việc đại sứ. Anh vừa vào, vừa hỏi: “Tôi sự họp được không?” Đại sứ chỉ cho anh một chỗ trên ghế dài. Polgar vừa tŕnh bày xong bản nhận định của tôi và tuyên bố mới nhất của Hà Nội. Ông nói tiếp: “Những người của tôi ở sân bay Tân Sơn Nhất nói rằng đường băng không c̣n dùng được nữa. Có lẽ chúng ta phải sử dụng máy bay lên thẳng” Pittiman, phó của ông, ngồi không yên, vẻ ngượng nghịu. Anh đă dự kiến như thế. Mặt Martin bỗng căng ra như tờ giấy cũ. Ông rên rỉ: “Làm sao anh biết rằng đường băng không dùng được nữa? Anh chỉ nghe người dưới quyền nói qua điện thoại thôi chứ ǵ?”. Polgar định trả lời nhưng đại sứ đă thay đổi câu chuyện: “Dù sao tôi vẫn nghĩ rằng Hà Nội có ư đồ thương lượng”.

 

Lúc ấy, cuối pḥng, có một cánh tay giơ lên. Jeo Bennet, cố vấn chính trị, bằng một giọng khiêu khích, đứng lên hỏi “Cái ǵ làm cho ngài tin như vậy?”. Hai ban đồng nghiệp nh́n nhau, lạ lùng. Joe Bennett vốn rất trung thành với Martin và kịch liệt chống cộng, không phải thuộc hạng người lên án sự suy xét của đại sứ.

 

Martin không thèm trả lời thẳng. Ông nói: Trước khi có quyết định: tôi muốn đến Tân Sơn Nhất xem t́nh h́nh thế nào? Carter há hốc mồm. Nhiều tiếng x́ xào phản đối. Nhưng (tr.318) trước khi có người đứng dậy phản đối rơ rệt th́ Martin phải đi nghe dây nói của Kissinger gọi sang.

 

Mấy phút sau, ông trở lại th́ mặt ông mất cả vẻ nghiêm nghị. Ông nói nhỏ. Tổng thống đồng ư lúc này tiếp tục cầu hàng không nhưng ông muốn chúng ta giảm số nhân viên sứ quán xuống c̣n 150 người, nghĩa là một ê kíp xung kích.

 

Bất ngờ, mọi người đều nhao nhao lên. Polgar bắt đầu nói cái ǵ đó nhưng sau, cho rằng, dù sao cũng nên im lặng nên ông dựa vào ghế và lắc đầu. Hoa Thịnh Đốn muốn giải quyết cuộc khủng hoảng như thế đấy. Một nhóm xung kích! Việc đó có nghĩa là mọi người ở đây phải dành nhiều giờ để làm lại bảng phân công. Nói một cách khác, làm những việc vớ vẫn trong khi thành Rome đang bị cháy! Đó là ư nghĩa của tất cả việc đó. Khi buổi họp tan. Jim Devine đến gần Lowman. Thế c̣n những nhân vật Việt Nam th́ sao? Lowman cho anh biết đă tiếp xúc với tất cả những người quan trọng. Nhưng vẫn c̣n vấn đề chưa biết giải quyết thế nào: Nếu máy bay C-130 không xuống được th́ sao? Không có một Cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng nào có thể chở hết đám người di tản. Devine suy nghĩ. Anh gợi ư: C̣n có sà lan, tàu thuyền. C̣n th́ giờ đi huy động chúng.

 

Mười phút sau, Lacy Wright và những người thuộc nhóm lực lượng bảo vệ nhỏ bé của Lowman, lấy máy điện thoại, gọi cho hằng trăm người Việt Nam đă được báo trước, nói cho họ biết cầu hàng không đang gặp nhiều khó khăn, nhưng có thể thay bằng biện pháp khác tuy có phần nguy hiểm (không ai nói đến sà lan, tàu thuyền cả) Ai sẽ đi? Ai nhận đi th́ bất chấp thiết quân luật, mau mau tới một trong những biệt thự được chọn làm nơi đón tiếp. Một viên chức sứ quán sẽ đến đón họ và nói rơ thêm.

 

Wright đă gọi cho người Việt Nam thứ hai mươi hay thứ ba mươi ǵ đó th́ bỗng anh nghi ngờ. Anh nói với một đồng nghiệp: “ta gọi nhiều người quá đấy. Không chở hết đâu”. Anh nói có lư, khổ thay!

 

Rời pḥng làm việc của đại sứ, Polgar đến báo cho tôi, tôi thuộc nhóm xung kích nhỏ 50 người của chi nhánh CIA. (tr.319) Giọng ngắt quăng, ông nói thêm: Có thể có mất mát. Anh đă sẵn sàng chịu đựng chưa? Tôi gật đầu. Lúc ấy, tôi rất mệt và rất quen với những tấn bi kịch xảy ra chung quanh. Tôi tưởng như ḿnh tránh được hết đạn.

 

Giữa lúc đó, George Jacobson t́m một máy bay lên thẳng đưa Martin đến phái bộ quân sự. Anh gọi cơ quan không quân Mỹ ở Tân Sơn Nhất nhưng người kiểm soát không quân trả lời: anh ta mệt quá không thể nào cho một máy bay đi được.

 

Nghe thấy thế, Martin tức giận mặc áo ngoài, đi ra thang máy, nói ồm ồm: “Trời! Tôi đi bằng xe hơi vậy”.

 

Lúc 7 giờ 30 phút, phó tuỳ viên không quân và mấy sĩ quan chạy ṿng quanh nơi máy bay đổ, sang bên kia xa lộ, trước trụ sở phái bộ quân sự. sau này tướng Smith cho biết: Theo ư họ, lúc ấy, không thể tiếp tục cuộc di tản bằng máy bay thường. Tin lời họ, Smith ra lệnh cho nhân viên phái bộ quân sự chuẩn bị đi bằng máy bay lên thẳng, từ những sân quần vợt. Smith gọi sứ quán báo cho Martin. Nhưng Eva Kim cho biết đại sứ bận. Ông đă đi sân bay để kiểm tra đường băng. Nghe thấy thế, đương nhiên Smith cắm chân trong pḥng làm việc.

 

Một bất ngờ khó chịu khác lại đến với ông tướng khốn khổ ấy! không báo trước, năm hay sáu sĩ quan cao cấp không quân Việt Nam đến xin trú ẩn và đề nghị phái bộ quân sự giúp họ di tản. Smith lạnh lùng tiếp họ, lột vũ khí rồi đẩy họ vào một pḥng rỗng. Sẵn sàng từ chối không chiến đấu? Không phải hẳn như thế. Họ c̣n có thể giúp ích được. Smith ra lệnh nhốt họ cho đến khi phái bộ quân sự hoàn thành cuộc di tản. Làm như vậy, Smith chắc chắn sẽ nhận được sự hợp tác của những người lính Việt Nam khác.

 

Moorefield, trong đời, chưa bao giờ lái xe hơi. Anh cùng đại uư Woods phải lần ṃ vào nơi để xe của phái bộ quân sự. Mặc dù đă có lệnh, không một xe ô tô buưt nào dành để đón người tị nạn v́ không có xăng! Trạm bơm cũng đóng cửa, lái xe người Việt Nam và nhân viên phục vụ đều trốn hết. Điều sợ nữa là hai người ở giữa nơi bị bắn phá. Moorefield kể lại: Đạn rốc kết nổ khắp chung quanh chúng tôi, một trái nổ chỉ cách 40 mét. (tr.320) Việt cộng bắt chúng tôi làm miếng xăng uưch. Vừa chạy trong cỏ cao, tôi vừa nghĩ chắc hôm nay không có chuyện di tản. Chúng giết chúng ta mất. Bên cạnh tôi, trong bùn, có một người Việt Nam đang run sợ. Tôi gọi ông ta hỏi có biết lái xe không? Ông ta sợ quá chỉ nói được một từ: biết. Tôi dựng ông ta dậy, đẩy ông ta đến một chiếc xe vào bảo: Thử xem nào? Woods cũng làm như tôi khi gặp mấy người Việt Nam khác. Rồi chúng tôi nhảy vào xe gíp và một xe thường đi Sài g̣n, đằng sau có bốn hay năm xe ô tô buưt.

 

Đến 8 giờ 15 phút, giai đoạn đầu cuộc di tản cuối cùng bắt đầu. Ở nơi phân loại người di tản, Don Hays, một tay bê một con nhỏ Việt Nam đang khóc, tay kia xách hai vali, anh nh́n đám đông, cố t́m chủ nhân. Qua làn khói và sương mù phủ lên sân bay, anh thấy một máy bay nhỏ bị bắn, đang rơi như sao sa cháy. Một lát sau, một đại tá không quân đi đến chỗ anh và nói: “chúng tôi nhận được lệnh tất cả người Mỹ phải rời ngay nơi này và tập hợp ở sân bay hộ tống chỉ huy”.

 

Hays đánh rơi vali, trả lời: Sao lại thế? Ở đây c̣n ba ngh́n người Việt Nam không thể bỏ rơi họ đơn giản như vậy! Viên đại tá nh́n sát vào mặt Hays làu bàu: “Tôi không nhận lệnh của binh lính! Đi! Chấp hành ngay!” Hays trước đây cũng là lính bộ binh, có kinh nghiệm là tranh luận với một viên đại tá thường vô ích nên anh đưa đứa bé cho viên sĩ quan và chạy tới trạm điện thoại. Anh gọi được cho Jazynka ở sứ quán, Jazynka trả lời anh: “Đừng thắc mắc. Đại sứ đến xem đấy. Ông sẽ biết cần phải làm ǵ”. Hays quay lại chỗ viên đại tá, thở dài và nói: “Tôi cộng tác với ông nhưng ông phải cho tôi biết t́nh h́nh”. Viên đại tá nhún vai, trả anh đứa  trẻ và bỏ đi, hững hờ. Hays báo cho khoảng 50 người Mỹ đứng rải rác trong đám đông đi về phía cửa sau, ở đấy có nhân viên CIA mở cửa cho họ ra.

 

Ở trung tâm thành phố, tướng Timmes đi xe của sứ quán đến dinh tổng thống. Một người phục vụ đi trước dẫn ông vào (tr.322) pḥng làm việc của Minh. Ông rất lạ là không có sĩ quan, lính gác ǵ cả.

 

Tổng thống mới mặc đơn giản một áo ngoài, niềm nở tiếp ông. Timmes xin lỗi v́ làm phiền Minh. Ông chỉ đến hỏi xem người Mỹ có thể giúp ǵ thêm. Minh cau mày, lắc đầu. Ông nói: “sáng kiến này thuộc về người Pháp. Mấy phút nữa, đại sứ Merillon sẽ đến nói chuyện với tôi. Ông cảm thấy vẫn c̣n chút hy vọng đến một thỏa hiệp”.

 

Tướng Timmes hỏi: “V́ sao người Pháp lại nghĩ thế?” Tướng Minh trả lời: “Trước hết, người Pháp biết rằng Trung Quốc phản đối việc Bắc Việt Nam chiếm toàn bộ nước này. Bắc Kinh sẽ dùng ảnh hưởng của ḿnh để làm cho cộng sản không chiến thắng hoàn toàn. Sau nữa, Hà Nội không có đủ cán bộ để cai trị cả nước, có thể họ phải chấp nhận một chế độ giao thời. Quan trọng hơn nữa là Chính phủ Cách mạng lâm thời không muốn Bắc Việt Nam đô hộ!”

 

Timmes khẽ thở dài. Có phải đó vẫn là những luận điểm cũ mà người Pháp cố thực hiện một cách vô ích từ một tháng nay không? Thảo luận bây giờ cũng chẳng lợi ǵ. Tướng Timmes nghĩ thế rồi bảo Minh, ông sẽ báo cáo với Martin.

 

20 giờ 30 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, Nancy Kissinger mặc lễ phục đến Nhà Trắng. Cùng với bộ trưởng ngoại giao, bà sẽ ṿi dự một buổi biểu diễn bi kịch của Noel Coward, vở Present Laughter, rồi đi chơi thủ đô. Nhưng Kissinger báo cho bà biết phải bỏ buổi xem kịch thôi v́ Việt Nam đang hấp hối.

 

Mấy phút sau, lúc tổng thống và phu nhân ngồi vào bàn ăn th́ Kissinger và tướng Scowcroft đi qua thảm cỏ của Nhà Trắng, về pḥng làm việc. Một nhà báo hỏi: “Có tin ǵ thế?” Kissinger mỉm cười, không trả lời.

 

Bên kia sông Potomac, bộ trưởng Schlesinger và tướng Brown vừa ăn tôm hùm trong bữa tiệc của Lầu Năm Góc. Họ đến pḥng tác chiến ở lầu hai. Lúc họ vào, loa phát thanh treo trên tường nheo nhéo phát tín của lực lượng can thiệp 76 ở Thái Lan và phái bộ quân sự Sài G̣n. (tr.322)

 

20 giờ 47 phút, nhận được lời nói của Gayler, máy bay C-130 đi Sài G̣n không thể có máy bay tiêm kích hộ vệ. Brown giằng lấy micro báo cho đô đốc biết: tổng thống cấm dùng lực lượng vũ trang. Im lặng ở đầu dây bên kia.

 

Trong những điều kiện b́nh thường, đi xe từ Tân Sơn Nhất về Sài g̣n chỉ mất khoảng 15 phút. Nhưng Moorefield, đại úy Woods và đoàn xe ô tô buưt của họ phải mất hơn một giờ. Dân chúng không c̣n tôn trọng lệnh thiết quân luật nữa và đều ra phố để mong chạy thoát. Xe cộ chạy khắp các ngả đường. Sau tay lái có bà già mù và sĩ quan quân đội hoảng sợ. Ở các trạm kiểm soát, cảnh sát bắn chỉ thiên để nhắc nhở người đi lại.

 

Giữa đường, đoàn xe nhận được điện của phái bộ quân sự: về ngay nhà đại sứ. Woods suưt đâm vào cây khi nghe tin ấy. Không ai bảo anh rằng ở nhà đại sứ có người phải đón. Anh cũng chẳng biết nhà đại sứ ở đâu. Moorefield biết, bảo Woods cho xe đến, không gặp khó khăn ǵ. Họ hiểu rơ ngay lư do phải quay trở lại: phải di tản những người giúp việc đại sứ và gia đ́nh họ.

 

Woods tức giận v́ thấy mất bao nhiêu th́ giờ quí báu. Nhưng thực tế, việc quay trở lại cũng tốt. Đến nhà đại sứ, th́ thấy nhân viên giữ nhiên liệu đă bơm đầy xăng vào các xe ô tô buưt. Đại sứ không có nhà. Bà Martin có lẽ có nhưng không ra ngoài. Một người lính gác bảo Woods đưa tất cả nhân viên ra cảng. Moorefield kêu lên: “Ra cảng à! Tôi không hiểu anh nói ǵ?” Người lính nói. Đi sà lan. Cả Woods và Moorefield đều không biết tí ǵ về sà lan, tàu thuyền và cũng không biết chúng đậu ở chỗ nào. Lại phải quay lại và việc đón người di tản càng chậm thêm.

 

Moorefield quyết định gọi sứ quán để hỏi rơ chuyện. Jim Devine nghe dây nói cho biết: đó là lệnh của đại sứ, không được thảo luận. Anh chàng cũng không nói sà lan đậu ở đâu. May quá, những người lính gác cho biết mấy chi tiết (tr.323)

 

Moorefield và Woods nhất trí để hai xe chở người giúp việc đại sứ ra cảng, có một lính gác bảo vệ, c̣n những xe khác đi đón người tị nạn ở các nơi tập kết.

 

Quá 9 giờ, chiếc xe Chevrolet bọ thép của đại sứ đỗ trước phái bộ quân sự ở Tân Sơn Nhất. Tướng Smith vội vàng dẫn Martin vào hầm, ở đây đă có mấy sĩ quan Mỹ và Việt Nam. Đại tá Lương, trưởng pḥng t́nh báo Nam Việt Nam báo cáo vắn tắt t́nh h́nh: Về mặt quân sự không c̣n hy vọng, quân đội đă suy sụp, đặc công Bắc Việt Nam đă tiến đến chung quanh sân bay. Legro và Mc Curdy nhấn mạnh: đường băng đă hỏng.

 

Martin hỏi: có quân đội bảo vệ đường băng không?

 

Legro trả lời: thưa không. Lương nói đúng. Quân đội đă tan ră. Đại sứ nhún vai, gọi Smith sang một bàn giấy gần đấy và ra lệnh: cố di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt. Cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng không chở hết. Phải làm thế nào để máy bay C-130 có thể đỗ xuống được.

 

Smith muốn tŕnh bày nhưng đại sứ đă quay người, gọi dây nói thẳng cho Hoa Thịnh Đốn. Scowcroft nghe dây nói. Đại sứ nhắc lại quan điểm của ông: Rất cần phải mở lại cầu hàng không bằng máy bay thường. Scowcroft hiểu rơ việc đó. Ông nói: Lúc này Hội đồng an ninh quốc gia ủng hộ giải pháp ấy. Cầu hàng không bằng máy bay C-130 tiếp tục càng lâu càng tốt. Trước khi ngừng nói điện thoại, Martin ghi mấy tên trên và đọc to lên, muốn Smith hiểu. Rồi ông trở ra pḥng tác chiến.

 

Erich Marbod ngồi ở bàn làm việc, trong một góc. Anh đang uống cà phê. Mặc quần áo kaki, vai đeo khẩu liên thanh K. của Thuỵ Điển, anh giống như một du kích hơn là thứ trưởng quốc pḥng. Martin quần áo chỉnh tề, đi qua trước mặt anh, nh́n anh không bằng ḷng. Sắp ra khỏi pḥng th́ ông quay lại, đến bên cạnh Marbod. Bất ngờ, mặt ông dịu lại, vừa mỉm cười, ông vừa hỏi Marbod: “Này Erich, sáng nay, khoẻ chứ?” Rồi ông để tay lên vai Marbod: “Tôi tự hỏi không biết anh có thể giúp tôi việc này không? Đó là việc đưa vợ tôi, bà Dottie đi Anh có thể thu xếp một chuyến bay để đưa bà ra khỏi nước này không? (tr.324) Anh có nhiều bạn ở bộ tư lệnh lực lượng không quân thứ bảy ở Thái Lan. Anh làm ơn nói với họ cho một chuyến máy bay đặc biệt để chở bà nhà tôi đi”.

 

Von Marbod nh́n vào mặt đại sứ trả lời: “Trời ơi, ông Martin, ông khốn rơ t́nh h́nh sao? Đường băng hỏng rồi. Không c̣n cầu hàng không b́nh thường nữa. Máy bay nào đậu ở đường băng quá mười phút là bị quân Bắc Việt Nam bắn ngay. Cách duy nhất đưa bà Dottie đi là bằng máy bay lên thẳng”.

 

Mắt Martin mệt mỏi như mắt người sắp chết: Thế mà tôi vừa mới nói với tổng thống rằng chúng tôi tiếp tục duy tŕ cầu hàng không b́nh thường”. Nói xong, Martin quay ra.

 

Von Marbod vội cầm tay áo, giữ ông lại. “Tại sao ông không cùng tôi ra xem đường băng?” Martin lắc đầu và cố đi ra. Lúc ấy, một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển ngôi nhà. Von Marbod thấy tay đại sứ run lên, hỏi đại sứ: “Thế ông vẫn muốn tổ chức một cầu hàng không b́nh thường à?”.

 

Martin nh́n Marbod, môi mấp máy nhưng không nói ǵ. Ông quay gót đi ra cửa. Sau này Martin nói với bạn: chắc đúng lúc ấy, Martin đă thay đổi ư kiến.

 

Nhưng Smith không cho là như thế. Sau khi đưa Martin ra xe Chevrolet và cho một đội hộ vệ vũ trang đi theo đại sứ, ông gọi dây nói cho Polgar ở Honolulu. Ở Hoa Thịnh Đốn, cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đều theo dơi cuộc nói chuyện của họ. Khi Smith nói xong quan điểm của đại sứ, Gayler hắng giọng và trả lời rằng mọi việc nay tuỳ thuộc vào những máy bay C-130 đang bay về Sài G̣n. Nếu chúng hạ cánh được th́ có Cầu hàng không.

 

Mấy phút sau, một sĩ quan thuỷ quân, đội mũ sắt, mặc áo giáp chạy đến trước Smith báo cáo: Máy bay C-130 không thể hạ cánh được. Đường băng đầy mảnh vụn. Tai hại nữa là quân đội Bắc Việt Nam lại vừa bắn và phá huỷ chỗ đỗ chính.

 

Smith vội kêu lên: Trời ơi! Cho mọi người ra khỏi chỗ ấy, hành khách, lính thuỷ, mọi người ra tất: Ông vớ lấy micro ra lệnh cho máy bay C-130 đang bay đến, bay chậm lại để chờ (tr.325)

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, Schlesinger gọi dây nói cho Nhà Trắng: “V́ chúa, đề nghị cho sử dụng máy bay lên thẳng”. Ông hét như vậy với Scowcroft. Lần đầu tiên, người phó của Kissinger có vẻ đồng ư.

 

10 giờ 25 phút, Smith lại gọi Gayler: đă đến lúc phải dùng máy bay lên thẳng. Đố đốc thở dài thật lớn ở đầu đằng này, ở Sài G̣n, cũng nghe rơ. Ông hứa sẽ chuyển ngay đề nghị ấy cho Lầu Năm Góc.

 

Smith gọi cho Martin đă trở về sứ quán. Không c̣n hy vọng ǵ về cầu hàng không bằng máy bay C-130 nữa. Hay là phương án IV hoặc là không có ǵ. Đại sứ trả lời: đồng ư, giọng ông khản đặc v́ viêm họng. Ông đă nghe Smith: dùng máy bay lên thẳng.

 

Giữa lúc ấy Kissinger, gọi cho Ford, báo cáo nhất thiết phải sử dụng máy bay lên thẳng. Nhưng Ford chưa đồng ư. Có quá nhiều tin tức, ông không hiểu dựa vào tin nào, để ông hỏi lại Martin đă rồi mới quyết định.

 

22 giờ 43 phút, Kissinger gọi cho Martin theo một đường dây riêng. Ông nói rơ quan điểm của ông và chờ ư kiến của đại sứ. Suy nghĩ một lúc, Martin nói đơn giản: “Dùng phương án IV thôi”. Kissinger lẩm bẩm: Ông đồng ư và một giờ nữa sẽ cho máy bay lên thẳng tới.

 

Được Martin tán thành, Kissinger báo cáo lại với Ford. Tổng thống ra lệnh cho Schlesinger huy động ngay máy bay lên thẳng. 22 giờ 51 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, lệnh tiến hành chiến dịch “Gió lớn” được ban ra, đó là tên một cuộc di tản bằng máy bay lên thẳng ở Sài G̣n trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975.

 

Ở Sài G̣n, lúc ấy, đài phát thanh Mỹ cho phát một bản nhạc cũ: Tôi mơ một đêm Noel trắng. Trước khi đi sân bay Tân Sơn Nhất, nhân viên đài mở liên tiếp điệu hành quân của Sousa.

 

Martin ra lệnh đốt hai triệu đô la. Sau đó ông hối hận. Ông có thể cần dùng đến số tiền ấy nếu có thỏa hiệp với Bắc Việt Nam. (tr.326) Trong những người di tản đầu tiên được tướng Smith gửi đến hạm đội của đô đốc Whitmire có vợ ông và hai sĩ quan cao cấp hải quân, các đô đốc Hugh Penton và Owen Oberg được bổ sang phái bộ quân sự từ đầu tháng 4. Sự khôn ngoan sơ đẳng nhất là cho bà Smith đi ngay. C̣n hai vị sĩ quan kia th́ đô đốc Gayley đă giải thích cho Smith rơ: không một sĩ quan cao cấp nào được ở lại Sài g̣n trong trường hợp t́nh h́nh trở nên thất vọng.

 

Erich Von Marbod cũng có mặt trong nhóm người di tản ấy, theo đề nghị của ông. Từ sáng sớm, ông đă sốt ruột ngỏ ư muốn ra hạm đội để tổ chức cuộc di tản của những người c̣n lại của không quân Nam Việt Nam.

 

Máy bay lên thẳng vừa hạ xuống cầu tàu USS Bluebridge, tàu chỉ huy của đô đốc Whitmire th́ Von Marbod đă vội chạy tới pḥng thông tin để nói chuyện với Schlesinger ở Hoa Thịnh Đốn. Ông nói vừa rời Sài G̣n bằng chiếc máy bay lên thẳng di tản đầu tiên. Ông xin phép được sử dụng một tàu sân bay của đô đốc Whitmire để tổ chức việc cứu người tị nạn, việc mà Schlesinger giao cho ông làm tuần trước. Bộ trưởng quốc pḥng đồng ư và giao cho Marbod tàu sân bay USS Dubuque. Đô đốc Whitmire rất bất b́nh v́ thấy một người thường lại nắm quyền chỉ huy một tàu của hải quân. Nhưng ông không phản đối được v́ đă có lệnh của Schlesinger.

 

Von Marbod cảm ơn Whitmire về sự hiểu biết của ông và lấy máy bay lên thẳng đi đến tàu USS Dubuque. Rồi tàu này chạy tới đảo An Thới, quần đảo Phú Quốc, ở ngoài khơi đồng bằng. Von Marbod định đặt ở đây một hệ thống thông tin để hướng dẫn máy bay Việt Nam bay đi Thái Lan.

 

Người giúp việc Marbod là Rich Armitage đă bay đến một tàu khác của Whitmire và cho tàu này chạy về đảo Côn Sơn. Anh đă hẹn các đơn vị hải quân Nam Việt Nam rời Sài G̣n chạy ra đó.

 

Khoảng mười giờ, đoàn xe ô tô buưt của Moorefield mới trở lại phái bộ quân sự chở chuyến đầu tiên người tị nạn. Anh thuật lại: “Khi chúng tôi đi ngang qua phía bưu điện th́ đạn rốc kết bắt đầu nổ trên đầu như pháo nổ trong dịp Quốc khánh 4 tháng 7. Chắc chắn, quân đội Bắc Việt Nam có (tr.327) người đứng gác để báo tin có đoàn xe đi qua. Đạn nổ, người ngồi trên xe cuống cuồng, kêu la sợ hăi, ẩn núp dưới ghế hoặc t́m cách nhảy ra khỏi xe. Cùng với một người Mỹ nữa, tôi vội vàng mở cửa xe cho họ chạy trốn vào trong nhà bưu điện. Nhiều người không đi được nữa, nhất là trẻ em và phụ nữ có tuổi. Chúng tôi phải bế họ, chân th́ đẩy hành lư. Lại c̣n bọn khốn kiếp phóng viên nhiếp ảnh nữa: Họ mắc kẹt v́ máy móc, đèn. Tôi thét lên: Vứt đấy! Trời ơi, vứt đấy! Nhưng không có người nào bỏ đồ nghề của họ để giúp chúng tôi một tay.

 

Khi mọi người đă ở trong nhà bưu điện, tôi nh́n ra mới biết người lái xe đă bỏ đi. Lại phải t́m người khác. Tôi hứa sẽ giúp gia đ́nh anh này di tản, anh mới nhận lái nhưng sau này, anh đi đâu mất, tôi không thực hiện được lời hứa.

 

Khi Joe Kingsley vừa đi vào pḥng chân khập khiễng th́ đă 10 giờ. Anh trông như một người vừa bị một máy bay phản lực F5 bay sát đầu: sơ mi rách hết, bám đầy mỡ, mặt đỏ gay. Anh để lựu đạn và súng tiểu liên xuống bàn, như muốn trút mọi gánh nặng trên đời. Ba giờ qua, anh vừa giúp những người Mỹ và người Việt Nam ở trong ngôi nhà, đi đến sứ quán. Anh nói: “có thể c̣n có người trong ngôi nhà, mỗi lần tôi đưa được một người ra th́ lại có một kẻ khác lẻn vào. Người Việt Nam cho rằng một boing 747 sẽ đỗ trên mái nhà để đưa họ đi! Tôi giải thích, nhưng...”

 

Tiếng gọi liên lạc cắt lời anh: “Đây, Pittman đây”. Joe vội nói: “để tôi”, rồi anh đi ra. Pittman định giao cho anh một nhiệm vụ mới, cũng khó như nhiệm vụ trước, Pittman nói: “Xuống t́m Jacobson. Cố dẫn một ít người Việt Nam ra sà lan đang đậu ở Tân Cảng”.

 

Joe kêu lên: “Cầu Tân Cảng, trời ơi, cầu ấy đă bị chiếm từ hôm qua rồi. Việt cộng ở đấy. Không thể đưa người đến đó được”.

 

Nhưng Pittman không nghe và Joe, là một người lính tốt phải tuân lệnh. Anh đến pḥng làm việc Jacobson, ở lầu ba, để nhận lệnh. Jacobson cũng sợ. Ngay cả đường phía bên này cũng không c̣n đi được (tr.328). Carmody, tùy viên hải quân đă ra lệnh cho mấy tàu lúc trước đỗ ở đây, cho đi Khánh Hội, ở giữa thành phố, nơi Mel Chatman và Bob Lanigan đă neo mấy tàu của họ.

 

Trong khi Joe t́m cách dàn xếp ư kiến của một số người ở lầu sáu sứ quán, tôi tiếp tục suy nghĩ một cách chẳng lợi ích ǵ. Đă mấy giờ liền, tôi t́m hiểu ư nghĩa của những tin mới nhận được. Thường mỗi khi có điện hoặc tin vô tuyến, tôi đọc rất nhanh, nhớ kỹ những điều hiểu được rồi vứt vào thùng “để đốt”. Tin mới đều khẳng định kết luận tôi rút ra từ mấy tuần nay: cộng sản định chiếm thành phố trong thời hạn ngắn nhất.

 

Tôi cũng đă bắt đầu huỷ những bản đồ ghi t́nh h́nh những hồ sơ mật. Mặc dù tôi được tham gia vào nhóm xung kích của CIA, tôi cũng không muốn chút nào đứng trước quân đội Bắc Việt Nam với một ngăn kéo đầy tin tức có giá trị. Phần lớn những bản đồ của tôi đều bồi b́a dày, chỉ có một cách phá huỷ tiện lợi là lấy lưỡi lê đâm nát ra. Tin tức ghi trong hai năm qua, biết bao nhiêu công phu. Thế mà đến trưa, pḥng làm việc của tôi đă đầy những đống b́a như là đổ rác.

 

Mọi bộ phận trong sứ quán đều làm thế, phá huỷ hồ sơ. Một cô thư kư ném một máy chữ giá năm trăm đôla vào gầm cầu thang. Phía sau nhà, người ta đốt liên tục giấy tờ hai ḷ lửa kêu át cả tiếng đạn nổ ở sân bay Tân Sơn Nhất.

 

Bên ngoài ven tường sứ quán, lính thuỷ gác, đi bách bộ. Biết bao nhiêu cánh tay bám vào cửa ra vào. Hàng trăm người Việt Nam trong đó có nhiều người giơ những mảnh giấy trắng lên vẫy, chắc là giấy thông hành - van nài xin vào sứ quán. Bên trong, nhiều đồng bào họ, may mắn hơn - phần lớn là bồi bếp - đến sứ quán từ sáng sớm với ông chủ làm việc ở đấy, đang đợi xe ô tô buưt đi Tân Sơn Nhất. Ngoài sân chơi, gần một ngh́n người Việt Nam đứng hết sức lộn xộn. Một số người đă lặng lẽ nậy cửa gian hàng tạp phẩm. Nhiều đồng nghiệp tôi thuộc chi nhánh CIA đến, lấy lại, đem về pḥng Polgar rượu, phomát. (tr.329)

 

Trước 11 giờ, tôi đi thang máy xuống dưới nhà. Chật ních gia đ́nh người Mỹ và người Việt Nam. Như trên cầu tàu hạng ba của một con tàu chở người hạng nh́. Có những người quay phim vô tuyến truyền h́nh, sắc trên lưng, đi đi lại lại; viên chức CIA cố tránh để khỏi bị họ quay. Hai phóng viên báo New York ngồi trên một ḥm lớn đặt trong góc nhà trông thấy tôi và gọi nhưng tôi quay lưng đi, tảng lờ như không nghe thấy. Họ làm tôi nhớ tới những con chó rừng khi chúng ngửi thấy mùi thịt thối. Tôi không c̣n muốn làm vừa ḷng sự ṭ ṃ của nhà báo nữa. C̣n thủ trưởng kiên cường của tôi, ông Polgar, bắt đầu tỏ ra mệt mỏi. Không phải v́ sợ, v́ căng thẳng mà ông không c̣n giữ được vẻ b́nh thường, mà là v́ ông quá tin vào luận điểm hoà b́nh thương lượng ông luôn giữ trong mấy tuần qua, nay rơ ràng đă thất bại:

 

Polgar là một trong những ủy viên hiếm có của đoàn ngoại giao đă được Việt Nam hoá trong nhiệm kỳ của tôi. Ông có quan hệ với người Việt Nam thuộc đủ loại, thân thiết riêng với nhiều người mà nghề nghiệp ông đ̣i hỏi. Trong lúc buổi sáng sắp qua, trật tự cũ đă đảo lộn chung quanh ông, Polgar thấy ḷng ḿnh bị dày ṿ, xé nát v́ sự gắn bó, cảm t́nh đă mất cũng như về kỷ niệm một lỗi lầm. Từng giờ một, tôi thấy ông sút hẳn. Con người nhỏ bé cứng rắn mà tôi quen biết nay trở thành một người không thể nhận ra được. Tôi rất xúc động, muốn giúp đỡ ông nhưng tôi biết làm việc đó không ích lợi ǵ. Sau này, Polgar bảo tôi, lúc ấy, ông rơi vào một cơn mê kinh khủng.

 

Mọi ư nghĩ của ông đều tập trung vào khoảng ba chục người bạn quen biết cũ, ông định giúp ra đi. Họ họp thành một nhóm người Việt Nam kỳ lạ và rất khác nhau: nhà chính trị, cảnh sát, nhất là bộ trưởng nội vụ mà ông rất kính trọng.

 

Đêm trước, Ông đă gọi cho họ bảo đến tập trung ở nhà ông vào 11 giờ hôm nay. Giờ hẹn sắp đến, Polgar định đi đón th́ thấy ḿnh đang bị nhốt trong sứ quán.

 

Khi người lái xe đánh xe đến cổng sau sứ quán th́ cửa đă hạ xuồng. Mọi việc xảy ra rất nhanh. Ngoài đường, kẻ nào vừa ném một quả lựu đạn. (tr.330) Không chù chừ, lính gác khoá luôn cửa lại và cấm mọi xe ra vào. Khi Polgar hiểu rơ sự t́nh đến xin phép người cai đi ra, th́ anh này từ chối và nói: “Tôi đếch cần biết anh là ai!” Polgar trở thành tù binh trong sứ quán đúng lúc bạn bè Việt Nam chờ ông ở nhà, cách đó khoảng mười ngôi nhà. Polgar đứng bên hàng rào, bất lực; ông đang nh́n biển người trước mặt, chợt một tiếng quen thuộc gọi ông, gọi to và giật  giọng. Đó là nguyên cố vấn an ninh của Thiệu, tướng Đặng Văn Quang vừa đến và len tới sát hàng rào. Ông ta mặc một chiếc áo đi mưa dài, đeo kính đen, xách hai cặp rất nặng. Polgar nói dơng dạc với người cai: “Cho người này vào”. Nhưng cũng phải tranh luận, người cai mới đồng ư hé cửa để Quang lách cái thân già và béo phệ của ông ta vào!

 

Những giờ sau, Quang đi đi lại lại trong pḥng làm việc của Polgar trên lầu sáu. Ông mặc bộ quần áo màu xanh nước biển, đeo nhiều nhẫn kim cương. Quang gọi dây nói khá lâu v́ trong lúc sợ hăi và vội vàng vào sứ quán, ông đă quên con cháu đang đứng bên ngoài. Quang cố cầu cứu mấy người bạn khác. Phần lớn chúng tôi ghét Quang. Thấy ông ta ngồi trong pḥng, chúng tôi ra ngay. CIA đă trả ông ta nhiều tiền và đề cao ông ta nhiều năm. CIA cũng đưa ông ta lên ngồi bên cạnh Thiệu nhưng ông ta đă phản bội chúng tôi, không cho chúng tôi biết chiến lược của Thiệu rút khỏi Tây Nguyên, đưa quân về cố thủ. Trong những giờ cuối cùng ở Sài G̣n này, mặc xác ông ta xoay xở. Buổi chiều, khi máy bay lên thẳng chở Quang đi, không có con ông ta, không người nào không nói: “đáng kiếp!”

 

Khi Polgar đi từ sân lên pḥng làm việc, ông có vẻ già thêm mười tuổi. Vừa đi bách bộ, ông vừa nói: Làm ǵ bây giờ? Tôi hứa với những người Việt Nam ấy, đón họ ở nhà tôi. Tôi không thể để họ ở đấy. Pitttman cầm tay ông, đề nghị cho máy bay lên thẳng đến đón họ. Tôi trả lời: “Không được. Các cơ quan an ninh đều nói súng nổ bốn bề chung quanh ngôi nhà Polgar. Không một máy bay lên thẳng, một xe ô tô buưt nào đến được đây vào lúc này”. (tr.331)

 

Tôi chợt nhớ tới ngôi nhà số 6 Quảng trường Chiến sĩ, nhà tôi ở, cách không xa biệt thự của Polgar. Tôi đề nghị cho máy bay lên thẳng đến đấy. Giải pháp đúng. Polgar gật đầu kêu lên: “Đúng, đúng. Để tôi gọi Út đưa họ đến. Tốt quá”. Mấy phút sau, người lái xe của Polgar, cao 1,64 mét, lách ra khỏi sứ quán, mang theo một máy vô tuyến điện.

 

T.D Latz không có vẻ ǵ là người anh hùng. Nguyên là phi công lái U-2, anh nói giọng người Arkansas, vừa thọt, vừa đui. Râu xám ít được tỉa đâm tua tủa như bàn chải. Đại diện hăng hàng không bên cạnh sứ quán, anh biết rơ hơn ai hết khả năng và hạn chế của máy bay lên thẳng hăng anh có. Anh là người Polgar rất cần lúc này.

 

Cho Út đi xong, Polgar gọi Latz qua một máy phát thử. Latz đang ở trong một máy bay Huey trên bầu trời Sài G̣n, hướng dẫn cho người lái, bay đến một nóc nhà đón một số người Mỹ sợ hăi. Hai mươi phút sau, máy bay lên thẳng của Latz đỗ xuống mái nhà sứ quán. Latz đi thủng thỉnh vào pḥng Polgar. Ông này cầm lấy tay anh: “Này, tôi muốn anh bay đến ngôi nhà số 6, Quảng trường Chiến sĩ, đón 30 người của tôi”. Latz nh́n tôi, vẻ mỏi mệt. Mấy ngày trước chúng tôi cũng nghiên cứu khả năng cho di tản trên nóc nhà tôi. V́ mái nhà hẹp, lại có nhiều kẻ bắn lén nên máy bay đỗ xuống rất khó.

 

Latz suy nghĩ. Tôi nói: “Nên lấy lính thuỷ đi để bảo vệ. Trong nhà cũng c̣n một số người Việt Nam, muốn đi”.

 

Polgar không nghe thấy hay làm như thế không nghe thấy, vỗ vào tay Latz: “Đồng ư chứ?”

 

Latz trả lời: “Thưa ông Polgar, đồng ư nhưng tôi phải đem theo vũ khí để cho chắn chắn”. Hai mươi phút sau, Latz lại lên máy bay trực thăng và bay đến ngôi nhà ở Quảng trường Chiến sĩ để đón Út và nhóm người Việt Nam.

 

Ở gần đấy, trong nhà phụ của CIA, Jenry Locksley viên chức thường trực, không ngừng đốt giấy má. Đă hàng giờ, đồng nghiệp anh và anh cho hồ sơ lư lịch nhân viên CIA vào ḷ lửa. do nhiều nguyên nhân kỳ lạ, người ta để đến phút cuối cùng mới đốt. (tr.332) Lại phải huỷ những tấm phích in tên những người Việt Nam phải di tản ngày E nữa, tính mạng họ dễ bị uy hiếp. Những phích ấy đáng lẽ dùng để thay vào vé đi nhưng đă quên không phân phát chúng. Ném những tấm phích ấy vào lửa, Locksley có cảm giác vứt vào lăng quên tất cả những người đáng được trả công...

 

Dưới con mắt của giới thân cận. Graham Martin nay giống một xác chết đi. Da xanh, mặt nhăn nheo, ông đứng không vững. Từ ngày Hoa Thịnh Đốn ra lệnh di tản bằng máy bay lên thẳng, ông tỏ ra không c̣n ư chí đấu tranh nữa. Giới quân sự và đô đốc Gayler nay hoàn toàn nắm mọi công việc. Martin chỉ c̣n một lo lắng duy nhất: làm thế nào di tản càng được nhiều người Việt Nam càng tốt.

 

Nhưng phải chờ một, hai giờ nữa máy bay lên thẳng của hải quân mới đến. Từ ngày được bổ nhiệm làm đại sứ ở Sài G̣n đến nay, lần đầu tiên, ông thấy rỗi việc. Ông quyết định lợi dụng lúc này để làm việc riêng. Ông muốn quay về nhà t́m vợ.

 

Những người bảo vệ, lính thuỷ mặc thường phục, ngăn ông lại. Họ đi đón bà Martin thôi, c̣n đại sứ không được coi thường tính mạng, đi ra ngoài đường lúc lộn xộn ấy. Martin phản đối: “Tôi là đại sứ, không muốn bị nhốt”.

 

Nhưng xe không đi được. Ngoài đường, người Việt Nam trở nên điên loạn. Martin nói: “không sao, tôi đi bộ”. Ông ra hiệu cho ba người bảo vệ to, khoẻ rồi tiến tới cầu thang máy. Họ đi bộ về nhà đại sứ. Người đầy tớ ông, Chinh đón ông ở cổng. Bà Martin, một phụ nữ nhỏ nhắn, dũng cảm, đă chuẩn bị hành lư và sẵn sàng. Martin bảo Chinh chuẩn bị cho ông một sắc đi đêm.

 

Rồi ông đi chậm răi quanh nhà, nh́n lại lần cuối cùng các pḥng, các cửa...Ngôi biệt thự này trước đây đă là chỗ ở của ba đại sứ. Nó có ma! Người ta đă định cúng ma. Nhưng lúc này có những ma thật đang ở chung quanh Martin. Tấm ảnh của tổng thống chụp cùng gia đ́nh, tặng ông, vẫn để trên đàn dương cầm. Mọi cái ông mua sắm thu nhặt được trong 40 năm hành nghề, vẫn c̣n ở chỗ cũ. (tr.333)

 

Trong lúc đi quanh nhà, martin chợt chú ư đến một vật mà ông đặc biệt thích: đó là h́nh mẫu một ngôi chùa Trung quốc. Ông lấy bỏ vào túi rồi đưa tay cho vợ, đi ra đường. Lính bảo vệ siết chặt hàng ngũ xung quanh họ. C̣n bồi Chinh đi sau, đeo sắc đêm. Năm phút sau, họ trở về sứ quán.

 

Trước khi lên pḥng làm việc, Martin đi qua cửa ngách sang sứ quán Pháp. Ông muốn thăm Merillon nhưng đại sứ Pháp không có đấy, đại sứ ở pḥng riêng, không muốn dính vào các chuyện. Mérillon giải thích với cộng tác viên: “sự vắng mặt của ông ở sứ quán sẽ làm nản ḷng những kẻ ăn bám và những nhân vật chính trị đến t́m nơi cư trú, như trường hợp đă xảy ra tại sứ quán Pháp ở Phnôm Pênh, ngày Campuchia sụp đổ”.

 

Mérillon tiếp Martin trong pḥng làm việc riêng. Họ bắt tay nhau, trao đổi ngắn gọn mấy câu xă giao. Martin đi vào mục đích cuộc viếng thăm: cuộc gặp gỡ Mérillon và Minh lớn sáng nay có kết quả không? Chính phủ cách mạng lâm thời có thả bóng ḥa b́nh mới không? Đại sứ Pháp châm lửa cho tẩu thuốc, hít mấy hơi. Khói thuốc lá Angiêri cay xè tỏa khắp pḥng. Sau cùng, ông trả lời: không, không có ǵ phấn khởi đáng nói cả. Minh tiếp tục thăm ḍ phía bên kia c̣n Chính phủ Cách mạng lâm thời chưa trả lời. Martin đăm đăm nh́n thẳng một lát rồi hạ thấp giọng, nói với đại sứ Pháp: trường hợp như thế, ông có một gợi ư: để ông trực tiếp gặp Đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời, ông Mérillon có thể thu xếp được không?

 

Đại sứ Pháp đổ thuốc trong tẩu ra, gơ tẩu vào cái gạt tàn thuốc. Ông nói ngập ngừng: sẽ có nhưng chưa dám hứa. Martin nhún vai, cảm ơn và đứng dậy để đi về. Vừa đứng lên, ông vừa rút trong túi ra h́nh mẫu ngôi chùa Trung Quốc, đặt lên bàn làm việc của Mérillon, cảm ơn đại sứ Pháp về tất cả công việc đại sứ làm v́ “sự nghiệp hoà b́nh” trong những tháng qua!

 

Khi Martin trở về pḥng làm việc trên lầu ba th́ vợ ông đang nói chuyện với các cô thư kư về một vấn đề mà bà rất băn khoăn. Bà không muốn chút nào nh́n mặt Graham xanh nhợt như thế. Không muốn hoàn toàn. Rơ ràng ông ấy ốm, yếu. Ông ấy cần có một bữa ăn ngon và bà muốn trở về nhà mấu cho ông món ra-gu ḅ (tr.334). Một cộng tác viên của Martin khéo léo an ủi bà. Một giờ sau, bà Martin lên máy bay trực thăng của hăng Hàng không Mỹ, bay đến tàu USS Denver, một con tàu của hạm đội di tản.

 

Gần 11 giờ, tướng Timmes lại đến dinh tổng thống. Lần nầy ông đem bức thư trả lời của Martin đến cho Minh về việc Minh yêu cầu tất cả sĩ quan quân đội Hoa Kỳ phải rời Sài G̣n trong 24 giờ. Martin rất đồng ư, nếu việc đó có thể củng cố được địa vị Minh trong cuộc mặc cả với cộng sản.

 

Ở sở chỉ huy của ông ở phía Bắc Sài G̣n, tướng Văn Tiến Dũng mỗi lúc một sốt ruột. Bộ chính trị đă báo cho ông mấy giờ trước, cố vấn Mỹ phải di tản. Thế mà, những người quan sát trực tiếp của ông ở Tân Sơn Nhất vẫn gửi tin về: phái bộ quân sự Mỹ đang tích cực hoạt động!

 

Cảnh giác và khôn ngoan, tướng Dũng quyết định không để mắc lừa. Ông truyền những lệnh cụ thể cho pháo binh trên mặt trận phía Đông: Nếu đến sẫm tối, người Mỹ không đi hết th́ bắt họ phải trả giá đắt về sự bịp bợm ấy! Một nhân viên t́nh báo cho chúng tôi biết, đúng 18 giờ, giờ Sài G̣n, quân Bắc Việt Nam sẽ nă khoảng 20.000 phát đạn đại bác 130 ly vào dinh tổng thống, giữa Sài G̣n. 20.000 trái đạn 130 ly, điều đó nghĩa là không những dinh tổng thống tan ra như tro bụi mà cả sứ quán Mỹ, sứ quán Pháp ở gần đấy nữa. Tôi phải đọc lại ba lần bản tin. Đến 18 giờ, tôi chạy đến pḥng Polgar, vượt trước những cô thư kư, đưa cho ông bản tin. Ông đọc một lát, mắt mở to sau cặp kính dày, trả lại tôi bản tin và nói, giọng khàn khàn: Đưa ngay cho đại sứ, đưa ngay! Tôi nhảy xuống lầu ba. Martin đang ở trong pḥng Eva Kim. Tôi nén thở trong khi ông đọc bản tin. Nét mặt không thay đổi, nhún vai, ông trả tôi mảnh giấy, không nói một lời. Trở về lầu sáu, tôi mệt muốn đứt hơi. Tôi thuật lại cho Polgar biết. Ông bảo tôi đi t́m Timmes để ông ấy báo cho Minh lớn. Chính Minh lớn mới đề nghị được với cộng sản hoăn việc bắn phá. Mấy phút sau, Timmes đến, trao đổi rất nhanh với Polgar rồi nhắc dây nói. Ông quay số. Giữa lúc ấy, Kissinger khẩn cấp gọi Martin: không c̣n phương án nào nữa. Tất cả người Mỹ, kể cả nhóm xung kích 150 người và cả bản thân Martin, phải rời (tr.335) Sài G̣n trước khi trời tối. Rơ ràng, những tin tức mới nhận được ở Hoa Thịnh Đốn khẳng định với họ rằng người Mỹ không thể nào c̣n có mặt ở Sài G̣n được nữa.

 

Đến trưa, đại tá John Madison và bốn ủy viên trong đoàn đại biểu Mỹ trong ủy ban quân sự hỗn hợp vào sân sứ quán, chen qua đám đông. Đại úy Stuart Herrington, một sĩ quan chuyên nghiẹp biết nhiều thứ tiếng và có kinh nghiệm chién đấu, bực ḿnh về những hành vi anh trông thấy: người ta công khai ăn cắp rượu của căng tin và vui vẻ uống Pinet Chardomaay ngoài hành lang!

 

Ngoài sân sứ quán, lính thủy đẩy những chiếc xe cuối cùng của bộ ngoại giao qua đám đông vây ở cổng. Những người lính gác khác hạ cây me theo lệnh của Garnett, người phụ trách an ninh của sứ quán, để lấy chỗ cho máy bay lên thẳng đỗ.

 

Sắp hết buổi sáng. Tôi cùng Pittman từ lầu ba đi xuống xem việc di tản đến đâu. Trong pḥng Jacobson những bức ảnh chụp anh đứng với nhiều nhân vật Việt Nam quen biết vẫn c̣n treo trên tường. Jacobson vẫn mặc như thường ngày, một sơ mi kẻ sọc xanh, nói dấm dẳn điện thoại với mấy kiểm soát viên máy bay của phái bộ quân sự. Khi Jacobson ngừng nói, Pittman hỏi: theo ư anh, cuộc di tản mất bao lâu? Jacobson lắc đầu: Tôi không biết. Anh đi hỏi Lehmann. Chắc anh ta biết?

 

Lehmann b́nh tĩnh lạ kỳ trong bộ quần áo vải xanh xám, cũng không biết ǵ hơn. Anh bảo chúng tôi: sao không lên lầu bốn mà hỏi những người phụ trách việc di tản?

 

Tôi trả lời: “Thưa ông Lehmann, không c̣n trung tâm di tản trên lầu bốn nữa. Bộ phận nào lo di tản cho bộ phận ấy”.

 

Pittman ngắt lời: “Nghe đây, chúng ta phải hỏi xem c̣n bao nhiêu th́ giờ nữa. Ít nhất phải mất ba tiếng để phá hủy các máy móc điện đài. Và nếu cuộc di tản diễn ra th́ ta phải đi ngay”.

 

Lehmann phản đối lại: “Tôi khong biết ǵ nữa. Có thể c̣n một ngh́n, hai ngh́n có thể là mười ngh́n người Mỹ cần di tản nữa. Các anh hăy đi làm việc của các anh”, rồi Lehmann xua chúng tôi ra khỏi pḥng. (tr.336)

 

Tại Nhà Trắng ở Hoa Thịnh Đốn, lúc ấy đă gần nửa đêm. Tổng thốnh Ford, mệt mỏi và căng thẳng sau một ngày lo nghĩ dài, đă lên giường nằm. Ông sắp uống như thường lệ, một ly ba-bơ nóng đặt trên bàn.

 

Dưới nhà, Kissinger tiếp tục đọc tin mặt trận. Theo báo cáo mới nhất của chỗ tướng Smith th́ quân đội Sài G̣n đă sụp đổ và bộ chỉ huy không c̣n.

 

   

 

Thực tế, trụ sở bộ tổng tham mưu liên quân, ở gần Tân Sơn Nhất, gần như bỏ trống hoàn toàn. Tướng Kỳ một ḿnh, di t́m tướng Khuyên, nguyên tham mưu trưởng. Sáng nay, Kỳ đă cho vợ con đi khỏi Sài G̣n, và ông muốn lấy một máy bay đi ném bom lần cuối cùng quân thù (sau này Kỳ mới nói lại như thế). Khuyên biến mất. Ở bộ tham mưu không quân người ta trả lời Kỳ, mọi người đă đến phái bộ quân sự. Lúc ấy, tướng Ngô Quang Trưởng, cựu tư lệnh Quân khu I, nay là một con người suy sụp và cay đắng, đang ở pḥng tác chiến. Ông thở dài: “Tôi chẳng c̣n biết làm ǵ nữa”. Kỳ cúi đầu, đặt tay lên vai Trưởng: “Đến chỗ tôi”. Họ ra khỏi ngôi nhà, lên máy bay trực thăng riêng của Kỳ, bay tới tàu USS Mldway, trên biển Đông.

 

Ở phái bộ quân sự, một chỉ huy cao cấp của quân đội Nam Việt Nam đến thăm tướng Smith lần cuối cùng. Đứng trước người Mỹ, ông ta ăn mặc rất chỉnh tề, ngực đeo đầy huân chương. Đó là tướng Phạm Văn Phú, người đầu hàng không chiến đấu ở Tây Nguyên, viên tướng bỏ mặc quân lính tan ră. Ông ta chào trịnh trọng, thong thả tướng Smith, dậm gót chân rồi quay ra. Ông ta đề nghị Smith giúp một phần gia đ́nh ông ta di tản, nhưng không nói ǵ đến ông ta. Một lát sau, Phú bắn vào đầu tự tử.

 

Ở Dinh Độc Lập, tổng thống Minh buồn rầu nh́n người chiến sĩ già, Đô đốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trưởng hải quân, bắt tay ông ta lần cuối cùng, Thủy đến đề nghị Minh rời thành phố xuống tàu đi cùng với nhiều người khác ở cảng. Nhưng Minh từ chối, ra lệnh cho Thủy cố cứu lấy ḿnh và những sĩ quan chỉ huy khác của hải quân. Thủy cúi đầu, sửa lại áo, chào vị tổng tư lệnh. (tr.337)

 

BUỔI CHIỀU

 

Đô đốc Donald Whitmire như một trái núi. To khoẻ, bụng phệ dưới quân hàm của hải quân và khoá thắt lưng, ông giống một hậu vệ bóng đá về già hơn là tư lệnh một đơn vị trên biển sẵn sàng can thiệp trước một cuộc chiến tranh. Mặc dù bề ngoài như thế nhưng ông đă tận tuỵ hoàn thành nhiệm vụ hết mức xuất sắc và khéo léo, nâng cao uy tín của quân chủng. Ông đă cứu nhiều người Việt Nam được Mỹ cho di tản trên biển, tập hợp máy bay, tàu bè, giữ vững kỷ luật trong những t́nh huống rất khó khăn. Đối với cấp dưới trong lực lượng can thiệp 76, ông nêu gương là một con gấu biển tài ba.

 

Tuy nhiên, sáng 29 tháng 4, ông đă thất bại! Mấy giờ trước ông tưởng chiến dịch “gió lớn” chưa bắt đầu v́ nó chỉ được thực hiện khi những hoạt động chính trị không ăn thua ǵ. Do đó, lúc 10 giờ 51 phút, khi tổng thống bật đèn xanh cho việc mở cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng, Whitmire và đơn vị ông chưa sẵn sàng. Không thể nào cho máy bay đi nếu không kiểm tra cẩn thận từng chiếc một, mà đơn vị ông có tới 81 chiếc: Lại c̣n phải lấy thêm lính thuỷ về xin máy bay tiêm kích ở Thái lan.

 

Biết rơ lúc nào chiến dịch bắt đầu cũng là điều quan trọng. Thế mà việc thông tin liên lạc giữa Hoa Thịnh Đốn và lực lượng can thiệp khá rối ren. Kissinger nói vớ Martin: cuộc di tản bắt đầu lúc 11 giờ 51 phút, một giờ sau lệnh của tổng thống, nhưng đó là giờ Hoa Thịnh Đốn, Greenwich hay giờ Sài G̣n? Không ai trong hạm đội biết rơ. Hậu quả: đến trưa, không một máy bay lên thẳng quân sự nào bay đi Sài G̣n.

 

Martin gọi trực tiếp cho Gayler đề nghị giải thích. Mười lắm phút sau, lính thuỷ của lực lượng can thiệp được lệnh bay. Đến 12 giờ 30 phút, một phi đoàn gồm 36 máy bay lên thẳng đầu tiên rời cầu tàu USS Hancoch, có nhiều máy bay Cobra vũ trang hộ vệ. Một phút sau, những máy bay tiêm kích (tr.338) phản lực Phantom, từ các căn cứ ở Thái Lan bay tới bầu trời Việt Nam yểm hộ thêm.

 

Một giờ rưỡi trôi qua kể từ lúc tổng thống bật đèn xanh cho chiến dịch “Gió lớn”. Thời hạn không dài như thế nếu không có những rắc rối khác. Sợ phản ứng của cộng sản nên Lầu Năm Góc ra lệnh cho tàu bè đậu cách bờ biển hơn 12 hải lư, bên trong là hải quân Nam Việt Nam. Như thế bay tới Sài G̣n phải lâu thêm 40 phút. Đến phút chót, Whitmire c̣n xin thêm một thời hạn để hoàn thành việc chuẩn bị. Đoàn máy bay lên thẳng đầu tiên bay đi ông c̣n ra lệnh hoăn đến 14 giờ mới cho người xuống!

 

Ở sứ quán Sài G̣n, phần lớn chúng tôi không biết chiến dịch “Gió lớn” đă bắt đầu và gặp một số khó khăn. Martin và cộng tác viên chính của ông quá lo việc đưa người tị nạn về nơi tập kết thêm quên không phổ biến cho chúng tôi.

 

C̣n riêng tôi, tôi vẫn phải theo dơi những tin tức gửi đến và nhận được qua vô tuyến điện. Tôi tập trung tư tưởng để đọc, hy vọng khám phá được lệnh tạm ngừng bắn đại bác của cộng sản. Nhưng tôi đă phí th́ giờ. Điện gửi tới chỉ nói về sự tan vỡ dần dần của pḥng tuyến bên ngoài thành phố.

 

Quá trưa, một nguồn tin chắc chắn công nhận hai sư đoàn Bắc Việt Nam đă chiếm tỉnh Tây Ninh, bao vây và tóm gọn sở chỉ huy sư đoàn 25 Nam Việt Nam ở Củ Chi. Trên các mặt trận khác, quân chính phủ rút lui như đàn cua trước nước lên. Chỉ có ở phía Tây Nam, một vài đơn vị tiếp tục kháng cự một cách yếu ớt. Hai trung đoàn thuộc sư đoàn 22, hồi trước bị tan ră ở Quân khu II, nay được tập hợp, bổ sung và tổ chức lại, đang ở phía Nam ngoại vi Sài G̣n.

 

Tướng Timmes đang nặn óc t́m ư nghĩa một bài diễn văn do đài phát thanh Sài g̣n vừa phát. Đó là lời kêu gọi của thủ tướng mới Vũ Văn Mẫu đ̣i tất cả người Mỹ rời Sài G̣n ngay lập tức. Cách đây chưa được một giờ, tổng thống Minh chỉ nói với Timmes về việc phái bộ Mỹ ra đi, nay th́ rơ ràng ông muốn tống cổ tất cả chúng tôi đi để vừa ḷng cộng sản. (tr.339)

 

Timmes vội chạy tới buồng Polgar, báo cho ông biết sự thay đổi ấy, nhưng không ở lại được quá hai phút v́ trùm CIA Sài G̣n đang lo công việc riêng.

 

12 giờ 30 phút, người lái xe nhỏ bé, cam đảm của Polgar cho ông biết rằng vô tuyến điện, anh đă tới ngôi nhà số 6 Quăng Trường Chiến Sĩ. Có một máy bay lên thẳng trên mái nhà, anh nh́n thấy rơ. Nhưng không vào dược nhà v́ cổng sắt khoá kỹ, có tới ba trăm người đang chờ. Nếu mở khoá, họ sẽ tràn vào.

 

Polgar nh́n đài vô tuyến điện, chớp mắt như cố nín khóc. Ông trở về pḥng làm việc, lấy một chai cô nhắc, tu một hơi. Nhiều sĩ quan ngồi ở pḥng ngoài bắt chước ông, người uống Scotch, người uống cô nhắc, hai thứ rượu thường chỉ uống vào lúc vui. Ở bộ phận phân loại người tị nạn, chỉ c̣n Don Hays, hai người Úc và một đại tá không quân làm việc.

 

Giữa trưa, trời nắng chang chang. Không một bóng cây. Không gian óng ánh. Hays móc túi lấy khăn trùm lên đầu. Người Việt Nam đứng chung quanh mồ hôi nhễ nhại đ̣i uống nước. Bể đă cạn. Bọn lưu manh phá hàng rào vào ăn cắp mọi thứ c̣n lại. Mờ mịt chẳng thấy máy bay lên thẳng đâu!

 

Chợt ở phía nhà phụ, tiếng súng M-16 nổ. Hays nhào người ra phía sau một thùng sắt. Người Việt Nam, sợ hăi chạy nhốn nháo chung quanh. Họ kêu át cả tiếng súng. Hays chợt liếc mắt trông thấy hai sĩ qian không quân Mỹ, cầm súng chạy lên gác. Đúng lúc họ chĩa súng lên mái nhà th́ nhiều phát đạn trượt qua khuỷu tay Hays. Anh chúi mặt vào cánh tay. Khi anh ngẩng lên th́ một lính Nam Việt Nam, kẻ bắn lén, rơi từ mái nhà xuống, bị thương nặng. Khẩu M-16 của anh rơi liền theo.

 

Hays vớ lấy một loa, loạng choạng, đứng dậy. Anh hô hào bằng tiếng Việt Nam: “B́nh tĩnh! Bà con hăy b́nh tĩnh! Không việc ǵ. Người Mỹ không bỏ bà con, tôi không bỏ bà con!”.

 

Ở đằng kia thành phố, một đồng nghiệp tôi, “Harvey Mitchell” gặp khó khăn, một giờ trưa, anh ngậm thuốc lá, đi ra, đi và khách sạn Duc (tr.340) chờ đoàn xe ô tô buưt hoặc một xe của sứ quán. Lần thứ sau, thứ bảy ǵ đó, anh không gặp may. Anh vừa đặt chân lên hè th́ ở bên kia đường Pasteur, lực lượng an ninh chính phủ bắn hàng tràng đạn M-16. Anh chạy vội tới cổng, ra lệnh cho lính Nùng đóng kín cổng lại.

 

Từ sáng đến giờ, khách sạn Duc nóng ḷng sốt ruột. Sáng sớm, mọi người đă đến sứ quán trừ 13 nhân viên CIA làm việc ở đấy. Nhưng mấy giờ qua, người Việt Nam tràn vào khách sạn. Phần lớn là chiêu đăi viên, bồi bếp, nhân viên văn pḥng làm việc ở khách sạn từ lâu. Mitchell, bực ḿnh, đă cho đóng cửa khách sạn từ nửa buổi để hạn chế ḍng người vào. Nhưng thỉnh thoảng anh hoặc đồng nghiệp lại mủi ḷng, ra mở cửa cho mấy người bạn hay người quen biết, hoặc đồng nghiệp. Cho nên, đến nay đă có hơn một trăm người ở rải rác khắp sáu tầng lầu khách sạn, thế mà ô tô buưt của sứ quán hoặc phái bộ quân sự không hề đến.

 

Có một hai máy bay Hney của không quân Mỹ đă đỗ xuống sân gần bể bơi trên nóc khách sạn nhưng không một người Việt Nam nào được đi. Sân thượng đằng trước chỉ để cho máy bay nhỏ đỗ nên Mitchell dành chuyến ấy cho người Mỹ đang ở trong khách sạn, trong đó có anh. C̣n những người Việt Nam đi di tản bằng xe ô tô buưt!

 

Robert Kantor, nhân viên hành chính của Polgar vừa vào pḥng thông tin th́ Mitchell gọi về. Lúc đó là 13 giờ 30 phút. Mitchell lại xin xe, Kantor, người miền Nam nước Mỹ b́nh tĩnh, tóc hung, cuộn làn sóng, hứa sẽ cho một đoàn xe tới.

 

Polgar vào, hỏi, giọng mệt mỏi: “Anh có được tin Út không?”.

 

Kantor trả lời: không, rồi anh tŕnh bày t́nh h́nh ở khách sạn Duc. Polgar lơ đăng nghe, vội vàng hỏi vài câu bâng quơ, nhún vai, rồi đi ra.

 

Polgar đi tới giữa sân, một người phụ trách hậu cần túm tay áo ông hỏi: “Tôi có hai trăm rưỡi người Việt Nam giúp việc. Họ ở cả trong ngôi nhà của cơ quan. Làm thế nào để đón được họ?” Polgar tiếp tục đi, phủi tay, thét lên: “Không biết, tôi không có th́ giờ lo việc ấy!” (tr.341). Cũng như bao nhiêu người khác, hai trăm người Việt Nam này cũng bị bỏ rơi.

 

Trên mái nhà số 6, Quảng Trường Chiến Sĩ, T.D. Latz lại xem giờ. Cùng với viên phi công, anh đợi Út và ba mươi người Việt Nam quên thân của Polgar. Nửa giờ sau. Latz sốt ruột. Một phút trên mái nhà này là một phút mất toi, với th́ giờ mất đi, cứu được bao nhiêu người Mỹ và Việt Nam!

 

Kantor giơ tay lên, vẻ thất vọng: “Nếu xảy ra cháy, anh đích thị là thủ phạm, nhưng anh phải đốt những bức điện mật đi”. Người này cùng với 12 đồng nghiệp mất hai giờ sau đó, thu dọn những mảnh giấy vụn, cho vào bao, đưa xuống sân, xếp dọc căng tin của người Việt Nam. Họ quên không đốt. Mấy giờ sau, máy bay lên thẳng tới. Gió cánh quạt xé rách bao, thổi tung giấy ra ngoài. Khắp sân, đều có chữ mật mă: cả một đoạn tin tối mật của sứ quán gửi đi, c̣n có thể đọc được. Máy bay cất cánh, những mảnh giấy ấy lại bay lên cây, sa xuống bụi, bám vào tóc phụ nữ Việt Nam giàu có đang đợi di tản.

 

13 giờ 50 phút, giờ Sài G̣n, đoàn máy bay lên thẳng đầu tiên của lực lượng can thiệp 76 từ Biên Ḥa bay đến, định đỗ xuống Tân Sơn Nhất. C̣n mười phút nữa th́ xuống. Trong chiếc đi đầu, tướng Richard Carey, tư lệnh lực lượng an ninh Hải quân, kiểm tra lại máy móc lần cuối cùng.

 

Trên hạm đội di tản, đô đốc Whitmire tiếp tục tự hỏi về giờ giấc. Việc chuẩn bị cho đoàn máy bay thứ hai kéo dài. Đoàn trưởng không chắc 40 máy bay đang ở trên cầu tàu có thể bay tới Sài G̣n vào giờ sau không. Lập tức, đô đốc thảo một báo cáo nói rơ: kế hoạch triển khai chiến dịch “Gió lớn” cần có một thời hạn hai giờ để huy động lực lượng an ninh dưới đất, có đủ số máy bay lên thẳng cần thiết và tập hợp máy bay bảo vệ” (tr.342)

 

Sau khi cân nhắc những yếu tố ấy, Whitmire mới có quyết định chính thức: chiến dịch được lùi lại: 15 giờ, đoàn máy bay lên thẳng thứ hai sẽ bay. Lùi về việc này, lùi v́ cái khác, th́ giờ qua đi rất nhanh. Phi công phải mở hết tốc lực. Trời sắp tối, quân Bắc Việt Nam đang sốt ruột. Một cơn giông từ biển tràn vào Sài G̣n.

 

Mặt trời càng xuống, hoảng loạn càng tăng. Phái bố quân sự không nắm rơ số người di tản. Ở Hoa Thịnh Đốn, Kissinger cáu kính liên tục v́ sự chậm chạp. Ở sứ quán, Polgar mỗi lúc một rũ xuống.

 

Đi bách bộ trong pḥng làm việc, ông mấp máy môi tự hỏi: Út và 30 người Việt Nam ở đâu? Hay vẫn là tù binh của đám đông ở ngoài và đang chờ lệnh mới? Pittman châm một điếu thuốc mới: “Có một sân thượng nhỏ trên mái nhà tôi ở đường Gia Long. Máy bay lên thẳng không đỗ xuống được nhưng nó có thể bay tại chỗ trên ấy để Út và bạn bè trèo lên”.

 

Nét mặt Polgar giăn ra. Ông liền ra lệnh ngay: T́m Latz. Gọi Út bằng vô tuyến điện, bảo họ đến đường Gia Long. Latz lái ngay máy bay đến nơi hẹn, mái nhà Pittman. Buổi chiều, một nhiếp ảnh đă chụp được bằng ống kính tầm xa một bức ảnh những người Việt Nam trèo thang lên mái nhà để lên máy bay trực thăng. Trong số những người trèo này có cựu bộ trưởng quốc pḥng Sài G̣n Trần Văn Đôn: Bức ảnh được hàng ngh́n tờ báo trên thế giới in lại, trở thành biểu tượng cho ngày sóng gió ấy.

 

Ở sứ quán đang khẩn trương chuẩn bị để đón những máy bay lên thẳng đầu tiên. Không phải là không có va chạm giữa những người phụ trách chính.

 

14 giờ 30 phút, Robert Kantor bắt đầu mất cả điềm tĩnh v́ t́nh h́nh ở khách sạn Duc. Những phố chung quanh đầy (tr.343) người, không một xe nào có thể chạy trên quăng đường ngắn đến sứ quán, Harvey Mitchell vừa loan báo lính Nam Việt Nam đóng bên kia đường bắn vào người qua lại. Những người Mỹ đứng với anh, bắt đầu sợ hăi. “Phải cho máy bay lên thẳng đến để đưa họ đi”. Kantor vừa nói xong th́ Polgar vào hỏi tin tức về Út. Kantor không trả lời, chỉ hỏi lại Polgar cách cứu người ở khách sạn Duc. Polgar nói:

 

Đưa họ ra vậy.

 

- Đưa người Mỹ à?

 

Đúng, chỉ đưa những người Mỹ ra thôi!

 

Nghe thấy cuộc trao đổi ấy, tôi ớn người. Rơ ràng Polgar vừa ra lệnh bỏ rơi hàng trăm người Việt Nam ở khách sạn Duc.

 

Lúc những người Mỹ cuối cùng rời khách sạn Duc th́ Lacy Wright và Joe Mc Bride được đưa đoàn người thứ năm ra cảng: T.D.Latz đă cho một số người lên máy bay trực thăng đang bay đứng trên mái nhà Pittman; đoàn xe ô tô buưt của Moorefild tiếp tục chạy trong thành phố. Đoàn xe đứng trước một ngôi nhà chung quanh có cây, gần sứ quán, ở đấy Shep Lowman chờ nhân vật cao cấp thứ một ngh́n anh gọi sáng nay. Lowman đề nghị Moorefield cho mấy người Việt Nam đi xe, anh nói: “tôi xin xe mấy giờ rồi mà không có, anh giúp họ”. Moorefield lắc đầu: “tôi không chở thâm một ai nữa, quá tải rồi”. Anh mở máy.

 

Phần lớn những nhà báo Mỹ và nước ngoài đều tập kết ở một nơi giữa thành phố. Robert Shapler đă viết phóng sự về Đông Dương 20 năm nay, nửa khóc, nửa cười. Vội vàng thu xếp hành lư, rời khách sạn Continental, anh đi vội vàng đến mức làm hỏng cả dây khóa quần!

 

Một số nhà báo nhất định ở lại. Trưởng pḥng phóng viên AP làm ra vẻ quyết tâm ra đi để mong đánh lừa người đồng nghiệp UPI, nhờ đó AP có thể độc quyền tin tức. Nhưng mưu mô của AP không ăn thua ǵ v́ UPI không đi được, phải ở lại. Do đó sau này cả phóng viên hai hăng tin này đều được chứng kiến chiến thắng của cộng sản. (tr.344)

 

Ba giờ sáng, giờ Hoa Thịnh Đốn, Lawreinee Eagleburger, cố vấn đặc biệt của Kissinger báo cho bộ trưởng ngoại giao biết, máy bay lên thẳng bắt đầu đỗ xuống Sài G̣n “Gió lớn” hay phương án IV được thực hiện.

 

Trong sân trong của phái bộ quân sự, lính thủy Mỹ vũ trang đến tận răng, triển khai theo h́nh cánh quạt, những kỵ mă biển, những máy bay lên thẳng CH-40 và CH-53, lần lượt đổ xuống. Máy bay đậu ở ba nơi: sân ném bóng, sân quần vợt và sân trước nhà phụ. Ḍng người di tản nhanh chóng xếp hàng dọc mỗi sân.

 

Don Hays muốn vỗ tay khi máy bay đỗ xuống sân nhà phụ. Đối với  anh và ba ngh́n người Việt Nam, lính thủy Mỹ đến đúng lúc v́ bọn lính dù Việt Nam đă đục tường để chui vào trong. Nếu không có lính thủy, chúng sẽ tràn vào tất cả các ngôi nhà.

 

Một hạ sĩ quan hải quân khỏe như vâm chỉ vào những người mặc áo dân thường, hỏi Hays: Họ là những người nào?

 

- Những người tị nạn hợp lệ.

 

Người hạ sĩ quan gật đầu, ra lệnh cho lính xếp những người tị nạn thành hàng, mỗi hàng, 60 người. Anh c̣n khuyên Hays nên đi. Hays nói giọng buồn buồn: “Chưa đi được, tôi đă hứa với những người Việt Nam này ở lại, cho đến khi người cuối cùng lên máy bay”.

 

15 giờ 12 phút, giờ Sài G̣n, một máy bay khổng lồ CH-53 bay lên bầu trời từ phái bộ quân sự theo xa lộ Sài G̣n - Vũng Tàu ra hạm đội di tản. Một máy bay khác chở lính thủy bay về sứ quán đón một số người Việt Nam và nhà báo. Polgar vội vàng đến một cửa sổ trên lầu sáu, áp mặt vào kính mờ đi nói nhỏ: “Cảm ơn trời chúng ta may nắm rồi!”

 

Sự lạc quan của ông quá sớm. Cuộc di tản phải ngừng một giờ rưỡi để chờ lính thủy đến bổ sung cho nhóm 48 người cũ.

 

Trên lầu ba, Martin đi lại trong pḥng riêng đọc lại những hồ sơ mới nhất và những điện quan trọng rồi xếp vào sơ mi dày. Trước đó lúc 14 giờ 30 phút, ông đă tắm. Ông đang mặc (tr.345) quần th́ máy bay lên thẳng hạ xuống phái bộ quân sự. Eva Kim bất ngờ vào pḥng làm việc của Martin. Hoảng sợ, cô suưt ngất đi: trước mặt cô, vị đại sứ cuối cùng của Hoa kỳ ở nước Việt Nam Cộng ḥa, chỉ mới mặc quần, mà quần lại chưa cài khuy! Làm ra vẻ mải đọc, đại sứ không nói ǵ, không hề cử động!

 

Mấy phút sau, Martin mặc quần áo chỉnh tề, thắt cravate, vào buồng thư kư, giao hồ sơ, dặn cẩn thận: “phải giữ như giữ con ngươi của ḿnh, đưa đi di tản v́ hồ sơ chứa đựng những tin tức mới trao đổi với Kissinger, để làm tư liệu lịch sử sau này”.

 

Martin có lính thủy hộ vệ, trở về nhà “lấy cái này”. Đó là một con chó nhỏ đen tuyền. Nhưng khi trở lại sứ quán, ông không vào được v́ quá đông người trước cổng. Ông phải vào sứ quán Pháp để đi qua cửa ngách.

 

Đại sứ Pháp vẫn ngồi ở trong pḥng riêng, không có ǵ đáng nói với Martin. Đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Tân Sơn Nhất không đồng ư gặp đại sứ Mỹ. tổng thống Minh cả bốn người đến đề nghị giải pháp thương lượng - một hội nghị ḥa b́nh ǵ đó ở Sài G̣n để bàn vấn đề quân sự, một hội nghị khác ở Paris bàn vấn đề chính trị - những Chính phủ Cách mạng lâm thời chưa trả lời.

 

Martin nhún vai. Có lẽ muộn quá rồi. Cộng sản muốn chiến thắng hoàn toàn. Sau khi cảm ơn Merillon một lần nữa về sự giúp đỡ của ông, Martin ra sân, đi tới bức tường chung của hai sứ quán, gơ ba lần vào cửa ngách, cửa mở, ông đi về pḥng ḿnh.

 

Chỉ có lần này, Jean Marie Merillon không lầm về ư đồ của cộng sản: Những đề nghị mới của Minh chẳng hề làm Chính phủ Cách mạng quan tâm. Họ đón tiếp lịch sự 4 sứ giả của Minh, mời những người này ăn chuối do họ trồng trong vườn chứ không thảo luận. Sứ giả của Minh bắt đắc dĩ phải nhận lời. Sau một giờ nói chuyện tào lao, họ đứng dậy xin kiếu về, đại diện cộng sản mỉm cười...(tr.346)

 

Ở sứ quán, người nào cũng cố giúp bạn bè, người quen đi ra cảng, xuống tàu bè, sà lan nhưng chỉ có sáu ngh́n người tị nạn đi được và tàu bè chỉ chở hết nửa số người.

 

Giữa những viên chức và khách khứa mệt mỏi, Polgar quay cuồng trong pḥng làm việc như một con sấu bị nhốt trong chuồng. Út bây giờ ở đâu? Sao không có nhiều máy bay trực thăng đến sứ quán? Không có tin ǵ ở dinh tổng thống? Ông tự đặt cho ḿnh những câu hỏi trên - mà ông không thể trả lời được - h́nh như ông muốn quên đi, hay là muốn cho chúng tôi quên đi, những cảnh đáng buồn trong ngày. Howard Archer, nguyên trùm CIA ở Quân khu II bảo tôi sẽ đi chuyến bay tới. Anh không muốn sống lại những giờ cuối cùng trong cuộc di tản ở Nha Trang.

 

Trước 16 giờ, Moorefield chấm dứt việc đi tập hợp người tị nạn ở trung tâm thành phố, cho đoàn xe ô tô buưt vào để trong vườn ở bên kia đường trước sứ quán. Anh khuyên người tị nạn trên xe vào sứ quán bằng cửa bên hoặc trèo tường mà vào v́ hàng ngh́n người Việt Nam khác đang tập trung trước cửa sứ quán. Keyes Beech, nhà báo làm việc ở Sài G̣n từ lâu, cũng ở trong đám người tị nạn này, anh gọi tôi giúp anh vào sứ quán.

 

- Cố chen tới cửa, rồi tôi sẽ liệu.

 

Sau này, anh kể lại: “Ngập vào đám người nhốn nháo này, tụi ḿnh khồn c̣n là nhà báo nữa mà là những người chiến đấu để sống. Huưch tay, đá chân...cố làm sao chen được tới bức tường... Chúng tôi giống như những con súc vật. Tôi nghĩ: nay tôi mới hiểu người Việt Nam khổ đến mức nào! Nhưng nếu tôi vượt được qua tường rồi th́ tôi trở lại là người Mỹ!

 

Người nào đó nắm lấy tay áo, giữ tôi lại. Tôi quay lại thấy một thanh niên Việt Nam. Anh kêu lên: “Nhận tôi làm con nuôi, cho tôi di tản, tôi sẽ giúp ông. Nếu không, ông không thể đi được!”. Tôi đồng ư ngay và anh ta nói thêm ǵ, tôi cũng không phản đối. Sao tôi lại bị mắc kẹt vào chuyện này? Chợt tay tôi được tự do và tôi tiến về phía bức tường. Hai lính thủy đứng trên đang xua đẩy người Việt Nam, giúp người (tr.347) Mỹ vào sứ quán. Một anh nh́n tôi, tôi cầu khẩn: giúp tôi với, anh làm ơn giúp tôi!

 

Anh lính thủy đưa tay xuống, kéo tôi lên như kéo một đứa bé. Tôi đứng trên một mái nhà tôn lượn sóng, sặc sụa như một con cá bị vứt khỏi nước”.

 

Trong một biệt thự ở đường Trần Cao Vân, gần sứ quán, Shop Lowman nh́n cảnh lộn xộn ngoài phố. Anh chờ tới bốn giờ rồi mà không có xe ô tô buưt để chở một ngh́n người anh tập hợp được. Những người này đă sốt ruột, anh cũng đâm cáu kỉnh và bắt đầu thất vọng. Lowman lại gọi dây nói cho Mel Chatman, ở sứ quán: “Phải, sà lan vẫn ở Khánh Hội, nhưng ô tô buưt không có rồi!” Lowman quay lại nh́n những người Việt Nam, nói thật với họ và khuyên những người muốn di tản, đi ngay Khánh Hội - Họ nhao nhao phản đối. Một người nói: “Có lẽ chúng tôi cứ chờ ở đấy, sẽ có ô tô buưt”. Lowman lắc đầu. Rồi lợi dụng lúc người Việt Nam mải thảo luận với nhau, anh lẻn ra khỏi nhà, chen vào đám đông, về sứ quán.

 

Khi đi qua nhà anh, anh gặp ngay hai người bạn cũ: Đỗ Kiếm Nhiễu, nguyên thị trưởng Sài G̣n và Nguyễn Văn Ngăi, thượng nghị sĩ. Anh mời họ cùng đi đến sứ quán. Hai người vui vẻ nhận lời nhưng Nhiễu xin chờ mấy phút để ông cho người đi t́m vợ ra cảng từ sáng sớm. Ba người ngồi nói chuyện ở pḥng khách. Vừa được mấy câu th́ một tiếng nổ vang làm rung chuyển ngôi nhà. Một mảnh đạn bay qua cửa sổ, cắm vào tường, phía sau thượng nghị sĩ Ngăi. Lowman hoảng: Chúng ta có nên chờ không? Hai người Việt Nam nh́n nhau, quay sang phía Lowman lắc đầu. Không chần chừ, ba người vội chạy ra cửa. Sau này họ mới biết, mụ Nhiễu gặp may đă xuống tàu rồi.

 

Trước cổng sứ quán Mỹ quá lộn xộn, ba người phải vào sứ quán Pháp. Lính gác Pháp, thoạt đầu đuổi họ ra v́ Merillon đă ra lệnh không cho một người tị nạn nào vào nhưng Lowman cố năn nỉ. Mấy phút sau họ đi qua cửa ngách, về sứ quán Mỹ.(tr.348)

 

17 giờ, tướng Smith gọi sứ quán hỏi số lượng người di tản. Lần đầu tiên ông nhận được câu trả lời có vẻ nghiêm chỉnh. Một cộng tác viên của Jocobson vừa đếm lại số người trong nhà, ngoài sân: từ 1500 đến hai ngh́n người.

 

T́nh h́nh những người này lúc đó rất nóng nẩy. Mới có ba máy bay lên thẳng đến chở người tị nạn. Phải 40 phút nữa mới có chuyến khác. Sốt ruột v́ chờ đợi, dân tị nạn kêu ca, oán thán, chửi bới.

 

Trên lầu sáu, tôi cố không quan tâm đến những chuyện xảy ra, chăm chú nghe dây nói, đọc những bức điện, mỗi lúc một ít đi. Tôi không thể không ở chỗ làm việc. Cũng như Polgar, tôi suy sụp rất nhanh.

 

Tôi vừa trả lời dây nói người Việt Nam cáu kỉnh thứ một trăm th́ “Harry Linden”, một đồng nghiệp đến t́m tôi: Đôi kính dày, giọng kim loại óng ánh mồ hôi, anh nói giọng run run: “Những người phiên dịch của chúng ta! Quên họ rồi. Họ đang ở ngôi nhà gần khách sạn Duc. Phải đón họ”.

 

Linden, người phiên dịch cừ khôi của CIA, cho ằng anh phải chịu trách nhiệm đối với đồng nghiệp. Hầu hết đều nói giỏi hai thứ tiếng Anh, Pháp. Họ đă dịch cho chúng tôi những tài liệu quan trọng và giúp chúng tôi tuyển người. Trong số những người Việt Nam giúp việc, họ là những người chắc chắn, biết nhiều về hoạt động của các nhân viên CIA và biết nhiều điệp viên. “Thế mà - Linden vừa thở - vừa nói, viên chức CIA chịu trách nhiệm an ninh của họ, đă bỏ đi trước rồi!”.

 

Tôi đẩy Linden về pḥng Polgar và nghe anh báo cáo chuyện trên. Polgar bực ḿnh. Ông chỉ sang nhóm người viên chức đang ngồi nghỉ ở pḥng trước mặt, nói chuyện tếu và uống rượu: “Lấy một người phụ trách việc này”. Tôi ra kéo tay Harry, dẫn anh đến pḥng dây nói: “Gọi cho những người phiên dịch, báo họ đến nhà Pittman. Ở đây đă có 30 người bạn của Polgar. Sẽ có máy bay trực thăng đến đón. Phiên dịch phải chờ sau, đến lượt mới đi, tuy nhiên họ c̣n gặp may”. (tr.349)

 

Khi anh đàn nói chuyện th́ tôi nghe rơ nhiều tiếng nổ, dội tới cả cầu thang, trên lầu bốn. Chuyên gia thông tin đang phá hủy máy móc liên lạc với Hoa Thịnh Đốn. Họ vừa bắt đầu dùng búa và lựu đạn th́ đại sứ tới. Ông nổi giận ra lệnh bằng một giọng khàn khàn: “Ngừng ngay cái tṛ xiếc ấy! Tôi không thể chịu được tiếng ồn”. Nhân viên CIA tiếp tục phá nhưng nhẹ nhàng hơn.

 

Tôi ngồi ở đấy nghe Harry nói và nghe tiếng búa. Tôi tự hỏi bao lâu nữa mới kết thúc. Tôi rút trong túi một điện, đọc lại. Đó là tin báo cho biết đến 18 giờ, cộng sản sẽ bắn phá dinh tổng thống. Tôi nh́n đồng hồ: c̣n chưa đầy một giờ!

 

Quá 17 giờ, tướng Timmes gọi dây nói cho Minh hỏi tin về cuộc tiếp xúc với Chính phủ Cách mạng, về những điều sứ giả của Minh nắm được. Cộng sản có đánh đến cùng bằng pháo binh không? Minh vẫn như trước, chẳng biết ǵ cả, lơ mơ hết chỗ nói. Minh trả lời: ông ta định thu xếp một việc ǵ đó nhưng cho đến nay, đại diện Chính phủ Cách mạng từ chối không thảo luận, lấy cớ họ chỉ là những người lính không phụ trách vấn đề chính trị. Ông nói thêm: tuy vậy chưa phải là hết hy vọng. Ba nhân vật trung lập vừa đến chỗ đại diện Chính Phủ Cách mạng lâm thời, đề nghị ngừng bắn. Nghe nhắc đến tên ba người đó. Timmes hơi ngán: luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và linh mục Chân Tín đều là những người chống lại chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thật mỉa mai, số phận những người Mỹ cuối cùng ở Sài g̣n lại nằm trong tay họ!

 

Timmes biết rằng ông không c̣n gặp lại người bạn già Minh lớn nữa nhưng ông không muốn một cuộc chia tay đầy nước mắt. Ông chào đơn giản: Tạm biệt! Đó là cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người.

 

Trong hồi kư của ḿnh, tướng Văn Tiến Dũng viết vào lúc hai giờ sáng, phái đoàn quân sự của ta ở trại David trong Tân Sơn Nhất điện về Bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: “Có ba người do chính quyền Sài G̣n cử đến gặp chúng tôi để thăm ḍ việc ngừng bắn. Đồng chí Vơ Đông Giang tiếp họ và (tr.350) nói rơ lập trường quan điểm của ta trong Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời ngày 26 tháng 4. Sau đó họ xin ra về. Tôi nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy hiểm, không nên về. Cuối cùng, cả ba người đồng ư ở lại. Hiện giờ họ đang ở trong hầm với chúng tôi”.

 

Cuộc du thuyết của ba nhân vật trung lập là hy vọng cuối cùng của Minh. Ông quyết định không có sáng kiến chính trị ǵ nữa một khi ba người trên trở về. Việc ba người ở lại với phái đoàn Chính phủ Cách mạng làm cho Minh lo lắng, không c̣n biết làm ǵ nữa.

 

Chiều đến, những tàu kéo và sà lan cuối cùng rời cảng Khánh Hội chạy đi Vũng Tàu. Phần lớn những tàu bè này mới chở hết nửa món. Trừ mấy tiếng súng nổ lác đác ở cửa sông, chuyến đi ra biển này b́nh yên như một cuộc du ngoại đi viếng đất thánh!

 

Đoàn xe ô tô buưt cuối cùng của phái bộ quân sự, chở tám trăm người, vượt qua cổng chính sân bay Tân Sơn Nhất. Người ngồi trong xe đi đầu là đại úy Tony Woods, bạn cũ của Moorefield. Chuyến xe này là chuyến xe tồi tệ nhất trong ngày. Lính gác, năm lần, bắt đoàn xe quay ra, chỉ cho đoàn xe vào khi tướng Smith doạ sẽ cho không quân can thiệp.

 

Cách đó ba kilômét, ở nơi phân loại người di tản, Don Hays tiếp tục cho người Việt Nam lên máy bay trực thăng, nhanh được chừng nào hay chừng ấy, tuỳ theo sức lực anh. 17 giờ 31 phút, tướng Smith báo cho hạm đội di tản biết c̣n khoảng 1300 người nữa, trong đó có đơn vị an ninh hải quân gồm 840 người. Từ sở chỉ huy ở Thái Lan, những người nhận dịch tin của đoàn quân thứ bảy không quân, tính ra phải mất ít nhất hai giờ nữa mới xong.

 

Chập tối, trời đổi gió. Buổi chiều, trời nóng bức thế mà bây giờ, gió thổi ào ào. Trong sân sứ quán, lính thuỷ phải ra hiệu, hét to để hướng dẫn máy bay đỗ. Lúc không c̣n trông rơ nữa, họ định dùng máy vô tuyến điện nhưng không biết rơ làn sóng của máy bay. Phải liên tiếp hỏi phái bộ quân sự mới được thiếu tá Kean cho biết. Khi Lacy Wright vào pḥng làm (tr.351) việc của đại sứ, anh chững lại. Theo lời anh “Trong ấy vô cùng rối ren, có khoảng 15 người đang uống rượu và nói chuyện ba hoa. Martin đang trao đổi với Mc Arthur, phóng viên báo Los Angeles Times. Chỉ có Eva Kim làm việc, một ḿnh nghe ba, bốn dây nói. Cô vừa ngắt một đường dây, lại nhấp nháy ở đường khác. Wright cầm lấy máy “để tôi”. Ở đầu dây đằng kia tiếng nói trộn tiếng khóc thổn thức, rất khó nghe. Một nhân viên Việt Nam giúp việc ở phái bộ quân sự cho biết bọn họ suốt ngày nay ở trên một nóc nhà mà không có ai đón. Hai trăm người tất cả!

 

Wright mệt nhọc trả lời: “quá muộn rồi, không có xe hoặc máy bay đêm. Chịu khó đi bộ ra cảng “May ra tàu bè c̣n chỗ”.

 

Yên lặng. Rồi: “Các ông để mặc chúng tôi chết ở đây à?”

 

Wright kiên tŕ: “Chỉ c̣n cách đó thôi, đi bộ ra cảng!”

 

- “Các ông chả giúp ǵ chúng tôi cả. Chúng tôi chết mất!”

 

- “Rời ngôi nhà, đi ra cảng th́ sống đấy!”

 

Trên băi cỏ dằng sau sứ quán. Ken Moorefield, nhân lúc hơi rỗi việc, vội ăn bữa ăn tối. Vừa nhai xong món đậu, anh thấy một bóng người quen thuộc rẽ đám đông lao đến. Đó là một đại biểu Iran trong Ủy ban quốc tế kiểm soát anh từng gặp khi làm sĩ quan liên lạc cho Ủy ban mấy tháng trước đây. Ông ta không c̣n là một nhà ngoại giao điềm đạm, chững chạc mà Moorefield nhớ măi. Mấy phút trước, ông lẻn vào sứ quán Pháp rồi sang sứ quán Mỹ. Với nhiều đại biểu khác trong đoàn Iran. Ông đang đứng ngoài sân giữa những người Việt Nam nóng tính. Các vị muốn được hưởng quyền ưu tiên!

 

Tuy biết là ḿnh không ở cương vị phải giúp đỡ họ, Moorefield không chần chừ, nghĩ thêm: cần đối đăi thật tử tế với những người con của hoàng đế, anh rẽ đám đông, đi tới họ, dẫn họ về pḥng làm việc của Martin. Khốn khổ thay, sau đó, chúng tôi biết ngay họ sẽ làm phiền chúng tôi. Khi lẻn vào sứ quán Pháp, đi qua cửa ngách, họ đánh rơi mất mật mă. Cửa ngách bị đóng chặt ngay, họ không trở ra t́m mật mă được nữa. Nhân viên thông tin, giữ mật mă phát điên. Nhiệm vụ (tr.352) vụ duy nhất trên đời của anh ta là giữ mật mă, thế mà...Việc một chính phủ khác, nhất là chính phủ Pháp, giữ lại mật mă, đối với anh ta, không thể có được! Anh rất lo trở về Téheran sẽ bị xử bắn. Đại sứ Iran tŕnh bày sự việc với Martin. Martin gọi dây nói cho Merillon. Chẳng ăn thua ǵ. Không lấy lại được mật mă. Người Iran, tay trắng, đi chuyến máy bay sau đó.

 

Sau vụ đánh rơi mật mă ấy, tôi muốn nghỉ một chút. Xách ghế sân cỏ đằng sau sứ quán, tôi ngồi ngắm cảnh chung quanh. Đă mười ngày nay, tôi mới lại được ngồi như thế. Cầu hàng không máy bay lên thẳng hoạt động đều, mặc dù gặp khó khăn: sân hẹp, CH-53 là loại máy bay trực thăng lớn, nặng, mỗi chiếc phải chở tới 70 người, mức trong tải cao nhất.

 

Nhiều lần, gió cuốn suưt gây ra tai nạn. Đă có một máy bay trực thăng lên được ba mét lại phải hạ xuống. Lên ba mét nữa lại phải hạ xuống lần nữa. Chúng tôi rất lo. Công suất máy có thể đưa máy bay lên được không? Tai hại biết mấy nếu một chiếc rơi, nổ trong sân sứ quán!

 

Phi công của hải quân quả có tài. Thấy hết khó khăn ở đây, càng phục họ. Họ phải chở nặng, bay đi, bay lại từ sân sứ quán, hoặc từ mái nhà ra hạm đội, cho người xuống xong, lại bay vào. Chắc họ mệt vô cùng.

 

Những người lính thủy Mỹ cũng có những cử chỉ đẹp, hành động đẹp. Sắp xếp người di tản nhanh, đưa họ lên máy bay để khỏi phải chờ lâu, điều đó có nghĩa là, bánh xe máy bay vừa chạm đất, người tị nạn phải chạy ngay đến cửa sau. Ngoài ra c̣n sức gió 130 kilômét/giờ của cánh quạt quay, nếu để phụ nữ hay trẻ em bị cuốn đi th́ thật là nguy hiểm.

 

Thỉnh thoảng, một sứ giả của đại sứ, khi th́ Wolf Lehmann, khi th́ George hay Brunson Mc Kingsley, lại xuống giảng giải. Họ làm ra vẻ quan trọng, lúc nào cũng đeo máy vô tuyến điện, nét mặt đăm chiêu! H́nh như chỉ có họ là những người chịu trách nhiệm! Thực tế, đó chỉ là những người lính ăn chơi không cần ai giúp đỡ. Có lúc Mc Arthur ra sân cỏ, nh́n qua ống ḍm. Anh vẫn tươi trẻ, không có ǵ mệt mỏi. Không ghi sổ, không chụp ảnh, ảnh chỉ quan sát. (tr.353)

 

Tôi biết trên kia, ở pḥng đại sứ, họ đă uống rượu khan thỏa thích. Ở pḥng Polgar cũng vậy, uống tha hồ, mặc sức. Ở đây, sống trong những ngày qua tôi thấy ớn những bữa rượu chè.

 

Từ sáng đến giờ, ba hay bốn máy bay Nam Việt Nam đă bị súng pḥng không của cộng sản bắn rơi ở ngoại ô Sài G̣n. Một giờ rưỡi trước, quân Bắc Việt Nam đă sử dụng tên lửa SAM-7, bắn vào máy bay Phantom của Mỹ, cách thành phố 16 kilômét về phía Đông Bắc. Phi công Mỹ bắn tên lửa Wild Veasels chống lại, phá hủy bệ phóng của cộng sản. Thực tế, người Mỹ đă trở lại tham chiến!

 

BUỔI TỐI

 

Trong pḥng thường trực của sứ quán, kim đồng hồ sắp chỉ sáu giờ. Tôi ngồi ở bàn chi thường trực, tay cầm áo giáp. Cộng sản có nhận đúng lúc thông điệp của Timmes không? Hay chỉ mấy phút nữa, pháo binh Bắc Việt Nam lại bắn phá. Không ai trong bốn, năm viên chức CIA ở pḥng bên kia biết tin sắp có oanh tạc. họ có vẻ dửng dưng.

 

Đúng sáu giờ, tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển cả ngôi nhà. Tự nhiên, tôi co người lại. Mấy giây trôi qua, dài và nặng nề, tiếng vang xa dần. Polgar ở trong pḥng đi ra, nh́n tôi. Buổi chiều, quá bối rối, chắc ông quên tin báo sẽ có bắn phá. Tiếng nổ vừa rồi đă nhắc ông ta.

 

Ken Moorefield đi qua sân cỏ sứ quán, sẵn sàng bắn bằng khẩu M-16. Anh nói: “Tôi tưởng một trái lựu đạn hay một quả bom nổ, nhưng khi ra tới cổng ra vào, tôi thấy một đoàn xe Volkswagen bốc cháy bên kia đường phố. Một tên Việt Nam vớ vẩn nào đó đă đánh rơi que diêm vào bể xăng. Tức th́ boum! Nhiều người bị thương, nhưng tôi chẳng muốn ra xem có bao nhiêu nạn nhân (tr.354). Hai ba lính thủy ở cổng định ra cứu, tôi ngăn họ lại: “các anh dễ làm mục tiêu cho một kẻ bắn lén nấp trong đám đông!”

 

Trong nhà phụ phái bộ quân sự ở Tân Sơn Nhất, người ta đang đánh nhau. Don Hays, hai người dân Mỹ và mấy lính thủy đang tập hợp một số người di tản th́ lộn xộn xảy ra. Lính dù Việt Nam bất ngờ phá rào, nhảy vào, bắn lung tung. Lính thủy vội vàng đối phó, đuổi được lính dù ra. Khi tướng Smith biết tin, ông ra lệnh chuyển những người tị nạn vào ngôi nhà chính, chắc chắn hơn.

 

Một đại tá hải quân báo cho Hays: xe ô tô buưt sắp chở mấy ngh́n người tị nạn đến ngôi nhà chính. Hays và hai người dân Mỹ cố tập hợp người tị nạn. Họ vừa xếp được một hàng 50 người th́ có tiếng gọi vô tuyến điện của phái bộ quân sự: Lính dù Việt Nam lại chặn đường từ nhà phụ sang ngôi nhà chính, xe ô tô buưt không chạy được.

 

Chỉ c̣n một cách: Bảo người tị nạn chạy dọc dăy nhà ở chu vi phía Nam nhà phụ, qua sân bóng ném, đến nơi máy bay đỗ. Nửa giờ sau, nhà phụ hết người, lính thủy về đóng ở gần sân bóng ném.

 

Trong ngôi nhà của phái bộ quân sự. Nelson Kief một người sống sót từ Pleiku về, lặng lẽ phá hủy những hồ sơ mạt cuối cùng. Anh vừa rút ngăn kéo c̣n lại ra th́ thấy trước cửa sổ, có hai sĩ quan đang đổ dầu xăng vào hai phuy bằng tôn. Anh vội đứng dậy, hai sĩ quan chuồn ngay để lại hay phuy. Kief ra mở nắp một phuy. Anh suưt ngất đi. Trong phuy có hàng triệu đồng đôla giấy buộc cẩn thận.

 

Trước đó, anh được biết tướng Smith đă ra lệnh hủy tất cả tiền mặt của phái bộ quân sự. Vào khoảng hơn ba triệu rưỡi đôla th́ phải.

 

Tôi ngồi trong pḥng đợi của Polgar đang tự hỏi xem quân Bắc Việt Nam có thôi không dùng pháo binh nữa không th́ có tiếng chuông điện thoại. Ngoài phố ầm ầm, tôi không nhận ra được tiếng nói đằng kia đầu dây, măi mới biết là Út, người lái xe của Polgar. (tr.355)

 

Tôi đưa máy nói cho Harry Linden, nhờ anh nghe hộ v́ Út nói tiếng Việt Nam, tiếng the thé, Linden làu bàu, nghe xong, nh́n tôi: “Ông ta nói cầu thang ngôi nhà ở đường Gia Long đầy người, ông chưa đưa được 30 người Việt Nam quen Polgar lên mái nhà để đi máy bay”. Nghe thấy thế, Polgar hét lên: “Bảo nó dẫn về sứ quán, trời ơi lâu quá, họ đến đây, ta sẽ kéo họ qua đường, bất chấp sự phản đối”.

 

Trong khi Linden truyền lại lệnh của ông, Polgar gọi Philip Custen, Bill Johnson và mấy viên chức ngồi pḥng bên.

 

- “Đi với tôi ra ngoài kia”

 

Tôi đứng dậy định cùng đi th́ ông lắc đầu: “Ở lại thường trực với Pittman”.

 

Mấy người đi, đều dắt súng và đeo dùi cui vào thắt lưng.

 

Mỗi người buộc một băng trắng quanh đầu. Mấy phút sau, họ len vào giữa đám đông, đi ra mé cổng. Harry Linden nh́n tôi như muốn hỏi ư kiến rồi anh quay lại, theo Polgar.

 

Nửa giờ sau, họ bắt đầu kéo người Việt Nam qua tường. Mấy lính thủy bất đắc dĩ đă phải giúp họ. Đứng sát vào cổng sắt, Polgar lấy tay chỉ những người quen ông đứng giữa đám đông. Bill Johnson, ngồi trên tường, kéo phụ nữ và trẻ em. May quá, không ai bắn anh. Những người Việt Nam, bên ngoài sứ quán, chỉ tranh nhau tiến đến gần anh. Thỉnh thoảng có người bám vào chân tay anh nhưng bị nhân viên CIA hoặc lính thủy hất ra.

 

Mặc dù đă hết sức cố gắng, Polgar chỉ đưa được mấy người Việt Nam vào sứ quán. Người lái xe can đảm của ông, Út, bị mắc kẹt ở ngoài. Trong lúc đó, ở Hoa Thịnh Đốn, Kissinger gọi dây nói báo cáo với tổng thống Ford đang ở nhà riêng: “cuộc di tản vẫn tiến hành b́nh thường tuy có chậm hơn dự kiến”. 18 giờ 30 phút, máy bay lên thẳng của không quân Mỹ đỗ xuống lần cuối cùng. Ngày hôm ấy, riêng máy bay Huey chở được mấy ngh́n người trong mỗi chuyến, một máy bay khác chỉ đem đi được 12 người.

 

Ở dinh tổng thống, Minh giận dữ đi lại trong pḥng. Đoàn sứ giả đi Tân Sơn Nhất không biết sống chết thế nào. (tr.356) Nhiều người trong giới thân cận lại khuyên Minh đầu hàng không điều kiện. Nhưng Minh không thể làm như thế. Ông ta nói: Đồng bào tôi sẽ khinh tôi! Tôi sẽ quyết định sau. Ông ta muốn thành lập chính phủ để khỏi một ḿnh chịu sự ô nhục này.

 

Ở sứ quán, nhiều người không chờ đi nữa. Shep Lowman rời mái nhà lúc 19 giờ cùng với mấy đồng nghiệp. Joe Kingsley, bạn cũ của tôi và nhiều người khác đi cùng lúc ấy. Cả buổi chiều, anh giúp lính thủy đưa người tỵ nạn lên máy bay: lúc đi anh mệt lử. Một nhà báo Mỹ đi sau cùng.

 

Mỗi máy bay trực thăng quân sự nay chở từ 60 đến 80 người, vượt quá trọng tải rất nhiều. Do đó, lính thủy không cho đưa nhiều hành lư lên, để dành thêm chỗ cho người tị nạn.

 

Nhiều phóng viên nhiếp ảnh không biết thể lệ ấy hoặc giả vờ không biết, đem cả máy móc lên. Chắc họ không quen Joe Kingsley. Lúc một người trong bọn họ đẩy một phụ nữ Việt Nam để lấy chỗ đặt máy. Kingsley vỗ vào vai và hoa nắm đấm trước mặt anh ta rồi quẳng camera vào bụi. Làm xong việc ấy, Joe cho là đă hoàn thành nhiệm vụ nên trèo lên chiếc máy bay CH-53 đi sau.

 

Trên lầu ba sứ quán, trong pḥng riêng của đại sứ. Lacy Wright tiếp tục giúp Eva Kim nghe dây nói. 19 giờ, một người Pháp, trốn ở sứ quán Nouvelle-téland bỏ trống, gọi đến xin giúp một số người Việt Nam và hắn di tản . Wright trả lời: “Giữ họ ở lại đấy. Quân Bắc Việt Nam tôn trọng qui tắc ngoại giao”.

 

Tướng Smith quyết định ở lại cho đến lúc Martin đi. Nhưng đô đốc Gayler đă ra lệnh cho Smith đi ngay. Mặc dù thế, ông thấy có trách nhiệm đối với đại sứ nên đă đổi kế hoạch.

 

19 giờ 15 phút, bỗng nhiên, mất điện, phái bộ quân sự tối om. Sau đó t́m thấy một kẻ phá hoại Việt Nam nào đó đă mắc một sào gỗ vào dây điện dẫn đến phái bộ. Cho chạy ngay máy nổ nhưng các kỹ thuật viên thấy thiệt hại lớn hơn nhiều: đường dây liên lạc giữa phái bộ quân sự với Hoa Thịnh Đốn và thế giới bị cắt. Phải 40 phút mới nối lại được. Thấy thế, tướng Smith ra lệnh không chữa nữa v́ chỉ c̣n khoảng 30 người trong ngôi nhà. (tr.357)

 

20 giờ, giờ SaiG̣n, tướng Smith dẫn đầu đoàn người Mỹ đi ra sân quần vợt nơi có máy bay đỗ sẵn, chờ họ. Lúc họ sắp lên máy bay th́ một ô tô buưt chở người Việt Nam đến, họ đành phải nhường. 20 giờ 15 phút họ mới đi được. Trong bọn họ có Hays mệt bă người. Khi chiếc CH-53 bay lên, anh nh́n lại lần cuối cùng sân bay Tân Sơn Nhất rồi thiếp đi v́ đă bốn ngày liền anh không hề chợp mắt.

 

Nay đến lượt tướng Carey và lực lượng an ninh lính thuỷ trông nom phái bộ quân sự. Họ lần lượt cho những người Việt Nam lên máy bay mỗi lúc một hiếm.

 

Lúc chiều, khi chiếc máy bay trực thăng đầu tiên đỗ xuống sân sứ quán th́ Martin ra lệnh: việc di tản phải được tuần tự tiến hành theo phương châm ai đến trước, đi trước; Người Mỹ không được hưởng quyền ưu tiên. Nhưng t́nh h́nh đă làm đảo lộn lệnh của ông. Ai cũng muốn người thân quen của ḿnh đi trước. Người ta cho bạn bè chí cốt lên hàng đầu. Mỗi khi có cánh hậu, Polgar lại cho mở cổng sứ quán cho vào. Martin không hề biết những hiện tượng ấy. Một viên chức sứ quán phải thốt lên: chẳng c̣n kỷ luật ǵ nữa, mạnh ai người ấy cho đi!

 

Quá 21 giờ, Jim Devine đột nhập vào pḥng đại sứ. Anh vừa nửa đùa, vừa ra hiệu cho đồng nghiệp ngồi trong pḥng: “Đến lúc đi rồi, những anh bạn không cần thiết ạ! Sứ quán đă khoá cửa, tàu, sà lan, đă chạy, tướng Smith đă đi, các anh c̣n làm ǵ ở đấy nữa?”.

 

Lacy Wright và Dan Ellerman cố vấn kinh tế, cầm lấy cặp, tiến tới cầu thang. Theo sau họ là Alan Carter, mệt lả người mà vẫn phải bỏ lại các nhân viên của cơ quan thông tin, rồi Eva Kim, nữ thư kư riêng của Martin. Họ lên mái nhà. Lần đều tiên trong đời, Eva mất vẻ b́nh tĩnh, tóc cô rối tung. Mười một năm phục vụ người Mỹ, làm thư kư riêng cho ba đại sứ trước Martin, cô biết mọi bí mật của sứ quán. Nhưng cô không phải là một phụ nữ ba hoa. Từ đầu đến cuối, cô là một cộng tác viên hoàn toàn trung thành, kín đáo và giữ kỷ luật. (tr.358)

 

Eva Kim đang tiến tới máy bay th́ George Arthur, phóng viên báo Los Angeles Times đi kịp cô. Anh chàng có con ǵ động đậy trong tay, nó sủa lên: Anh chàng dỗ dành con chó đen nhỏ, giấu dưới áo: “b́nh tĩnh, b́nh tĩnh, chỉ mấy phút thôi!”

 

Mc Arthur đưa con Nit Noy, con chó của đại sứ, cho Eva, giúp cô trèo lên ca-bin: Nhà báo đă nhận che chở cho con chó của đại sứ trong chuyến đi cuối cùng này!

 

Máy bay CH-47 bay lên cao, lượn một ṿng, lên cao nữa. Qua cửa sổ, nh́n thành phố anh hằng quen biết, Lacy Wright không hề luyến tiếc. Anh đă làm hết sức ḿnh trong những tuần qua, đă cố gắng giúp đỡ người Việt Nam và thực hiện chính sách của Hoa Kỳ.

 

9 giờ 30 phút, giờ Hoa Thịnh Đốn, viên chức bộ ngoại giao, cơ quan CIA, bộ quốc pḥng uống tách cà phê đầu tiên buổi sáng trước khi làm việc. Ở Nhà Trắng, Kissinger báo cáo với tổng thống Ford: phái bộ quân sự đă hoàn thành việc di tản. Hơn 4.500 người đă đi bằng máy bay lên thẳng trong đó có 450 người Mỹ. Đó là một thành công rực rỡ mặc dù có mất mát. Theo một báo cáo của hải quân vừa gửi về, một máy bay CH-53 rơi xuống biển, bên cạnh đằng lái một con tàu. Không có người tị nạn trên đó nhưng phi công và người phụ lái đều mất tích. Có thể họ đă chết. Họ mệt quá nên để xảy ra tai nạn. Cầu hàng không hoạt động gần sau giờ rồi, thời tiết quá xấu, chẳng thấy rơ mấy, lại thấm mệt nên viên phi công đă tính sai khoảng cách từ máy bay đến chỗ đỗ!

 

Ford hỏi Kissinger xem có nên tạm ngừng cầu hàng không cho đến sáng không. Phái bộ quân sự cũng muốn thế th́ phải? Kissinger trả lời: nên, những cũng cần xem lại một số điều. Bắc Việt Nam bảo đảm cho máy bay trực thăng qua lại nhưng không có ǵ chắc chắn. Nếu tạm ngừng rồi sáng mai lại bay, họ có hiểu trệch đi không?

 

Kissinger gọi dây nói cho Martin hỏi ư kiên nhưng đại sứ không có trong pḥng làm việc. Ông ở ngoài sân đến xem c̣n bao nhiêu người cần di tản.

 

Đi qua pḥng Polgar, tôi thấy Polgar đang quỳ trên một vali để cố đóng nắp. Ông nhẹ nhàng nói với tôi: “Thế là hết” (tr.359) và tiếp tục khoá vali. Tôi định giúp ông th́ ông ngăn lại: Ông đă chuẩn bị xong để rời nước này! Tôi quay về pḥng, thu gọn những bức điện mật đă bị xé thành một đống, chuẩn bị đốt th́ một người quen cũ đến gặp. Đó là Moorefield mà mấy ngày nay không có mặt ở đây. Anh vừa thoát khỏi đám đông ở ngoài cổng, trông anh giống như bức tượng một chiến binh nhỏ, tóc và mặt đầy thuốc súng, khẩu M-16 trong tay. Tôi bắt tay anh: “Minh tưởng cậu đi Tân Sơn Nhất rồi?”

 

Anh trả lời không chút pha tṛ: “Minh thử lại sứ quán xem ở đây xoay sở ra sao?” Anh nh́n mỉa mai mấy đồng nghiệp đang ngồi uống rượu trên ghế tựa ngoài pḥng đợi. “Họ làm ǵ thế, đang dự tiệc à?”

 

Tôi kéo anh ra cửa và nói: Đó là một cách tỏ ra ḿnh làm việc! Tôi rất xấu hổ trước cảnh này. Ra ngoài kia, sẽ nói chuyện thêm. Tôi đang bận. Anh mỉm cười, tỏ ư hiểu, quay gót ra, khẩu súng vẫn cầm trong tay. Nh́n anh đi, tôi thấy vui vui. Moorefield vẫn là một binh sĩ Mỹ chuyên nghiệp, lúc nào cũng sẵn sàng chiến đấu.

 

Mấy phút sau, Polgar ngồi vào bàn máy chữ, đánh một điện cho Hoa Thịnh Đốn: ông báo tin sắp đóng cửa cơ quan v́ chi nhánh t́nh báo ở đây đă hết việc! Ông đưa điện xuống lầu ba để đại sứ duyệt. Khi trở lại, ông xách luôn vali, không nói một lời. Đó là dấu hiệu báo giờ khởi hành đă tới. Tôi cúi xuống gầm bàn, lấy hai chiếc cặp cất ở dưới đó. T.D.Latz bước vào, hai tay ôm hai máy vô tuyến điện vượt đại dương. Anh bảo tôi: “Mang hộ ḿnh một cái. Bọn chúng bắt được th́ uổng” Polgar đá vào một máy thu phát General Electric giá bảy trăm đôla, nói: “Đem được cái ǵ th́ đem. Chi nhánh mất năm triệu đôla thiết bị trong mấy tháng qua rồi đấy!”. Người mắc bệnh tâm thần cũng phải sửng sốt. Chúng tôi chỉ c̣n 12 người trong tổng số ba trăm nhân viên t́nh báo CIA ở Việt Nam.

 

Tôi nh́n lại lần cuối cùng bàn làm việc của tôi. Một cuốn sách của Don Oberdorfer: “Tết”, c̣n nằm trên đó. Tôi định cầm lấy th́ chợt nghĩ: Người đến đây ở sau cùng chắc sẽ thú vị được biết tư tưởng người Mỹ sau cuộc tổng tiến công năm 1968! (tr.360)

 

Tất cả 12 người chúng tôi xếp hàng, dọc cầu thang lên mái nhà, chung quanh xúm xít người Việt Nam. Tôi không có cam đảm nh́n họ. Một lính thuỷ hỏi chúng tôi có vũ khí không. Nếu có th́ phải để lại. Có nhiều tiéng phản đối khi nghe lệnh ấy nhưng không ai giữ lại súng nữa.

 

Polgar rút khẩu súng Browning ra, ngắm nghía một lát, rồi thở dài, thất vọng: “Tôi phải ở lại, đại sứ cũng muốn ở lại một lúc nữa, chờ cho người di tản Việt Nam ở trong ngôi nhà này đi hết mới lên đường. Tôi ở lại và cùng đi với đại sứ”. Quay lại, ông nói với Pittman, người phó của ông: “Anh cũng nên ở lại” Pittman gật đầu, đặt vali xuống. Polgar quay ra phía tôi: “Anh giúp bạn Việt Nam tôi lên máy bay”. Tôi hỏi lại: “Ông có cần tôi ở lại không?

 

- Không. Sở chỉ huy đă ra lệnh, mọi người đi cả. Tôi chỉ giữ Pittman và một nhân viên thông tin ở lại để liên lạc với Hoa Thịnh Đốn.

 

Lần cuối cùng tôi trông thấy Polgar lúc ông đi về pḥng cùng với một lính thuỷ, lấy một két bia Heineker.

 

Trên mái nhà, đó là một giấc mộng. Nơi máy bay đỗ, ánh đèn yếu ớt, một máy bay CH-47 nổ động cơ om ṣm. Đoàn phi hành đều đội một loại mũ lớn, qua ánh nhấp nháy của đèn hiệu máy bay, họ giống như con sâu bọ khổng lồ đứng trên chân sau.

 

Tôi trèo lên thang, kéo mấy bạn Việt Nam của Polgar lên theo. Tướng Timmes ngồi cạnh tôi và Bob Kantor, Bill Johnson ngồi trước chúng tôi, đầu vẫn đội mũ đi câu.

 

Máy bay bắt đầu bay. Qua cửa hậu c̣n mở có một người lính ngồi cạnh khẩu liên thanh, tôi thấy rơ sân bay xa dần. Đèn ca-bin tắt. Máy bay vượt qua trung tâm thành phố, theo đường Vũng Tàu, con đường quen thuộc ngày chủ nhật tôi thường đi. Máy bay vừa qua Biên Ḥa, rẽ về hướng Đông, th́ tôi thấy kho Long B́nh nổ, một loạt nấm nhỏ nguyên tử bốc lên. Trên hệ thống đường từ Sài G̣n đi Xuân Lộc, hàng ngh́n xe vận tải, xe tăng chắc là của Bắc Việt Nam, đang chạy từ từ về Biên Ḥa, xe nào cũng sáng đèn. (tr.361)

 

Họ bắn lên bầu trời Bà Rịa, gần Vũng Tàu. Ánh sáng vàng và đỏ chạy dài như trên một màn ra-đa. Tôi thúc khuỷ tay vào Timmes và nói vào tai ông: “Họ bắn chúng ḿnh!” Ông chồm dậy, mắt sáng lên: “Tôi lại nhớ trận Normandie năm 1944 ông có nhiều chiến công ở mặt trận này. Chỉ huy một đơn vị lính dù, ông đă cùng đơn vị nhảy đầu tiên vào vùng sau lưng địch. Người lính già, qua cửa sổ máy bay, nay nhớ lại cảnh oanh liệt thời xa xưa của ḿnh!”

 

Làn đạn bắn lên kéo dài khoảng ba, bốn phút. Rồi một tiếng nổ lớn ở bên phải máy bay. Tôi nghĩ thật là ngớ ngẩn nếu đúng lúc rời khỏi nước này lại bị giết hại!

 

22 giờ, máy bay bắt đầu xuống. Trong ca-bin, nhiều người nhấp nhỏm. Họ muốn nh́n những tàu chiến. Một tàu bỗng hiện ra trước cửa hậu máy bay vẫn mở. Đèn tàu sáng trưng. Nhiều máy bay trực thăng bay chung quanh tàu. Chúng tôi tuần tự xuống, dưới ánh đèn rực rỡ. Tàu Denver đón chúng tôi như cái kén bằng kim loại bọc con tằm. Máy bay đỗ hầu như chúng tôi không thấy ǵ.

 

Mười giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn, James Schlesinger nổi giận đùng đùng, hơn lúc nào hết. Việc di tản sứ quán Sài G̣n suưt nữa thất bại! Thời tiết trở nên rất xấu ở Vũng Tàu. Gần một nửa máy bay trực thăng đang phải sữa chữa. Phi công mệt lử. Một giờ trước, một máy bay CH-63 rơi, chứng tỏ việc chuyên chở ban đêm rất nguy hiểm. Điều khốn khổ là Martin không biết cần dành ưu tiên cho những người nào. Mấy giờ gần đây, chỉ thấy người Việt Nam được di tản, c̣n lại quá nhiều người Mỹ, một máy bay không thể chở hết!

 

Schlesinger mới đầu gọi dây nói cho Martin để tỏ sự bất b́nh của ḿnh. Sau đó ông gửi điện nhờ Lầu Năm Góc và vô tuyến điện của đô đốc Whimire chuyển. Schlesinger định rơ thời hạn: Giữa đêm phải ngừng cuộc di tản. Nghĩa là chỉ c̣n hai giờ nữa. Sáng hôm sau, sẽ tiếp tục bay. Bây giờ, 19 máy bay lên thẳng sẽ đến sứ quán để đón tất cả người Mỹ ở đó, kể cả bản thân đại sứ.

 

Martin trả lời một cách tiêu cực. (tr.362)

 

Sau này, đại sứ tŕnh bày trước một ủy ban của quốc hội: “Sứ quán đầy người Việt Nam, ai cũng biết chúng tôi ra đi. Chúng tôi sợ hoảng loạn sẽ nổ ra bất cứ lúc nào. Bên ngoài hàng trăm người việt Nam muốn xông vào sứ quán. Rất khó và rất nguy hiểm ngừng cuộc di tản đúng nửa đêm, rồi lại tiếp tục ngày hôm sau”. Đại sứ cũng giải thích với Kissinger như trên trong cuộc nói chuyện bằng dây nói với Nhà Trắng. Sau này, ông nói rơ trước quốc hội: “Tôi được Hoa Thịnh đốn chấp nhận điểm này: tiếp tục di tản cho đến khi khong c̣n người Mỹ nào nữa”. Thực tế lời đề nghị của ông rất cụ thể. “Ông xin thêm 30 máy bay trực thăng để có thể chở hết mọi người. Đề nghị ấy được Hoa Thịnh Đốn chuẩn y”.

 

23 giờ 30 phút, đại tá Gray và một nhóm lính thủy phá huỷ sở chỉ huy phái bộ quân sự. Xe tắng Bắc Việt Nam đang đến gần. không một thiết bị quân sự nào được để rơi vào tay cộng sản. Đầu tiên là hệ thống liên lạc tối mật giữa tướng Smith và Hoa Thịnh Đốn. Nhóm phá hoại đặt nhiều ḿn mạnh chung quanh hệ thống. Một lính thủy kể lại: Vừa có lệnh, một tiếng nổ rung trời, ánh sáng bùng lên, không khí nóng ran, mọi cái tan tành!

 

Mấy phút sau, đại tá Gray và lính thủy đặt bom nổ chậm và bom cháy vào các hầm nhà rồi chạy lên máy bay. Máy bay vừa cất cánh th́ lửa đă bao phủ các ngôi nhà. Sức nóng rất cao đến nổi mái nhà vững như thép của đồn luỹ chỉ huy Hoa kỳ ở Việt Nam sụp đổ như tấm sắt tây.

 

Trước 12 giờ đêm, Martin mặt trắng bệch, ra sân sứ quán. Cùng với mấy cộng tác viên, ông cho gọi người Mỹ vào trong nhà. Chú lính thủy vừa được tin của đài cộng sản loan báo cuột tiến công vào Sài g̣n bắt đầu.

 

Đúng như thế. Cách đó 48 kilômét về phía Nam, tướng Văn Tiến Dũng đă chuẩn bị xong.

 

Trong lúc đó, Kissinger gặp các nhà báo ở bộ ngoại giao: cuộc di tản tiến hành tốt. Nếu họ muốn, ông sẽ gặp lại họ vào hồi 14 giờ. Ông sẽ báo tin tất cả người Mỹ đều đă rời Sài G̣n. (tr.363)

 

Kissinger trở lại pḥng tác chiến ở Nhà Trắng th́ đă 0,45 giờ, giờ ở Sài G̣n. Người Mỹ trú trong hầm sứ quán bắt đầu nghĩ lại. Sau này, Moorefield kể: “Không ai bảo chúng tôi làm việc nhưng chỉ mấy phút, chúng tôi thấy cộng sản chưa tiến công, th́ tốt hơn hết, lợi dụng lúc này, tiếp tục cho di tản: C̣n bao nhiêu người tị nạn ở sứ quán?”

 

Martin cũng không biết. Để làm yên ḷng hai đô đốc, ông bịa ra con số! C̣n 500 người Việt Nam. 75 người Mỹ. Dựa vào 2 con số đó, lực lượng can thiệp ở Thái Lan nhanh chóng cho máy bay sang. Họ tính thêm 9 máy bay CH-53 nữa th́ chở hết dân thường ở sứ quán. Nghe thấy thế, Martin sợ phiền, lại vội vàng điện về Nhà Trắng, báo cáo: sứ quán c̣n một ngh́n người Việt Nam nữa, gấp đôi số người mà ông sự đoán trước đó.

 

Ngoài sân, đại tá Madison và bốn sĩ quan nữa thuộc Ủy ban quân sự hỗn hợp, đi qua đám đông. Đại tá Summers, người phó của ông, vớ lấy máy phát thanh: “B́nh tĩnh, b́nh tĩnh. Chúng tôi ở lại đây, và sẽ đi sau bà con”.

 

Một một sáng, viên chức cao cấp của sứ quán ở lại để cùng đi với Martin, không c̣n biết làm việc ǵ nữa. Sài G̣n đang hấp hối. Pittman đi t́m một thùng lạc rang bơ, mong giữ vững tinh thần mọi người. Polgar đi từ pḥng này sang pḥng khác. Lehmann và mấy người nữa thay nhau nghe dây nói. Lehmann chợt nghe tiếng cầu cứu của một nhóm 60 nhân viên của cơ quan thông tin Mỹ do Carter bỏ lại. Cùng lúc ấy, giám đốc IBM (cơ quan máy tính) ở Bangkok cũng điện về đề nghị cho nhân viên của họ di tản. Nhưng không c̣n có thể làm ǵ được nữa cho nhân viên thông tin cũng như cho người giúp việc của IBM!

 

Moorefield kể lại: “Có lúc không hiểu v́ sao tôi lại vào pḥng đại sứ. V́ ṭ ṃ chăng? Một lần tôi thấy Boudreau nói chuyện bằng dây nói với một phụ nữ Việt Nam, người này cho biết chị có hộ chiếu Mỹ và ba đứa con lại Mỹ, chị hỏi khi nào chị đến được sứ quán để di tản. Boudreau tuy biết rằng hết hy vọng rồi nhưng vẫn trả lời: Sớm mai đến! (tr.364) Tôi trông theo đại sứ một lúc. Tiếng khàn, ông không nói được rơ. Có vẻ rất mệt. Tôi muốn giúp ông nhưng lại thôi. Tôi đi ṿng quanh sứ quán lần cuối cùng.

 

Trong khi đó, Martin mặc dù đau yếu, vẫn có tranh thủ th́ giờ.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, Kissinger nổi giận và sốt ruột, cứ nửa giờ, lại hỏi tin tức.

 

Có ǵ mới không? T́nh h́nh bây giờ như thế nào? Mấy viên chức trẻ đứng chung quanh bắt đầu chế giễu: Ông già Martin vừa cho di tản sáu trăm người cuối cùng của bốn trăm người di tản”.

 

Nhưng Maritn lại xin thêm được một thời hạn: 3 giờ 45 phút, giờ Sài g̣n, chấm dứt. Không thêm một phút, Kissinger hoăn cuộc họp báo đến 17 giờ (giờ Hoa Thịnh Đốn). Ông mói với Martin qua điện thoại: “Tôi muốn trông thấy ông trên chuyến bay tới là chuyến bay cuối cùng. Các vị anh hùng phải trở về!”.

 

Trên lầu sáu, đứng dưới nơi đỗ của máy bay lên thẳng, Tom Polgar ngồi trong pḥng làm việc trống trơ, trước chiếc máy chữ cũ kỹ. Ông vừa đánh xong một bức điện gửi Hoa Thịnh đốn, bức điện lịch sử như ông đă nhấn mạnh trong những câu đầu: “Đă nhận được lệnh tổng thống chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 45 phút, giờ địa phương, ngày 30-4. Muốn hỏi xem đó có phải là thông điệp cuối cùng gửi chi nhánh Sài G̣n không? Phải mất 20 phút mới phá huỷ được máy móc ở đây. Đến 3 giờ 20 phút, giờ địa phương, chúng tôi sẽ chấm dứt việc liên lạc”. Đoạn sau có một nội dung rất triết lư. Ông biết rằng ông viết đây là cho thế hệ mai sau. Nhưng cũng như nhiều bức điện trước ông gửi về Hoa Thịnh đốn trong mấy tuần qua, những điều ông viết chỉ phản ánh ảo tưởng của ông, chứ không nói về hoàn cảnh, về thực tế lúc bấy giờ. Nay cũng vậy, Polgar cho rằng sự bủn xỉn của quốc hội, những biện pháp nhỏ nhen, nửa vời (danh từ, tính từ ông thích dùng), đă gây nên sự đổ vỡ của chế độ Sài g̣n. Ông viết: Đó là một cuộc chiến đấu lâu dài và khó khăn mà chúng ta đă thua. (tr.365) Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đă chấm dứt. Nhưng sự nghiêm trọng của thất bại và hoàn cảnh đưa đến thất bại, buộc chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc chính sách, biện pháp nhỏ nhen, nửa vời chúng ta thường áp dụng trong sự can thiệp của chúng ta vào nước này mặc dù chúng ta đă ném vào đây bao nhiêu người và tiền của. Ai không học được ǵ ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải nhắc lại lịch sử. Mong rằng chúng ta không phải học thêm kinh nghiệm của một Việt Nam khác mà nhớ đời bài học này! Chấm dứt liên lạc của Sài G̣n.

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, gần lúc ấy, Colby, giám đốc cục t́nh báo trung ương CIA, cũng gửi điện cuối cùng cho Polgar. Bức điện ấy cũng đáng ghi nhớ v́ nội dung của nó. Colby viết: “Chúng ta sắp kết thúc việc thông tin với Sài G̣n. Nhân dịp này, tôi muốn bày tỏ niềm tự hào và sự bằng ḷng của ḿnh đối với chi nhánh về công việc mà các đại diện nó đă làm. Trong hai mươi năm tồn tại, chưa bao giờ sự thật nổi bật như trong mấy tuần gần đây. Dũng cảm, liêm khiết, hy sinh và năng lực cao, những đức tính mà các nhân viên chi nhánh có trong những năm qua, giờ đây đă vượt mức, nhất là trong giai đoạn cuối cùng này. Hàng ngh́n người Việt Nam được cứu sống và có tương lai nhờ sự nỗ lực của các ông. Chính phủ ta, từ những bản báo cáo rơ rệt gửi về, đă rút ra điều bổ ích lớn. Một ngày kia, sẽ học tập một cách kính nể, thái độ của các ông trong việc bảo vệ những mục tiêu và lư tưởng của đất nước. May mắn và rất cảm ơn”.

 

Trước ba giờ sáng, cầu hàng không ở sứ quán lại chặn lại. Sợ lính Mỹ quá mệt, Martin xin thêm sáu máy bay trực thăng lớn CH-53. Whitmire bất đắc dĩ phải đồng ư. Sáu chiếc mau chóng lần lượt bay đi trong 40 phút. Nhân viên thông tin liên lạc c̣n ở lại sứ quán, phá huỷ những máy móc cuối cùng và lên lầu sáu, xếp hàng cùng với những người đang đứng đợi.

 

3 giờ 45 phút, giờ kết thúc cuộc di tản, Martin đi ra sân sứ quán, nh́n nhanh đám đông, ra hiệu cho đại tá Madison: (tr.366) “Những người Việt Nam c̣n lại sẽ đi bằng máy bay CH-53. Ai c̣n chờ trong sứ quán th́ ra sân đợi. Cầu hàng không trên mái nhà dành riêng cho người Mỹ”.

 

Thông tin liên lạc từ sứ quán với thế giới đă bị cắt. Giao thiệp với bên ngoài chỉ c̣n có máy vô tuyến điện của lính thuỷ nhưng phải nhờ phi công máy bay lên thẳng chuyển. Nói chuyện với hạm đội, như vậy khá chậm và phức tạp nhưng cũng thu xếp được. Do đó, những lời khiển trách của Kissinger hay Whitmire sẽ c̣n lâu mới đến!

 

Madison chi những người Việt Nam ở ngoài sân ra thành những nhóm nhỏ, mỗi nhóm ngồi chờ một máy bay CH-53. Mấy phút sau, anh báo cho Lehmann ở trong pḥng đại sứ biết: thêm sáu máy bay CH-53 là vừa đủ. Hai mươi phút nữa là công việc hoàn thành.

 

4 giờ 20 phút, một máy bay CH-53 tới. Madison cho người Việt Nam lên, máy bay bay đi, và kíp của anh đợi chiếc máy bay sau.

 

Nhưng, ở đầu đằng kia cầu hàng không, Gayler và Whitmire đă quyết định chấm dứt tṛ chơi của Martin. Các ông hiểu rằng đại sứ cứ muốn lùi dần giờ kết thúc, mỗi lần Martin đều viện cớ c̣n quá nhiều người Việt Nam v.v...Mà lệnh của Nhà Trắng rất rơ ràng: cầu hàng không ngừng lúc bản thân Martin được di tản!

 

Moorefield kể lại: Lúc đó không có máy bay nào cả ngoài sân cũng như trên mái nhà. Tôi đếm người ngoài sân: c̣n hơn bốn trăm. Phải xin thêm mấy máy bay nữa mới chở hết. Lại c̣n mấy người Triều Tiên, người Philippines nữa. Lợi dụng lúc đáng buồn ấy, tôi xuống lầu sáu. Trung tá Kean vừa nhận được tin của hạm đội. Nghiêm chỉnh, ông dỏng dạc tuyên bố với những người chung quanh: “Tôi vừa nhận được điện của Nhà Trắng. Tổng thống ra lệnh: Từ lúc này, nhân viên sứ quán phải di tản!...không được ồn”. Ông nhắc thêm làm như chúng tôi c̣n sức để quấy phá. Tôi nhớ lúc ấy, tôi quay lại bảo Jay Blowers, giọng châm biến: “Không được ồn! Chỉ những người Mỹ được di tản từ giờ này. Chúng ta không di tản ai hết!” tôi lại lên mái nhà, đếm người dưới sân: Hơn bốn trăm người. Tôi biết chắc rằng không ai được đi nữa”. (tr.367) Lúc ấy, Brunson Mc Kingsley, cánh tay phải của đại sứ chưa biết quyết định của Whitmire. Anh ở ngoài sân và hứa với Madison và Summers sẽ xin thêm máy bay. Hai sĩ quan ra nói lại với đám đông.

 

John Pittman đang ngồi ngủ trong pḥng làm việc của đại sứ. Trung tá Kean vào đánh thức anh dậy, anh ch́a bức điện của Nhà Trắng ra: Tổng thống ra lệnh đại sứ phải đi chuyến này!

 

Martin nhún vai, cầm vali, nói với mọi người: “Xong, ta đi” rồi tiến đến cầu thang máy. Nhiều cộng tác viên đi theo: Polgar, Pittman, Jacobson, John Bennett thuộc cơ quan AID, Joe Bennett, cố vấn chính trị và Brunson Mc Kingsley, Lehmann, Boudreau và Jim Devine chờ chuyến sau.

 

Moorefield kể lại: “Tôi nằm dài trên mái nhà, gần cầu thang phụ, đợi chuyến máy bay sau. Tôi thấy ồn ào trong cầu thang chính. Mặc dù đêm tôi, tôi trông rơ Polgar, Mc Kingsley và đại sứ.

 

Tôi ngồi xổm dậy và cho 28 người lên nhưng khốn khổ lại chưa có đại sứ. Mấy phút sau, máy bay đỗ xuống. Tôi bảo nhóm người đi qua mái nhà để lên máy bay. Nhưng lính thủy và phi công căi nhau bên tiếng rú của cánh quạt: “Nhà Trắng ra lệnh đại sứ đi chiếc máy bay này, thế mà tôi lại không mời ông lên trước, tôi dám coi thường...” Tôi liền quay lại cầu thang t́m Martin. Tôi có cảm giác ông không hiểu tôi nói ǵ. Ông nh́n tôi vẻ chế giễu. Cách nh́n của ông, anh biết rồi đấy. Rồi ông lắc đầu. Ông không hiểu. Ông có vẻ bực ḿnh với tôi.

 

Máy bay đậu tại chỗ, không chuyển động mấy phút, phi công nói chuyện với hạm đội. Sau cùng, ai đó kêu lên: “Lệnh là lệnh. Đại sứ phải lên. Mà lên ngay v́ có thể quân đội Bắc Việt Nam đă ở dưới đường. Họ sẽ nổi giận và bắn chúng ta nếu họ thấy chiếc máy bay này đỗ ở đây quá lâu”. Tôi lại quay lại cầu thang và đưa đại sứ đến cửa máy bay. Khi tôi đỡ ông bước qua cửa, ông xanh sao, vàng vọt, yếu ớt kinh khủng. (tr.368)

 

Máy bay bay lên, tôi quay lại cầu thang, nói với Polgar và mọi người: Sắp đến lượt các ông. Một máy bay khác tới, họ lên máy bay. Tôi ra mép mái nhà nh́n xuống sân. Đại tá Summers và Madison vẫn ở dưới đấy với những người tị nạn c̣n lại. Tôi nghĩ không thẻ nào giúp họ được nữa. Mọi việc đă xong...”

 

Trên sân, Summers tự hỏi: Những chiếc máy bay hứa hẹn đâu? Trung tá Kean sau cùng mới cho ông biết chỉ c̣n máy bay chở lính thủy và nhân viên sứ quán, sĩ quan quân đội c̣n lại thôi. Nghe thấy thế, Madison rất bực ḿnh. Nghiến răng, ông nói: chỉ cần sáu máy bay là có thể chở hết, tôi chưa đi nếu c̣n người ở lại. Đại sứ đâu? Phải đến nói với ông ta!

 

Kean lắc đầu, thờ dài: “Đại sứ vừa đi rồi. Tất cả người Mỹ đều đi!”

 

Madison không tin vào tai ḿnh nữa. Không đầy nữa giờ trước, Lehmann và Mc Kingsley nói với ông có đủ máy bay cho người di tản Việt Nam. Thế mà bây giờ?

 

Bực ḿnh, Madison nh́n thẳng vào mặt Kean. Ông nói dằn từng tiếng một: Anh và nhóm của anh không ai đi cả nếu những người Việt Nam ở đây không được di tản. Kean và kíp của anh phải bảo vệ những người này cho đến khi họ được đi.

 

Kean lắc đầu một lần nữa: tổng thống đă ra lệnh cho đại sứ đi ngay và chấm dứt cuộc di tản. Anh không muốn làm trái lệnh tổng thống. Cũng không muốn người của anh bị nguy hiểm thêm. Nói xong, anh quay gót, ra lệnh cho lính thủy tập họp trong sứ quán. Madison chỉ c̣n bốn sĩ quan bộ binh. Ít quá để có thể bảo vệ được tất cả người trong sứ quán. Không có sự giúp đỡ của Kean, ông chẳng c̣n làm ǵ được. Chỉ c̣n một cách là rút lui. Ông ra hiệu cho mấy sĩ quan, lẳng lặng đi vào sứ quán. Trong bản báo cáo cuối cùng về việc di tản, Madison viết: “C̣n 420 người nữa, chỉ cần sáu máy bay là đủ để di tản họ. Trong số này có nhân viên sứ quán Nam Triều Tiên, đứng đầu là thiếu tướng Rhee Dai Yong; nhân viên sứ quán Mỹ chủ yếu là những người chữa cháy xung quanh ở lại cho đến chiếc máy bay cuối cùng, đề pḥng hoả hoạn xảy ra; một linh mục Đức đang trông nom một số người tị nạn và nhiều người giúp việc sứ quán và gia đ́nh họ. Ngoài ra c̣n có nhiều nhân vật chính trị quan trọng của Nam Việt Nam như cựu bộ trưởng tài chính chính phủ Thiệu. Tất cả những người trên, theo lệnh của chúng ta, đă bỏ tất cả hành lư ở lại để được di tản dễ dàng”.

 

Moorefield là người cuối cùng rời trụ sở sứ quán. Lúc chiếc máy chở anh đi bay lên, anh nh́n đồng hồ: 5,24 giờ ngày 30-4-1975.

 

Moorefield kể lại: “Lúc máy bay bay trên bầu trời Sài G̣n, tôi cố ghi trong đầu cảnh thành phố lúc bấy giờ. Một vùng ngoại ô Mỹ đâu đó, B́nh yên, phẳng lặng. Trừ một vài đám cháy ở đằng xa.

 

45 phút sau, chúng tôi đă ở trên tàu. Mặt trời ló sáng. Một đoàn tàu đánh cá chở đầy người tị nạn đậu dài bên bờ biển. Chúng tôi vừa đặt chân xuống boong tàu th́ sĩ quan an ninh hải quân đă tước súng chúng tôi. Tôi không có thẻ căn cước trong người. Họ hỏi tôi là ai. Có người nào bảo lănh cho tôi không. Lính thủy đi ra be tàu, vứt vũ khí của chúng tôi xuống biển”.

 

Lên tàu USS Okinawa, đại tá Madison c̣n cố thuyết phục viên tự lệnh một phi đội máy bay lên thẳng cho sáu chiếc đi cứu người tị nạn ở sứ quán Mỹ tại Sài G̣n. Không ăn thua ǵ. 5,30 giờ, giờ địa phương, tiểu đoàn xe tăng 205 của Bắc Việt Nam vượt cầu Tân Cảng, tiến vào Sài G̣n. Người chỉ huy nghiên cứu cẩn thận bản đồ để nhằm mục tiêu chính, dinh tổng thổng. Một lúc sau, đô đốc Gayler, theo dơi ở Honolulu cuộc tiến công của quân cộng sản đă ra lệnh cho một máy bay lên thẳng vũ trang đến Sài g̣n để bảo vệ lính thủy đang phá hủy nốt số vũ khí ở đấy!

 

Ở Hoa Thịnh Đốn, Henry Kissinger vừa bắt đầu cuộc họp báo mà ông đă hoăn mấy lần. Ông báo tin cuộc di tản tất cả những người Mỹ ở Sài G̣n đă hoàn thành tốt đẹp. Thực tế hăy c̣n lính thủy trong sứ quán (tr.370) Kissinger quyết định không nêu chi tiết ấy. Cuộc họp báo vừa kết thúc, ông vội vàng nhảy bổ vào pḥng làm việc, nổi cơn điên lên. Ông thét lớn: Đưa ngay lính thủy ở Sài g̣n ra! Ông vừa tuyên bố cuộc di tản thành công rực rỡ, nếu để chết một người, ông sẽ giết...!”

 

7,30 giờ, giờ Sài G̣n, nhóm của Kean đóng chặt cửa đồ sộ bằng gỗ sến của sứ quán, hạ màn sắt xuống và vội vàng chạy đến cầu thang phụ. Ở lầu một và và lầu bốn, họ ném lựu đạn cay vào cầu thang máy và kéo hàng rào thép ra ngăn cầu thang. Nhưng đúng lúc họ bước trên những bậc cuối cùng để lên mái nhà th́ những người Việt Nam nổi giận ở ngoài sân đă phá được cửa tầng dưới và chạy lên đuổi họ.

 

Lính thủy khoá được cửa lên mái nhà và ra chỗ máy bay đậu. Nhưng lúc người lính cuối cùng vào được ca bin máy bay th́ cũng là lúc người Việt Nam leo tới mái nhà. Và khi họ nhảy bổ vào gầm bánh th́ máy bay lên cao. Lúc bấy giờ là 7,53 giờ, giờ Sài G̣n.

 

Trên tàu USS Denver, tôi vừa nằm xuống cu-sét, đêm qua tôi chuyên uống cà phê và ngắm nh́n đoàn phi hành gia mệt lử. Có quá nhiều người tị nạn trên tàu nên không c̣n chỗ ngả lưng. Phải đổi nhau ngủ, hai người một cu-sét, bốn giờ một lượt. Lượt tôi vào lúc sáng đă lâu rồi. Tôi nằm duỗi chân và thiếp đi ngay. Một hay hai giờ sau, một đồng nghiệp đánh thức tôi dậy. Anh nói: “Vừa nghe đài BBC, quân đội Bắc Việt Nam đă vào Sài G̣n. Họ gọi đó là thành phố Hồ Chí Minh”.

 

Đó là trưa 30 tháng 4 năm 1975. Trên tàu USS Denver lênh đênh ngoài biển khơi, Polgar cùng nghe tin với tôi, giật ḿnh, tiếc giấc ngủ, ông làu bàu: “Để mặc cho lịch sử sang trang!”.

 

CHE GIẤU

 

Hầu hết người Mỹ cố quên vấn đề Việt Nam. Nhưng đằng sau vấn đề ấy, các giới quan chức lại muốn bới đống tro tàn. Những người phụ trách cuộc đàm phán đi đên ngừng bắn muốn mọi người biết rơ sự việc thật sự kết thúc như thế nào. Hay, nói một cách khác là cố loan truyền luận điểm của họ về sự thật.

 

Việc bóp méo và hoá trang các sự kiện bắt đầu ngay tức khắc. Gặp các nhà báo trong những giờ cuối cùng của cầu hàng không, Kissinger nói rằng c̣n khả năng dàn xếp thương lượng cho đến ngày 27 tháng 4. Sau đó, theo ông Bắc việt Nam mới quay ngoắt đi và áp dụng giải pháp quân sự. Ông cố ư không thấy rằng cơ quan t́nh báo đă có một nhận định khác hẳn. Ông cũng không thật thà nên nói rằng ông bị người ta lừa!

 

Khi Polgar ở trên tàu USS Bluebridge, ông cũng tổ chức một cuộc họp báo, giải thích chi tiết hơn luận điểm của Kissinger. Thực tế, giữa hai người, có một sự khác biệt quan trọng. Polgar không tự hạn chế được việc phê phán đại sứ, làm cho người nghe hiểu rằng Martin chưa bao giờ nhận rơ như Polgar, sự nghiêm trọng của t́nh h́nh quân sự. Về mặt nào, điều đó đúng. Nhưng Polgar quên rằng chính bản thân ông đă góp phần đáng kể vào việc làm cho Martin và Kissinger hiểu lầm rằng có nhiều khả năng ḥa b́nh...Khi chính giới biết rơ luận điểm của ông, Kissinger lập tức đề pḥng việc nói ngược lại. Ông điện cho Martin đang ở trên tàu, ra lệnh không được nói ǵ với giới báo chí. Ông báo cho Thiệu ở Đài Loan (tr.375) biết ông ta không được phép vào Hoa Kỳ (con gái ông ta học ở đấy) trước khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra.

 

Trong lúc đó, nhiều nhân vật trong tấn bi kịch Việt Nam bị lăng nhục thậm tệ. Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không c̣n trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời: “Không! Các anh không c̣n quân đội, không c̣n Tổ quốc!

 

Khi lực lượng can thiệp hải quân Hoa Kỳ tới Manille, ngày 5-5-75, tôi được cử đi Thái Lan, làm nhiệm vụ đặc biệt. Ở đấy tôi phải hỏi tin các nhà báo và lấy cung người tị nạn từ Việt Nam tới. (Thật ra việc bổ nhiệm tôi lần này có nhiều uẩn khúc. Cuộc di tản hết sức lộn xộn, cục t́nh báo trung ương CIA không biết tôi ở đâu khi tôi ở trên đường bay Manille - Bangkok, họ đến nói với cha mẹ tôi rằng, tôi mất tích. Mấy ngày sau, tin này mới được đính chính).

 

Nhưng tin tức thu lượm được giúp tôi làm bản báo cáo đầu tiên về phương pháp cộng sản nắm chính quyền. Tôi cũng được chứng kiến tại chỗ giữa Thái Lan và Việt Nam, một cuộc di tản bất hợp pháp. Nhưng ở sở chỉ huy CIA, không ai đánh giá cao công việc của tôi. Phần lớn những tin tức tôi thu lượm được càng chứng minh rơ sự thất bại của ban giám đốc CIA. Một tháng sau, tôi được gọi về Hoa Kỳ.

 

Tôi đến trụ sở CIA tháng 8, sau mấy ngày nghỉ ngắn hạn (những ngày nghỉ đầu tiên sau hai năm rưỡi làm việc). Ban giám đốc chi nhánh Viễn Đông do Ted Shackley chỉ huy, bắt tôi “thi lại”. Cũng như đối với mọi nhân viên trở về, họ buộc phải trả lời một số câu hỏi: Những câu trả lời tập hợp lại trở thành một bản tuyên bố nói rằng cuộc di tản thất bại là do “hành động địa phương của quân thù”. Tôi không làm. Trái lại, từ pḥng này sang pḥng khác, tôi chạy đi (tr.376) xin phép được làm một bản “kê khai những thiệt hại” để chi nhánh có thể rút ra một bài học về những sai lầm của ḿnh. Họ trả lời tôi không ai quan tâm đến vấn đề có thể gây hiểu lầm ấy.

 

Polgar được đổi đi nhận một chức vụ mới. Không quan chức cao cấp nào trong chi nhánh Shackley bỏ công ra hỏi ông về cuộc di tản hoặc về những người và tài liệu bị bỏ lại.

 

Tôi ở nước ngoài quá lâu nên khi trở lại Langley, nơi đóng trụ sở CIA, hầu như tôi không biết một ai trong số những người phân tích tin của chi nhánh. Ở đấy tôi không thể t́m được một công việc hợp với khả năng của ḿnh. Thấy tôi ở trong t́nh trạng bối rối ấy, Polgar bảo tôi đi theo ông đến chỗ ông mới nhận việc. Tôi nhận lời và đi học một khoá ngoại ngữ.

 

Nhưng nhiều việc xảy ra làm nẩy sinh nhiều rắc rối. Giữa tháng tám Học viện đối ngoại mời Polgar nói chuyện về di tản trước những thính giả chọn lọc trong viên chức bộ ngoại giao. Polgar bận, bảo tôi nói. Tôi nhận lời. Nhưng không phải một bản tường tŕnh mà một bài b́nh luận đầy đủ về những sự việc thực tế xảy ra trong những ngày cuối cùng ở Sài G̣n. Nghe tin, Shackley nổi giận đùng đùng.

 

Ít lâu sau, trong một bữa tiệc mời những nhân viên ở Việt Nam về, tôi gặp Wolfgang Lehmann. Sau mấy phút nói chuyện xă giao, Lehmann gọi tôi ra, hỏi riêng về các khía cạnh chiến thuật quân sự của Hà Nội. Anh thú thật với tôi anh đang nói cho hai nhà báo, hai người được Kissinger bảo trợ, biết về cuộc di tản và sự thất thủ của Sài G̣n. Anh đang cố nhớ lại. Sự thú thật của anh làm tôi ngạc nhiên. Luận điểm của anh không có ǵ giống những việc tôi trông thấy. Tôi cũng không hiểu làm sao những viên chức của chính quyền lại phổ biến t́nh h́nh cho giới báo chí trước khi CIA và bộ ngoại giao hoàn thành báo cáo của họ. Thực ra điều mà Lehmann làm, chỉ là bước khởi đầu.Trong tuần sau, chuyên gia về Việt Nam thuộc các bộ ngoại giao và quốc pḥng nhận được lệnh mở hồ sơ của họ (đă được chọn lọc) cho hai nhà báo. CIA cũng làm như vậy. Colby và hai người giúp việc ông, đă gặp một nhà báo, cố thổi (tr.377) phồng vai tṛ của chi nhánh Sài G̣n trong cuộc di tản. Colby giao cho anh ta một tập báo cáo tuyệt mật về Việt Nam. Tài liệu ấy cho biết rơ các “nguồn” tin và các “phương pháp” lấy tin. V́ cố bảo vệ uy tín của ḿnh, CIA thực tế đă làm hộ những bí mật c̣n giữ được sau sụp đổ.

 

Đầu mùa Thu, tôi hết ḷng tin đối với đồng nghiệp và cấp trên. Nhiều nhân viên cũ thuộc chi nhánh Sài G̣n, trong đó có tôi, được tổng thanh tra CIA gọi đến. Ông đ̣i chúng tôi cho biết đầy đủ cách Polgar soạn thảo báo cáo. Mặc dù tôi có cảm t́nh riêng với Polgar, tôi không thể không nói rơ sự thật. Nhất là khi tôi đă yêu cầu nghiên cứu cẩn thận những thiếu sót đă nẩy sinh. Tôi công nhận, nhiều lúc, Polgar đă giữ lại những bản báo cáo không lợi cho chính phủ Nam Việt Nam.

 

Cuối buổi nói chuyện, toi xin phép được viết một bản tường tŕnh đầy đủ về hoạt động của CIA trong những ngày cuối cùng của Sài G̣n, để việc “phán xử” được công bằng. Nhưng ông tổng thanh tra bác bỏ, cho rằng việc ấy quá phức tạp. Ông giải thích: hỏi chuyện chúng tôi, ông không có mục đích nào khác là làm cho quốc hội không đ̣i mở một cuộc điều tra về hoạt động của CIA ở Việt Nam.

 

Lời nói của ông càng làm tôi thêm nghi ngờ. Tôi quyết định một ḿnh, làm một bản báo cáo về sự thiệt hại, dù CIA có muốn hay không và dù sau này phải ra khỏi tổ chức này.

 

Trong suốt mùa Thu và mùa Đông năm 1975, chính quyền tiếp tục cố gắng hết sức mức xoá bỏ h́nh ảnh Việt Nam trong trí nhớ người Mỹ. Lầu Năm Góc kư hợp đồng với nhiều tướng cũ của Sài G̣n để họ viết hồi kư về chiến dịch cuối cùng. Lầu Năm Góc quyết định đó là những tài liệu mật, nếu không được phép, không một tác giả nào được nói với giới báo chí. Trong khi đó, Nhà Trắng và bộ ngoại giao ra sức khen thưởng cộng tác viên thân cận của Martin, cho họ đi nhận chức ở những nơi béo bở để mong họ kín tiếng. Bản thân Martin, sau khi nằm ở bệnh viện để chữa viêm phổi, cũng được tổng thống khen. Lehmann được làm tổng lănh sự ở Francfort và Bondreau, Jazyn Ken được bổ đi Paris nhận những chức vụ cao (tr.378)

 

Nhiều cộng tác viên của Kissinger đề nghị khen thưởng những viên chức trẻ bộ ngoại giao đă bỏ nhiều công sức đề duy tŕ những hoạt động của cuộc di tản nhưng Martin và Lehmann, được Kissinger ủng hộ, đă phản đối, vin cớ, họ “quá đông”.

 

Cục t́nh báo trung ương CIA, v́ danh dự của ḿnh, tỏ ra độ lượng với những vị “anh hùng” ở Việt Nam, mặc dù chưa bao giờ cục khen thưởng đúng thành tích. “Howard Archer” nguyên trưởng chi nhánh Nha Trang, đă bỏ rơi nhân viên và tài liệu, được tham gia vào một nhóm do Colby mới thành lập để đối phó với cuộc điều tra của quốc hội. “Custer”, bạn đồng nghiệp anh ta ở Đà Nẵng, được làm trưởng một chi nhánh ở châu Á. Cuối tháng 12-1975, ban giám đốc CIA tập hợp các nhân viên cũ ở Việt Nam c̣n lại, trong pḥng họp lớn, phân phát hàng loạt huân chương bí mật - phần thưởng bí mật cho những công việc bí mật. Lời khen cùng với huân chương tôi nhận được dịp ấy, nói rơ tính sắc bén của nhận định của tôi trong tháng cuối cùng cuộc chiến tranh. Trong lễ khen thưởng. Colby ca ngợi tinh thần hy sinh và hiệu quả công việc của chúng tôi, đề cao chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Ông nêu bật chiến dịch Phượng Hoàng và chương tŕnh b́nh định, theo ông, có thể đưa đến chiến thắng cuối cùng nếu không có quân đội Bắc Việt Nam. Tôi ngồi yên nghe những lời ba hoa ấy và tự hỏi điều ǵ sẽ xảy ra đối với CIA, cơ quan tôi đă từng phục vụ?

 

Mấy ngày sau, tôi báo cho George Garver, đồng tác giả bản báo cáo Weyand, tôi muốn viết một cuốn sách về thời kỳ ngừng bắn nếu được CIA tán thành và giúp đỡ. Carver không khuyến khích tôi. Ít lâu sau, tôi được gọi vào pḥng trưởng ban tư pháp và bị chất vấn. Một người đóng vai người nghe, một người luận tội. Người ta bắt tôi phải để máy kiểm tra xem có nói dối không, có bảo đảm rằng tôi không đưa những tin tức mật cho giới báo chí không. Người ta bắt tôi nộp sổ tay riêng, nộp nhật kư của tôi ở Việt Nam. Ba tuần sau khi CIA dành cho tôi sự khen thưởng cao quư nhất ấy, vào một buổi chiều, tôi báo cho thủ trưởng trực tiếp của tôi, tôi xin thôi việc để tỏ rơ sự phản đối của ḿnh! (tr.379)

 

Tôi vừa đoạn tuyệt xong th́ các viên chức CIA cố làm mất danh dự tôi trong đồng nghiệp cũ. Như là tôi sắp sửa tiết lộ những bí mật của Nhà nước. Nhân viên CIA quen biết tôi hay đă làm việc với tôi, kể cả một cô bạn cũ, đều bị gọi lên chất vấn, đe doạ bị thải hồi nếu họ không báo cáo tất cả những ǵ họ biết về tôi!

 

Lúc ấy, tấn thảm kịch Sài G̣n là đầu đề những cuộc thảo luận sôi nổi của quần chúng. Ngày 27 tháng 1 năm 76, đại sứ Martin phải tŕnh bày trước ủy ban đối ngoại của hạ nghị viện bản báo cáo đầu tiên về sự thất thủ của Sài G̣n. Bản báo cáo thật sự là một tác phẩm: không lên án ai, cũng không có bóng lỗi lầm của ông, nhưng gây cảm tưởng là Kissinger, Polgar và quốc hội là những người chịu trách nhiệm chính về sự sụp đổ của Sài G̣n và về những vấn đề do cuộc di tản gây ra.

 

Martin sau đó giải thích với tôi, bài nói của ông đă được cân nhắc cẩn thận. Mặc dù ông được tổng thống khen thưởng cộng tác viên thân cận của ông được đề cao, ông có cảm tưởng là chính quyền, trong những tháng quan, đă không biết đến công lao của ông, thậm chí c̣n khinh ông, để cho ông phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ ở Việt Nam. Ngay bản thân Kissinger, theo Martin, cũng loan truyền ở Hoa Thịnh Đốn rằng chính Martin cũng quá nhẹ dạ. Nay đại sứ nhất quyết báo thù. Những lời bóng gió tế nhị trong bài nói của ông trước quốc hội là những mũi tên bắn trả thù.

 

Việc đại sứ làm thu được hiểu quả ngay. Ít lâu sau, Kissinger bổ ông làm “trợ lư đặc biệt”, hy vọng tước vũ khí của ông. Nhưng Martin không dễ dàng chịu khuất phục. Nhièu lần, ông nói chuyện với tôi và giới báo chí về những việc ông làm ở Sài G̣n. Để củng cố lời nói của ḿnh, có lúc ông bóp méo cả những tài liệu mật.

 

Trong khi Martin cố lấy lại uy tín của ḿnh, th́ những khó khăn của tôi với CIA lên cao điểm. Mùa xuân năm 1976, người chỉ huy quân đội Bắc Việt Nam, tướng Dũng xuất bản cuốn hồi kư. Gián tiếp ông công nhận rất nhiều sai lầm của sứ quán Mỹ trong những ngày cuối cùng ở Sài G̣n. (tr.380) Một nhà báo của tờ Washington Post, tôi quen từ lâu, gọi tôi đến hỏi ư kiến về mấy điểm của tướng Dũng nêu ra. Tướng Dũng viết rằng quân đội Bắc Việt Nam bắt được nhiều hồ sơ, tin tức c̣n nguyên vẹn. V́ CIA không nghe lời tôi nên tôi công nhận những điều ông Dũng viết là đúng. Bài báo nhan đề: “Những bí mật bị mất ở Sài G̣n” được đăng lên. Lần đầu tiên, một viên chức cũ của sứ quán, công khai lên án chủ trương chính thức của chính phủ trong sự sụp đổ cuae Sài G̣n.

 

Từ lúc ấy, tôi trở thành kẻ thù công khai của một số nhân vật chính quyền. Thứ trưởng ngoại giao Habib viết cho Kissinger rằng những lời b́nh luận của tôi với giới báo chí có tính chất lật đổ. George Carver đi đến mức gợi ư với CIA: tôi có thể là một gián điệp của nước ngoài, cần cột chân tôi lại. Đó không những là một lời chửi rủa tôi mà c̣n là một sự vi phạm nghiêm trọng đối với luật pháp. Thật vậy, luật về an ninh quốc gia cấm CIA tham gia những hoạt động cảnh sát trên địa hạt nước Mỹ.

 

Cuối cùng, mùa Hè năm 1976, Polgar được gọi về Hoa Kỳ. Người ta giao cho ông hăm doạ tôi. Trong một buổi nói chuyện, thủ trưởng cũ của tôi lên án tôi không có tinh thần yêu nước, lại dám phê phán CIA, và c̣n cho tôi là “hơi điên!”. Ông cố thuyết phục tôi rằng ông đă làm việc tốt trong cuộc di tản, đến mức nói ông đă cứu được một ngh́n nhân viên Việt Nam trong ngôi nhà số 7 tức đài phát thanh bí mật! Thật ra số người đó do Bill Johnson tổ chức di tản, trái hẳn với ư kiến của Polgar. Cuộc nói chuyện của chúng tôi đến đây chấm dứt. Tôi không bao giờ gặp lại Polgar nữa.

 

Mấy tuần sau, tôi đi Paris để tập hợp tài liệu. Tôi gặp nhiều nhân viên sứ quán cộng sản Việt Nam và đề nghị được hỏi tướng Dũng ở Hà Nội một số vấn đề. Đồng thời tôi xin phép được lấy ra, gửi đi một món đồ cá nhân của Martin bỏ lại Sài G̣n. Về công việc chung, tôi đề nghị họ cho biết danh sách những binh sĩ Mỹ mất tích, ngược lại cho họ biết qua về thái độ công chúng ở Hoa Kỳ, nhất là sự lănh đạm của họ (tr.381) đối với Việt Nam, t́nh h́nh mà họ không hề biết. Ít lâu sau, t́nh cờ hay cố ư, Hà Nội gửi cho Hoa Thịnh Đốn danh sách 12 lính Mỹ mất tích.

 

Khi tôi trở lại Hoa Kỳ, tôi báo cáo với CIA và bộ ngoại giao những hoạt động của tôi và đề nghị bạn bè trong chính quyền cải thiện mối quan hệ chính thức với Hà Nội, để cộng sản đối đăi tử tế hơn với những người chúng ta bỏ lại. Để trả lời, CIA càng gây sức ép với tôi.

 

Tôi quyết định không gặp người của CIA nữa, không đưa tập bản thảo tôi viết cho họ kiểm duyệt, không xin phép, những việc mà một nhân viên cũ của CIA phải thực hiện. CIA đă bóp méo tin tức phổ biến cho giới báo chí, nó không có quyền ǵ kiểm duyệt tôi v́ an ninh và quyền lợi của quốc gia.

 

Trong khi tôi viết cuón sách này, Graham Martin tiếp tục tự bào chữa trước công chúng. Cuối cùng Nhà Trắng, vào mùa Thu 1976, trước khi bầu cử tổng thống, đề nghị ông làm đại sứ lưu động nhưng sự bổ nhiệm này phải được quốc hội chuẩn y. Những đối thủ cũ của Martin đă kéo dài ngày có quyết định.

 

Kết quả cuộc bầu cử tổng thống đă làm tiêu tan hết hy vọng của Martin. Ông chỉ c̣n có cách nghỉ hưu!

 

Cuộc phiêu lưu Việt Nam của tôi chấm dứt vào một buổi chiều thứ sáu cuối năm 1977 trước mặt Martin. Ông bảo tôi đến nói chuyện với ông ở lầu thượng bộ ngoại giao. Một con ma đón tôi ở cửa. Martin chỉ c̣n là cái bóng của bộ ngoại giao ba hoa tôi gặp trong những giờ sôi động mùa Hè năm 1973. Mệt mỏi, mặt nhăn nheo già cỗi, ông mời tôi ngồi xuống một ghé trước bàn làm việc. Ông nói: hôm nay là ngày cuối cùng ông ở bộ ngoại giao, ông muón biết rơ tôi có thật chắc chắc về những việc tôi viết trong cuố sách không. Ông nhắc lại những sự kiện chúng tôi đă nói với nhau trong những buổi gặp trước. Như thường lệ, ông cố giải thích cho những việc và quyết định trước của ông. Ông nói hơn một giờ rưỡi. Tôi ghi mỏi tay. Sau bốn năm làm việc với người này, tôi thuộc ḷng những lư lẽ của ông. (tr.382)

 

Ông đứng dậy, đưa tôi ra cửa. Cái nh́n mỏi mệt đượm vẻ buồn vô tận. Ông nói: “Anh biết chứ, tôi rời nơi đây cũng gần như khi tôi mới đến đây. Cách đây 40 năm, lúc tôi mới vào nghề, tôi chỉ tuyên thệ trước một mục sư già ở nông thôn. Ngày nay, tôi không có nghi lễ ǵ cả. Tôi làm việc ở bộ ngoại gio bao nhiêu năm thế mà khi về hưu, đồng nghiệp tôi không có lấy một bữa ăn sáng vĩnh biệt!”.

 

Tôi nh́n ông một lúc, Nên mỉm cười hay tỏ ḷng thương hại? Có nên đóng kịch không? Mặt tôi đanh lại, tôi bắt tay ông và đi về.

 

Đi đến cầu thang máy, tôi nhớ lại lời một đồng nghiệp nói về Martin: Những ư kiến vừa như chế giễu, vừa như khen: “Ông ta tự coi ḿnh là một con cáo già ở đầm lầy, thông minh và khôn ngoan, có thể làm thay đổi mọi việc để đạt mục đích. Nhưng tất cả cái ông đạt được chỉ là đốm lửa trong đầm lầy, một ánh lửa sáng và mơ hồ chẳng thay đổi ǵ cốt lơi sự việc”.

 

Nhiều người cho rằng mưu Việt Nam mà người Mỹ nuôi dưỡng và ủng hộ chỉ có thể kết thúc như Martin đă làm. Ngay từ đầu, chính sách của chúng ta quá tồi, không rơ ràng, chính sách ấy chỉ có thể đưa đến chiến thắng của cộng sản.

 

Tôi không thể bảo vệ được chính sách ấy nhưng tôi đem hết lương tâm ra chống lại lập luận trên. Là một nhân viên t́nh báo cũ, tôi chắc chắn rằng, (có lẽ hơi ngây thơ) những quyết định tốt, đúng lúc và dựa trên một nguồn tin chắc chắn có thể thay đổi được sự kết thúc, có khi tránh được cả sự kết thúc ấy. Nhiều người Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam đều tán thành lập luận ấy. Một nhà lư luận già của họ chẳng đă nói: Nếu nói đến xu hướng th́ không thể nói đến quyết định trước. Những người biết rơ lực lượng tham chiến có thể thay đổi được quá tŕnh sự việc xảy ra.

 

Kissinger chắc chắn là người Mỹ trực tiếp cân nhắc lực lượng tham chiến ở Việt Nam sau khi ngừng bắn. Chính ông đă thương lượng “ḥa b́nh” và sau đó, điều khiển chính sách Hoa Kỳ. Trong cả hai trường hợp, ông đều làm hỏng và phá công lao của ḿnh. Dân chúng Mỹ muốn rút nhanh (tr.383) ra khỏi Việt Nam với bất cứ giá nào. Kissinger muốn tuân theo ư chí của quần chúng nhưng lại thừa hưởng những sai lầm của các chính quyền Kennedy và Johnson.

 

Sau khi ngừng bắn, ông lại lầm, quá tin vào sự hợp tác của Liên Xô và Trung Quốc và quá tin vào hiệu quả viện trợ không ngừng cho chế độ Sài G̣n. Nhưng ông không biết lúc bấy giờ, vụ bê bối Watergate đă ngậm nhấm chính sách của ông.

 

Trong những sai lầm ông phạm phải, chỉ có hai cái ông hoàn toàn chịu trách nhiệm. Một là cái cách ông điều khiển công việc, ông thích tṛ chơi trội, thích làm lấy, không giao bớt trách nhiệm cho cộng tác viên. Khi ông quá bận vệ vấn đề Trung Đông, Hoa Thịnh Đốn đă bỏ quên mất vấn đề quan trọng hơn là vấn đề Việt Nam. Khi cuộc khủng hoảng lên đến cao độ, ông chỉ giao cho một người, Graham Martin!

 

Lại c̣n thói thích bí mật. Chưa bao giờ Kissinger báo cáo với quốc hội, với dân chúng Mỹ, ông đă dựa thật sự vào cái ǵ để bảo vệ nền hoà b́nh nửa vời. Một hôm, Martin nói với tôi: thật là buồn, hiệp định Paris không được đưa ra quốc hội chuẩn y. Nếu việc đó xảy ra, ít nhất quốc hội cũng biết cái ǵ thiếu sót ở Việt Nam và sau vụ bê bối Watergate, quốc hội sẽ giảm quyền của tổng thống trong trường hợp có chiến tranh.

 

Ngay sau Kissinger, chắc chắn là Martin phải chịu trách nhiệm lớn về thảm hại cuối cùng. Ông được cử đến Sài G̣n lúc ngừng bắn để duy tŕ một nền ḥa b́nh do Kissinger đem lại, không dẫn đến việc cộng sản nắm chính quyền. Sự “lầm lẫn” của ông là ở chỗ, ông làm việc quá tốt và quá lâu. Đứng về phe cứng rắn - cùng với Nixon - ông củng cố sự không khoan nhượng của người Nam Việt Nam và sự phụ thuộc của họ vào Hoa Kỳ. Cuối cùng, khi chấm dứt ném bom và khi Nixon là nạn nhân quá đáng của ḿnh, th́ không ai, kể cả những người được che chở lẫn đại sứ, có thể thay đổi chính sách đúng lúc. Trái lại Martin vẫn cố gây ảo tưởng là Hoa Thịnh Đốn tiếp tục ủng hộ Thiệu. Kết quả là đẩy Thiệu vào chỗ bướng bỉnh (tr.385) và nhận xét sai lệch. Chắc chắn Martin đă làm. Có thể trách ông không? Nếu ông cố nhào nặn sự thật theo h́nh ảnh ông tưởng đó là v́ Kissinger, thậm chí cả Ford nữa, đều quá ngả theo ảo tưởng của ông, thậm chí chia sẻ những ảo tưởng ấy.

 

Nhiều người khác cũng phải chịu trách nhiệm về thảm hại của Sài G̣n. Đầu tiên là dân chúng Mỹ. Thật ra, sự bất b́nh trong cả nước cuối những năm 60 và đầu những năm 70 đă dẫn đến việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam và chấm dứt sự can thiệp dă man của Hoa Kỳ. Nhưng một khi lính Mỹ đă về nước th́ tư tưởng “cuốn theo chiều gió” đă có trong các giới đối ngoại cũng lan tràn trong dân chúng. Vấn đề Việt Nam không c̣n ở trong ḷng nước Mỹ nữa. Điều đó cho phép một số nhân vật có thế  lực tiếp tục một chính sách hợp lư. Đây có thể là một điều cảnh cáo. V́ việc quân của tướng Dũng vào Sài G̣n tháng 4 năm 1975 chỉ là kết quả sự nhắc lại những sai lầm và thiếu sót đă làm cho chúng ta tham gia chiến tranh. Hai tổng thống Hoa Kỳ đă đánh lừa dân chúng. Đại sứ đă thổi pḥng hy vọng thắng lợi. Người ta bỏ mặc những kẻ do chúng ta che chở ở Sài G̣n, thực hiện một chính sách thất bại. Mọi việc diễn ra như trong giới cao cấp của chính quyền, người ta vội quên những bài học của quá khứ.

 

Mong rằng với thời gian và khi những vết thương chiến tranh Việt Nam đă lành, có thể trả lại vai tṛ cho lịch sử. Nghĩa là đánh giá lại từ đầu, một cách khách quan, toàn bộ chủ trương, chính sách, sự việc xảy ra, kể cả những ǵ làm cho nhiều người trong chúng ta mù mắt, không nh́n rơ diễn biến thật sự của t́nh h́nh Việt Nam. Đừng bỏ lỡ dịp. Thôi, đừng coi vấn đề Việt Nam là một ảo ảnh, dễ quên hơn là dễ nhớ lại. Nhất là trong cơn hấp hối của nó. Nếu không, chúng ta không thể thoát ra khỏi các thế lực, trên lĩnh vực t́nh báo cũng như trong địa hạt chính trị, đă thay đổi “khoảng cách chịu được” của Sài G̣n thành một kết thúc thảm hại của tấm thảm kịch Mỹ. (tr.385) Hết



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend