NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ THIÊN CHÚA GIÁO (Phần 1A) Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ


 

 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA và Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ.  Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC],    viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi  thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được.  Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ  I) &  (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris:  Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

   

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian.  Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950  

*  NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ  

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

*  TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên NHÂN DÂN VIỆT NAM. ORG

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

 

Tony Blair picture 1811810 

 

Lê Hồng Phong

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

 

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ  

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa 

 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

Tin Tức Và Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

* 11 tuổi tự nhận là hiện thân của đại sư Phật giáo (Dân trí) - Một cậu bé 11 tuổi người Mỹ đă quyết định nghỉ học sau khi tự nhận ḿnh là người tái thế của một đại sư Phật giáo đă mất từ năm 1250.  

 

* Bộ mặt thật của một “nhà thơ đấu tranh dân chủ”

* Sự thật về “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tại Mỹ

* Ông “linh mục” và những hoạt động vi phạm pháp luật

* Nguyễn Văn Lư và sự hoang tưởng về chính trị

* "Giải thưởng nhân quyền" cho 2 công dân vi phạm pháp luật: Một tṛ hề lố bịch

* Từ “100 khuôn mặt văn nghệ sĩ” đến tờ báo phản động “Viễn tượng Việt Nam”  

* “Tôi đă hỏi cung Nguyễn Sĩ B́nh như thế nào?”

* Mỹ triển khai tên lửa sát biên giới Nga

* Động thái mới của Mỹ đối với Israel

* Mỹ bất đồng về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân

* Nga - Mỹ lại khẩu chiến về lá chắn tên lửa

* Chương tŕnh hạt nhân của Iran: Giờ G sắp điểm

* Mỹ dùng mạng Internet để bôi xấu chính quyền Tehran

* Mâu thuẫn căng thẳng giữa Venezuela với Mỹ và Colombia  

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa.....  (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) -  (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU  ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ  phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 –  tr 7 LTBĐMT)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng  Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp 

 

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ?  Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi  biến Iraq từ   nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ” …Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ 

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?   

 

    5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

 * Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

THƯ MỤC

NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG

 

 

*THƯ MỤC: NHÂN DÂN VIỆT NAM 2009

*THƯ MỤC NHÂN DÂN VIỆT NAM.2006-2007

 

 

 

 

 

 

 

 

ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ THIÊN CHÚA GIÁO

Phần IA

 

(Phê B́nh Tín Lư)

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Bác sĩ Nhân Tử NGUYỄN VĂN THỌ

 

Bác sĩ Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ sinh ngày 15 tháng 12 năm 1921 tại Chi Long, Hà Nam, Bắc Việt. Tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1952. Phục vụ ngành Quân Y từ năm 1952 đến năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá và giữ chức vụ Chỉ huy Tổng Y Viện Duy Tân (Đà Nẵng) từ năm 1956 đến 1963. Từ năm 1967 cho đến 1975, Bác sĩ là Giáo sư Đại Học Văn Khoa và Minh Đức (Saigon), khoa Triết Học Đông Phương. Năm 1960 tác giả được trao giải thưởng văn chương Tinh Việt Văn Đoàn qua tác phẩm Trung Dung Tân Khảo. 

Kể từ năm 1956 Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ đă nghiên cứu về Triết học Đông phương, bắt đầu từ Khổng Giáo trong suốt 9 năm liền, sau đó là Lăo Giáo, rồi đến Bà La Môn, Phật Giáo và tiếp theo là Thiên Chúa Giáo và các đạo giáo ở Âu Châu. 

Năm 1982 Bác sĩ cùng gia đ́nh định cư tại Hoa Kỳ và lấy bằng Bác Sĩ Y Khoa tương đương tại Hoa Kỳ vào năm 1983. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ từng là cộng tác viên của nhiều nguyệt san tại Việt Nam, Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc và đă hoàn tất 18 tác phẩm với khoảng 7000 trang về hai đề tài chính là Triết Học Đông Phương và Tôn Giáo Đối Chiếu. Bác sĩ Thọ chuyên khảo cứu về Chữ Nôm của thế kỷ 17 và đă phiên dịch được hơn 1000 trang Chữ Nôm của Linh Mục Majorica cũng như đă viết và dịch xong 7 cuốn sách về Đạo Lăo gồm Phép Tu Tiên hay Tiên Thiên Khí Công như cuốn Lăo Trang Giản Lược, Đạo Đức Kinh, Huỳnh Đ́nh Kinh, Tính Mệnh Khuê Chỉ, Tham Đồng Khế, Ngộ Chân Trực Chỉ, Tượng Ngôn Phá Nghi.

 

* Tranh Thẩm Chu (1427-1509)

 

Lời giới thiệu của HOÀNG VŨ (Bác sĩ Hoàng Văn Đức):

» Vào Đạo học - Triết học với Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

    Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ là một trong những người Việt Nam hiếm có của các thế hệ sau thập niên 1960. Ông không những uyên thâm về học thuật Tây phương mà c̣n nghiên cứu sâu sắc về minh triết Đông phương nữa. Ông đă dày công biên soạn và trước tác nhiều sách về triết học Đông phương mà độc giả có thể t́m thấy trong phần tiểu sử tác giả (và thư mục) in ở b́a sau cuốn sách nầy.

 

    Lúc thiếu thời ông đă từng theo Kitô giáo, say sưa với những câu kinh tiếng hát trong các Ca đoàn của nhà thờ. Nhưng với tinh thần khoa học và nhờ nghiên cứu các nền đạo học Đông phương mà ông đă bừng tỉnh để trở về với chính đạo, với bản lai diện mục của chính ḿnh.

 

    Tâm sự về sự thức tỉnh mầu nhiệm ấy đă được ông để lại cho đời qua hai bài viết đặc biệt chí t́nh chí lư về Kitô giáo, một tôn giáo mà ông đă từng ôm ấp ngưỡng vọng từ thuở ấu thời. Bài đầu tiên ông viết năm 1987 tại Nam California dưới tiêu đề “Ít nhiều Nhận định về Thiên Chúa Giáo” và đă được đăng trong tác phẩm “Tại sao không theo đạo Chúa”, do Mr. Rosa xuất bản tại bang Texas, Hoa kỳ vào năm 1997. Bài thứ nh́ cũng với cùng chủ đề nhưng triễn khai rộng hơn mà ông đặt tựa là “Ít nhiều nhận định về Kitô giáo, Giáo lư” được viết năm 2006 tại bang Oregon Hoa kỳ.

 

    Giao Điểm rất hân hạnh được Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ tin tưởng và tín nhiệm trao trách nhiệm xuất bản một trong những tác phẩm rất quư hiếm và tâm huyết của tác giả. Tại v́ ông không viết cho riêng ai, mà viết cho cả một dân tộc. Bây giờ cũng như ngày mai.

 

GIAO ĐIỂM

Hè 2007  

 

 

 

Phần IA

 

 

    Có thể nói được rằng trong ṿng 2000 niên vừa qua Cơ Đốc Giáo (Christianity) đă tung hoành trên thế giới. Chữ Cơ Đốc Giáo bao gồm, Công Giáo, Chính Thống giáo, Tin Lành giáo, v́ tất cả đều tin vào Thượng đế, như Tân Cựu Ước đă mô tả; và đều tin Chúa Giê Su là Thiên Chúa giáng trần cứu chuộc thiên hạ. Con số tín đồ đă lên cho đến hơn cả tỉ .

 

    Thoạt nh́n, thực là một lâu đài tráng lệ. Nhưng càng lặng ngắm, càng thấy nó đă bị rạn nứt, đă bị chônh chênh, v́ nền móng đă bị lung lay hư hỏng. Ngày nay, có thể nói được rằng dưới cái chiêu bài: Chân Lư tuyệt vời, ta có thể vạch ra được những sự ngụy tạo hết sức tinh vi.

 

    Tôi đă từng theo Thiên Chúa Giáo trong ṿng 20, 30 năm lúc thiếu thời, đă từng sống không biết bao nhiêu giờ phút dày ṿ v́ hai chữ “tội khiên”, say sưu v́ câu kinh, tiếng hát.

 

    Lúc bé, v́ chưa biết thế nào là ngoại giáo, nội giáo, chưa biết ǵ về vũ trụ và con người; chưa biết ǵ về xă hội, nhân sinh; chưa biết suy tư t́m hiểu, phán đoán; chưa đọc các thánh thư các đạo giáo khác cũng như chưa nghiên cứu các đạo giáo khác và các thánh hiền đă thành nhân chứng thánh đông tây, kim cổ; chưa chứng nghiệm được sự trưởng thành của óc chất, tâm linh, nên tôi cũng thấy nó cao siêu hấp dẫn.

 

    Năm 36 tuổi, nhân khảo về Khổng giáo, tôi đă được một sự giác ngộ nội tâm, nên đă bừng tỉnh giấc Nam Kha, và đă nh́n thấy rơ những sự sai trái, thấp kém của nó. Cho đến ngày nay, mỗi khi nghĩ lại sự ḿnh thoát khỏi được Thiên Chúa Giáo nói riêng và các tôn giáo công truyền thiên hạ nói chung, để đi vào “Chính đạo giải thoát nội tâm”, tôi cho đó là đại hồng ân của trời đất. Tôi viết bài này không dành cho quần chúng. Tôi viết cho những người đồng thanh, đồng khí muôn phương, tôi viết cho hậu thế. Chính v́ không có một hậu ư ǵ không tốt đẹp, mà chỉ cốt là khai phóng thực sự con người, vạch gai góc để t́m ra Đại Đạo và Chân Lư, nên tôi sẽ viết hết sức vô tư và b́nh thản.

 

    Tuy nhiên, tôi cũng sẽ không viết hết mọi suy tư, nhận định của tôi về Thiên Chúa Giáo (Công giáo, Chính Thống và Tin Lành).

 

     Tôi viết bài này, tùy ngọn bút đẩy đưa, tùy thần trí hướng dẫn, nên không muốn chia chương, chia mục.

 

    Một nhận xét sơ khởi của tôi là v́ mấy thứ đạo Thiên Chúa Giáo nói trên, tuy có thể có cùng một Thánh kinh (Tinh Lành chỉ có 39 quyển Cựu Ước, Công giáo có 47 quyển), cùng tin có Thượng Đế, cùng nhận Chúa Giê Su là giáo chủ, nhưng đi sâu vào các vấn đề tín lư, t́m hiểu cách thức các Giáo hội đó đối đăi với nhau, chúng ta mới thấy tất cả các đạo giáo trên đều là những đạo tương đối, nói là Trời lập ra, nhưng chính thực là người sáng tạo. Có điều Giáo Hội này cho là Chân, th́ Giáo hội kia cho là Giả. Giáo Hội nào cũng đề cao t́nh bác ái, nhưng lịch sử đă cho thấy những giáo hội anh em với nhau nói trên đă luôn luôn coi nhau là thù địch, đă từng bỏ nhau xuống hỏa ngục, đă từng xỉ vả, nguyền rủa lẫn nhau, thậm chí đă từng hưng binh tàn sát lẫn nhau, đă từng dùng những thủ đoạn hết sức ác độc để gieo tai họa cho giáo hữu của đối phương.

 

   Trong các tôn giáo nói trên, Công Giáo mạnh nhất, có tổ chức nhất, nên tôi sẽ dùng Công Giáo làm đối tượng chính của thiên khảo luận. Tôi làm công chuyện này không có ác ư ǵ riêng đối với Công Giáo, v́ đối tôi bất kỳ đạo giáo nào khi đă đi vào con đường Công truyền, cốt thu hút quần chúng, th́ cũng đầy dẫy những sai lầm, cũng đầy dẫy những thủ đoạn tàn độc. Chúng ta chỉ có thể mù, hay điếc mới không nh́n thấy, nghe thấy những điều đó.. Tôi chọn Công Giáo, v́ nó có nhiều tín đồ nhất và lâu đời nhất. Nó lâu đời chỉ thua có Do Thái Giáo, một tôn giáo mà Công giáo đặt trọng tâm hủy diệt trong ṿng 2000 năm nay, nhưng chung cuộc đă thất bại, như ta sẽ thấy sau này.

 

    Trước hết, đối với tôi, cái sai lầm lớn lao của con người Tây Phương trong ṿng mấy ngh́n năm nay là niềm tin vô tận vào quyển Thánh Kinh – Tân lẫn Cựu Ước – và cho rằng chính Thiên Chúa đă mất th́ giờ mà đọc cho các tác giả thánh kinh viết, cho nên nó phải đúng từng chữ, và tất cả những điều đă ghi chép trong đó là những dữ kiện lịch sử, là “chân lư”.

 

    Họ c̣n cho rằng chân lư chỉ được mặc khải cho càc tác giả Thánh Kinh – Tân, Cựu Ước – và đă chấm dứt sau các thánh Tông đồ. Cơ quan nắm giữ Chân Lư hiện nay là Giáo hội.

Con người b́nh thường không được quyền hiểu Kinh Thánh theo ư ḿnh, mà phải hoàn toàn lệ thuộc vào sự giải thích của Giáo Hội.

 

    V́ dựa vào Thánh Kinh, nên nhiều người cho đến ngày nay vẫn c̣n cho rằng trái đất, con người mới được tạo dựng cách đây khoảng 6.000 – 10.000 năm. Niềm tin này đă được mọi người Công giáo tin theo. Phía Tinh Lành th́ những người tin mạnh nhất là những người được mệnh danh là Bảo Thủ (Fundamentalists).

 

    Đọc lại Thánh Kinh, th́ tất cả những dữ kiện đưa ra trong các chương 1-2 Sáng Thế Kư, đều thuộc loại huyền kỳ, chứ không có chút ǵ là khoa học, lịch sử. Ta dẫn chứng bằng Sáng Thế Kư 1 và 2.

Theo Sáng Thế Kư 1, Chúa dựng nên trời đất trong 7 ngày theo thứ tự sau:

 

    - Ngày thứ nhất: Chúa dựng nên trời đất, và ánh sáng. Chia ánh sáng khỏi tối tăm. Gọi ánh sáng là ngày và tối tăm là đêm.

 

   - Ngày thứ hai: Dựng nên ṿm trời (firmament, vault) (Gen 1:6).[(The New Jerusalem Bible của Công Giáo dịch là Vault (ṿm), và chú rằng người dân Semites xưa coi cái ṿm trời có cứng chắc, có thể giữ nước ở phía trên, không cho rơi xuồng trần gian. Nó h́nh nữa ṿng cầu, hoặc như cai chảo úp, như ta thường trông thấy. Nó chắc chắn là phải hết sức cứng v́ có thể chứa được một lượng nước khổng lồ bên trên. Ṿm trời đó, theo Job, đă được đúc bằng “đồng thau” (Job 37:18). Ṿm đó có những cửa. Khi muốn có Hồng Thủy, những “cửa trời” đó sẽ được mở ra cho nước trên trời tuôn xuống (Gen 7:11). Mặt trăng, mặt trời và các v́ sao được gọi bằng một danh từ hết sức khiêm tốn là “đèn đóm” (xem Kinh Thánh – Nguyễn Thế Thuấn Gen 1:17)-đều nương vào ṿm trời đó (Gen 1:17), y như những ngọn đèn treo trên trần nhà. Những ngọn đèn đó dĩ nhiên là nhỏ xíu, v́ lúc thế mạt – mà cách đây 2000 năm – Chúa Giê Su đă chủ trương là: “sắp tới đây”, tinh tú sẽ rụng xuống trần gian nhiều như những quả vả bị dập vùi trong một trận cuồng phong (Rev 6:13). Cung đ́nh Chúa và ṭa ngôi Ngài đặt trên ṿm trời đó (Psalm 11:4), v́ Sáng Thế Kư đă định nghĩa cái ṿm đó là “trời” (Gen 1:8).

 

    Chúa Giê Su cũng xác quyết Chúa Cha ở trên đó, Ngài dạy Cầu xin: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (Mat 6:9). Thánh Joan dạy rằng lúc thế mạt ṿm trời đó sẽ bị cuộn lại, cuốn đi như một trang sách (Rev 6:14). Chúng ta cũng nên nhớ rằng ṿm trời đó có nhiều cột chống đỡ (Job 27:11); và trái đất cũng có nhiều cột chống đỡ (Job 9:6). Đất đă được Chúa đặt vững trên mặt nước (Psalm 136:6). Đất muôn đời đứng yên một chỗ (Terra in aeternum stabat, Vulgate, Eccl. 1:14)]

 

    - Ngày thứ ba: Phân đất ra khỏi nước. Dựng nên cây cối .

 

    - Ngày thứ tư: Dựng nên hai ngọn đèn lớn nhỏ và các v́ sao, đặt vào ṿm trời, để soi cho trái đất, và để tiện cho việc làm lịch, xem ngày.

 

    - Ngày thứ năm: Dựng nên các loài dưới nước và trên không.

 

    - Ngày thứ sáu: Dựng nên các loài sống trên cạn, dựng nên ông A Dong, bà E Và.

 

    - Ngày thứ bảy nghỉ.

 

    Trong chương nhất này tên của Chúa là ELOHIM. Đến chương hai, Chúa đổi tên là YAHWEH, và tả lại cung cách tạo dựng nên trời đất và muôn loài một cách hoàn toàn khác biệt như sau.

 

    Đại khái rằng: Thoạt kỳ thủy khi Chúa dựng nên trời đất, th́ trái đất c̣n hoang vu, Chúa bèn lấy bụi đất mà dựng nên ông A Đam rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi ông cho ông thành người sống động. Sau đó dựng nên một cái vườn cho ông ở, và lúc ấy mới dựng nên cây cối. Sau đó, muốn cho ông có một người bạn xứng đáng nên đă dựng nên các loài vật, và các chim trời, và đem chúng lại cho ông đặt tên. A Đam chê chẳng t́m được bạn nào thích hợp, Chúa bè cho ông ngủ đi và lấy một khúc sườn của ông để tạo dựng nên bà E Và.

 

    Ta nhận thấy trong chương hai này không có nói dựng nên mặt trời, mặt trăng ǵ cả, mà lấy con người làm trọng tâm. Trong chương này, Chúa dựng nên con người trước rồi mới dựng nên cây cối và vạn vật sau.

 

    Sang hai chương trên, ta đă thấy một sự mâu thuẫn quá lớn lao. Không có lư nào, mà Ngũ Kinh do Chúa đọc cho một tác giả duy nhất là Moses chép, khi mô tả cùng một công chuyện tạo dựng, lại có thể khác nhau đến như vậy.

 

    Ngày nay các học giả đă chứng minh được rằng: Ngũ Kinh (Genesis, Exodus, Numbers, Deuteronomy, Leviticus) là do nhiều môn phái, nhiều người sống trong nhiều thế kỷ khác nhau viết. Những môn phái đó là:

 

    - Phái Yahwistic ( viết tắt là J-J là đầu chữ Jehovah), v́ gọi Chúa là Yaweh hay Jehovah, viết vào khoảng thế kỷ IX trước kỷ nguyên.

 

    - Phái Elohistic (viết tắt là E) v́ gọi Chúa là Elohim, viết ít lâu sau trường phái trên.

 

    - Phái Deuteronomic (viết tắt là D) viết vào khoảng 622 đời Josiah.

 

    - Phái Priestly (viết tắt là P) viết sau khi dân Do Thái đi lưu đày, tức là sau 500.

 

    Như vậy, Moses sống vào khoảng 1250, người mà ta vẫn được dạy dỗ là tác giả Ngũ Kinh – ngay Chúa Giê Su cũng tin vậy (John 5:46 – Luke 24:27 – Luke 16:31) – thực ra lại không phải là tác giả, mà tác giả lại là vô số người viết, cách nhau nhiều thế kỷ (bộ Ngũ Kinh như vậy đă được viết ra trong ṿng 400 năm).

 

    Chương 1 Genesis đă được viết bởi môn phái Priestly (P), c̣n chương 2 đă được viết bởi môn phái Yahwistic. Cứ so sánh hai chương trên với sự mô tả khác biệt nhau như nước với lửa, ta đă có thể kết luận chắc chắn rằng đó không phải là Chúa phán, hay Chúa viết, Chúa soi, mà là người phàm viết như trăm ngh́n huyền thoại khác.

 

    Công Giáo như đă ghi rơ rằng trong quyển Martyrologe Romain, cho rằng trời đất đă được tạo dựng vào năm 5199. Tin Lành, theo Tổng Giám mục Ussher, đă cho rằng trời đất đă được tạo dựng nên lúc 9 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 4004. Các học giả Do Thái đoán rằng trời đất đă được tạo dựng nên ngày 7 tháng 10 năm 3761.

 

    Các người theo phái Fundamentalists cho rằng tất cả đă được tạo dựng nên khoảng từ 6.000 đến 10.000 năm nay. Cũng có người cho rằng sự tạo dựng đă xảy ra vào năm 5509 (1).

 

    Theo khoa học ngày nay, sự diễn biến đă xảy ra như sau.

 

    Thoạt kỳ thủy, có một “cái trứng vũ trụ” (cosmic egg) vô cùng nóng hổi. Cách đây khoảng 15 tỉ năm, đột nhiên nổ tung (big bang theory) sinh ra các giải Ngân Hà và tỉ tỉ tinh tú.

 

    - Cách đây khoảng 5 tỉ năm, thái dương hệ ra đời.

   

    - Cách đây khoảng hơn 600 triệu năm, các sinh vật li ti dưới biển bắt đầu xuất hiện.

 

    - Cách đây 450 triệu năm, có cỏ cây.

 

    - Cách đây khoảng 405 triệu năm, bắt đầu có sinh vật.

 

    - Các loài phi trùng có cách đây khoảng 400 triệu năm.

 

    -  Thủy tổ loài người – các loại nhân hầu – xuất hiện cách đây khoảng 40 triệu năm.

 

    - Vật có nhân dạng (hominids) xuất hiện cách đây khoảng 20 triệu năm.

 

    - Homo sapiens xuất hiện cách đây 150.000 năm.

 

    - Con người “Modern man” có khoảng cách đây 50.000 năm.

 

    Sánh các đoạn Thánh Kinh với nhau, sánh Thánh Kinh với các khám phá khoa học ta thấy hai chương 1 và 2 Sáng Thế Kư hoàn toàn mâu thuẫn nhau:

 

    - Cái ṿm trời, cái “trời” bằng đồng thau mà Chúa đă vất vả dùng cả ngày thứ hai xây dựng nên với những cửa có thể mở đóng tùy nghi, đă được chứng minh là hoàn toàn không có. Đó chỉ là một ảo giác của chúng ta mà thôi!

 

   - Trái đất không thể nào có trước các v́ tinh tú và mặt trời, mặt trăng.

 

    - Cây cối không thể có trước tinh tú và mặt trời, mặt trăng.

 

    - Adam, Eva không phải là thủy tổ của loài người, v́ con người đại khái đă xuất hiện cách đây tối đa khoảng nhiều triệu năm; tối thiểu cách đây khoảng 150.000, chứ không phải là mới cách đây 6004 năm!

Nếu vậy một là chúng ta phải chấp nhận những chương sách nói trên không phải là Lời Chúa mà là Lời Phàm. Hai là nếu đúng là lời Chúa, th́ lời Chúa hoàn toàn sai lạc, nghịch lại với thực tế.

 

    Nếu nhận rằng các chương trên là “Lời phàm”, th́ lấy ǵ bảo đảm các chươmg sau là “Lời Chúa”? Nếu Adam và Eva không phải là thủy tổ loài người th́ làm ǵ có tội tổ tông? Nếu không có tội tổ tông, th́ làm ǵ có chuyện Chúa giáng trần cứu chuộc?

 

    Nếu vậy, đạo Thiên Chúa Giáo, hoàn toàn đă được xây dựng trên những ảo tưởng. Nếu không có chuyện Chúa giáng trần, th́ dĩ nhiên Chúa Giê Su không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là một con người đă giác ngộ, đă sống phối hợp được với Thượng đế ngay từ ở gian trần này, như trăm ngàn thánh hiền xưa nay đă làm được như vậy.

 

    Chúa tuyên bố đă nghỉ không c̣n tạo dựng nên cái ǵ mới nữa, thế mà thiên văn học luôn luôn cáo tri có những v́ sao mới xuất sinh trên ṿm trời, kể cũng kỳ lạ thật.

 

    Ở Mỹ này, nhiều người theo Thiên Chúa Giáo cũng đă nh́n thấy cái nguy cơ. Họ cho rằng Darwin với thuyết Tiến Hóa đă làm giảm thiểu quang huy của Chúa trong sự tạo dựng, đă muốn “hạ bệ Thiên Chúa”, và đă hàm ngụ rằng trong ṿng 2000 năm nay, những người theo Thiên Chúa giáo đă bị lừa bịp bởi một lời nói láo vĩ đại(2).

 

    Những người triệt để theo truyền thống cũ (Fundamentalists) thuộc giáo phái Tin Lành, trong nhiều tiểu bang đă đứng ra bài xích khoa học và thuyết Tiến Hóa trong các trường trung tiểu học công cộng. Họ biết rằng nước Mỹ cấm không cho dạy đạo giáo trong các trường nên từ năm 1960 trở đi, họ kêu gọi những học giả, những khoa bảng thành lập những hội nghiên cứu Thuyết Tạo Dựng theo khoa học.

Những hội mệnh danh là Tạo Dựng Khoa Học đó có thể liệt kê như sau:

 

    - The American Scientific Affiliation (ASA), thành lập năm 1941, gồm 3000 hội viên.

 

    - The Creation Research Society (CSR), thành lập năm 1963, ở Ann Arbor Michigan. Có khoảng 500 hoạt động hội viên. Điều kiện nhập hội tối thiểu phải có Cao Học về một bộ môn khoa học nào đó, và phải tin rằng Kinh Thánh hoàn toàn đúng, không hề sai lầm; chuyện Chúa tạo dựng nên muôn loài là có thực như Kinh Thánh đă chép; Hồng Thủy toàn cầu là chuyện có thực(3).

 

    - The Creation Science Research Center (CSRC), có địa chỉ liên lạc với khoảng 210.000 người. Trong năm 1970, thường tổ chức những cuộc du ngoạn viếng thăm núi Ararat, để đi t́m lại chiếc tàu Noe. Giá tiền là $1.397 đi từ Nữu Ước.

 

    - The Institute for Creation Research (ICR) thành lập năm 1970, có đại bản doanh ở San Diego. Hội này hoạt động rất hăng say. Đă xuất bản 55 cuốn sách; đă có một Nguyệt san là Acts and Facts gửi cho 60.000 độc giả. Họ cũng đă tổ chức nhiều chuyến thám hiểm núi Ararat vào những năm 1972, 73, 74, 75, nhưng hoặc thất bại, hoặc bị chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ ngăn chận. Họ cho rằng đă có đủ bằng chứng để biết tàu Noe có dung tích 567 toa xe lửa và có thể chứa khoảng 50.000 con vật.

 

    - The Genesis Shool of Graduate Studies ở Gainville, Florida.

 

    - The Bible Science Association.

 

    - Scientific Creationism Association of Southern New Jersey.

 

    - The creation Research Science Education Foundation Inc. ở Ohio.

 

    - The Triangle Association for Scientific Creationism in the Research Triangel ở gần Raleigh, North Carolina.

 

    - The Missouri Association for Creation.

 

    - The Evolution Protest Movement (EPM), 1932, ở Anh.

 

    - The Newton Scientific Organisation, 1973, ở Anh v.v..(4)

 

    Tuy thất bại liên tiếp, nhưng trong ṿng mấy chục năm nay họ cố vận động đem thuyết Tạo Dựng Khoa học vào giảng dạy trong các trường song song với thuyết Tiến Hóa. Cho đến bây giờ họ tuy c̣n thất bại, nhưng họ thường xuyên vẫn dùng thế lực để kiểm soát các sách giáo khoa, không cho dạy Thuyết Tiến Hóa một cách lộ liễu.

 

    Chính v́ vậy mới có vụ án John Thomas Scopes năm 1925 – mà ta vẫn thường gọi là “vụ án con khỉ” – Ṭa đă tuyên án phạt Scopes $100.000 v́ đă vi phạm luật tiểu bang Tennessee cấm giảng Thuyết Tiến Hóa trong học đường.

 

    Từ 1921 đến 1929 họ cũng đă vận động được 37 tiểu bang ban hành những luật chống dạy thuyết Tiến Hóa. Ví dụ luật Mississipi (1926), Arkansas (1928), Texas (1929). Tuy nhiên Ṭa Án Liên Bang bao giờ cũng chủ trương Nhà Nước tách rời khỏi Giáo hội, v́ thế không cho giảng dạy tôn giáo trong càc trường và đă phán quyết các luật tiểu bang cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường trung tiểu học toàn quốc Mỹ là vi hiến.

 

    Về phía Khoa học, tức là về phía những người có trách nhiệm soạn thảo chương tŕnh giảng huấn, ta có những cơ quan sau:

 

    - National Science Foundation (NSF).

 

    - Biological Sciences Study (BSCS).

 

    - Man: A Course of Study (MACOS).

 

    - Education Development Center (EDC).

 

    - The Amercian Institute of Biological Sciences (AIBS).

 

    - National Association of Biological Teachers (NABT).

 

    - Biological Sciences Curriculum Study (BSCS).

 

    Ngoài ra c̣n có cơ quan American Civil Liberty Union, bảo vệ người dân Hoa Kỳ.

 

    Các chương tŕnh, các sách giáo khoa được soạn thảo theo tinh thần khoa học, và đều dựa trên thuyết Tiến Hóa. Đôi bên thường xuyên chống đối lẫn nhau, kiện cáo lẫn nhau. Phe Tiến Hóa nhân danh Khoa Học. Phe Tạo Dựng cũng đội lốt Khoa Học, cũng nhân danh Khoa Học như ai.

 

    Tháng 12, 1981, cơ quan American Civil Liberty Union kiện lên ṭa Liên Bang xin hủy luật 590 của Arkansas đă cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường. Ṭa Án Liên Bang tuyên bố điều khoản 590 là vi hiến.

 

    Tháng 8, 1972, William Willoughby (phái thủ cựu) kiện National Science Foundation, bắt cơ quan này cũng phải viện trợ cho chương tŕnh Tạo Dựng, cũng y như đă viện trợ cho chương tŕnh xuất bản sách của Biological Science Study (BSCS). Ṭa án Liên Bang Washington miễn tố, v́ lẽ các sách của BSCS là sách “phần đời”. Phe Fundamentalists kháng cáo, cũng thua luôn.

 

    Năm 1978, Liên Đoàn các Giáo chức giảng dạy Sinh Lư Học (NABT) kiện tiểu bang Tennessee về đạo luật cho phép dạy thuyết Tạo Dựng trong các trường. Năm 1980, ṭa Liên Bang xử luật đó là vi hiến.

 

    Phái Tạo Dựng lại kiện Hội Đồng Giáo Dục California v́ đă vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của con cái họ. Họ dắt con, dắt cái họ ra ṭa, để trẻ khai là đă được giảng dạy rằng chúng là ḍng dơi khỉ. Phía hội đồng giáo dục đă mời được những nhà khoa học thượng thặng ra để bênh vực và để biện minh cho thuyết Tiến Hóa. Quan ṭa lúc ấy là ông Irving Pertluss khuyến cáo Hội Đồng Giáo Dục không nên quá cứng rắn giáo điều, và nên tế nhị khi tŕnh bày về nguồn gốc con người trong các sách giáo khoa. Phe Tạo Dựng coi đó là một thắng lợi của họ(5).

 

    Mới hay, cho đến ngày nay, sự tranh chấp giữa khoa học và tôn giáo c̣n rất gay cấn. Chính quyền Liên Bang th́ luôn chủ trương tôn giáo tách rời chính trị, tách rời học đường, và sẽ không bao giờ cho phép giảng dạy những ǵ xa gần có liên quan đến vấn đề tôn giáo trong các học đường.

 

   Cho đến bây giờ, tôi cũng không thể hiểu nổi được tại sao những người mang tiếng là có những bằng sắc khoa học cao như vậy, cho đến nay vẫn tin là có chuyện Hồng Thủy toàn cầu. Một người b́nh thường nào đó cũng sẽ nhận ra rằng đó chỉ là một vụ lụt lớn trong vùng Sumeria (thuộc Tiểu Á mà thôi).

 

    The New Jerusalem Bible của Công giáo bản tiếng Anh hay tiếng Pháp trong chú C của Chương 7 Genesis cũng đă thẳng thắng chú thích rằng: đó là một chuyện lụt dựa trên kư ức về một hay nhiều trận lụt tai hại do hai sông Tigris và Euphrates tạo ra, và sau đó truyền thuyết dân gian đă phóng đại thành một trận lụt có tầm kích thế giới(6).

 

    Lụt cả xảy ra vào khoảng 2348 trước kỷ nguyên, 5 năm sau khi vua Nghiêu lên ngôi. Chuyện Lụt Cả kể trong Sáng Thế Kư, tối thiểu, đă được hai tác giả viết ra mà ngày nay gọi là tài liệu J và P, rồi sau đem gọp lại thành một chuyện.

 

    Theo P, Chúa truyền ông Noe, đem súc vật vào trong tầu mỗi thứ một đôi. Theo J, Chú lại dạy ông Noe phân loài vật thành loài sạch và loài dơ (như heo, thỏ, đà điểu, các loại cú vọ v..v..xem Leviticus 11:1-46). Khi ấy chưa có Leviticus, chắc Chúa lại phải mất th́ giờ dạy Noe phân biệt thế nào là loài dơ, loài sạch. Sạch th́ đem vào trong tầu mỗi thứ 7 cặp. Dơ th́ đem vào mỗi thứ hai cặp (Gen 7:2).

 

    J cho rằng mưa 40 đêm ngày, và lụt 40 đêm ngày (Gen 7:10-11). P cho rằng lụt khi Noe 60 tuổi, ngày 17 tháng 2 (Gen 7:10-11), và lụt 150 ngày (Gen 8:3).

 

    Con tầu Noe kích thước như sau: dài 450 feet (15 yards hay 135 mét), ngang 75 feet (25 yards hay 22.5 mét), cao 45 feet (15 yards hay 13.5 mét). Tầu có ba tầng (Gen 6:16). Con tầu may ra có một cửa sổ nhỏ, hoặc là kín mít (Gen 6:16).

 

    Lúc Lụt cả, theo Do Thái, thiên hạ hăy c̣n vẻn vẹn ở trong vùng các sông Tigris và Euphrates, Tiểu Á. Dĩ nhiên là tác giả Thánh Kinh không hề nghĩ rằng c̣n có Bắc Âu, Ấn Độ, Tân Cương, Trung Hoa, Nhật Bản, Úc Châu, Mỹ Châu, Bắc Cực, Nam Cực. Đây là thiên hạ khoảng năm 611-547 trước Kỷ Nguyên, tức là khoảng 2000 năm sau Hồng Thủy do Anaximander vẽ, và đă được đăng tải trong quyển The Philosophy of Greece của Robert S. Brumbauch, tr. 22 (thời Hồng Thủy chắc thiên hạ c̣n nhỏ hơn vậy nhiều).

 

    Ngày nay, nhờ Khoa học chúng ta biết được có khoảng từ 2 đến 4 triệu sinh linh, từ côn trùng, đến chim muông, cầm thú. Côn trùng chiếm 4/5 của tổng số (7).

 

    Nếu chỉ là một vụ lụt trong vùng, mà Noe được Chúa báo cho biết trước để chuẩn bị tầu, cùng vợ con được thoát nạn, với ít nhiều ḅ, lừa, dê, cừu, mèo, chó của ông, th́ là, một chuyện hết sức hợp lư. C̣n nếu Chúa ra lệnh cho Noe trong một thời gian rất ngắn vừa đóng tầu, vừa đi bắt 5.000.000 x 2 (1 đực, 1 cái) phi cầm, tẩu thú, côn trùng ở khắp nơi, lại vừa phải phân biệt đực cái; đi không biết là bao nhiêu nước, không biết bao nhiêu dặm đường, trải qua gấp trăm ngàn lần những gian khổ của Đường Tam Tạng; dỗ dành, đánh bẫy được hùm beo sư tử, đem được trăm ngàn loại rắn rết, mối kiến theo ḿnh về tàu, th́ là một đại họa cho Noe và gia đ́nh v́ chắc chắn sẽ bỏ ḿnh đang khi thi hành sứ mạng gian lao.

 

    Thực ra, nếu muốn làm được công chuyện vĩ đại như vậy, th́ dẫu Noe và ba người con ông có tài năng, có thiện chí mấy, và có mất mấy ngh́n năm cũng không thể nào làm nổi được. Rồi làm sao mà dỗ cho kiến, cho các cặp uyên ương ruồi nhặng, ếch nhái, cho sên, cho rùa, cho rắn, cho hùm beo, sư tử, cho ngan, cho ngỗng, cho le le, cho phượng, cho mối, cho mọt, ấy là chưa kể đến các loại cào cào, châu chấu, bươm bướm, chuồn chuồn, đến các loại vi trùng vi khuẩn lớn nhỏ, theo nhau xuống một cái tàu nhỏ xíu, tối tăm; rồi ở trong đó được ăn uống hẳn hoi, sống một cuộc sống ḥa b́nh trật tự với nhau trong ṿng 150 ngày, mà không có con nào chết đi, th́ quả thật là những phép lạ, lớn hơn cả sự tạo dựng nên trời đất nữa.

 

    Xong rồi, khi thả các loài ra, con nào lại về cư ngụ nơi đất đai con ấy. Con th́ sang Phi, con th́ sang Ấn, con th́ sang Úc. Mỗi khi tôi thấy chỉ có Úc mới có Kangourou, tôi tự hỏi sao giống này lại tài t́nh như vậy, v́ đă làm một cuộc viễn du, vượt trùng dương, sang Úc.

 

    Trong Sáng Thế Kư có một câu: “..Và nước đă dâng lên rất cao trên mặt đất, và những đồi cao trong thiên hạ đều bị ngập. Nước đă dâng cao 15 xích (22 feet = 7.1 yards = 6.3 mét) và núi non đă bị che phủ..”.

 

    Nếu hiểu rằng nước chỉ dâng cao có 15 xích, th́ dĩ nhiên chẳng che phủ được đồi núi. Nếu hiểu rằng nước dâng cao hơn các đồi núi trong thiên hạ là 15 xích, th́ chắc có Chúa chỉ bấy giờ mới đo được, và nếu quả đúng như vậy, th́ phải có một số lượng nước lớn hơn số lượng nước hiện tại trong hoàn cầu là ba lần rưỡi. Chúng ta biết Everest cao là 29.028 feet. Như vậy mực nước sẽ là 29.050 feet. Lượng nước lớn như vậy ở đâu ra, và rút đi đâu? Hơn nữa, các cây cối, rau cỏ nếu bị d́m sâu trong nước trong ṿng 150 ngày, đều chết hết, là v́ chúng cũng hút thở dưỡng khí, thán khí như loài người. Nếu ngày nay, c̣n có thảo mộc cỏ cây, th́ đó là bằng chứng đă không có lũ lụt hoàn cầu.

 

    Đọc lịch sử Ai Cập, lịch sử Trung Hoa, lịch sử Ấn Độ, ta thấy tất cả đều liên tục. Thời vua Nghiêu (2357-2256), đă có thiên hạ làm bầy tôi, chắc cũng khoảng vài triệu người. Lụt cả xảy ra năm 2348 bên Tiểu Á chẳn làm cho vua Nghiêu và bầy tôi hề hấn ǵ cả. Các linh mục Âu Châu khi sang giảng đạo bên Trung Hoa rất khổ tâm v́ câu chuyện này, và v́ muốn bảo vệ Thánh kinh, bảo vệ chuyện Hồng Thủy toàn cầu, đă định viết lại lịch sử Trung Hoa với chủ đề rằng thời Nghiêu, Thuấn là những thời Huyền sử, hoang đường…

 

    Dẫu sao th́ đối với tôi, đó chỉ là một trận lụt lớn trong vùng Mesopotamia mà thôi. Tất cả đă được phóng đại lên. Như trên đă chứng minh, các nhà b́nh giải Kinh Thánh Công giáo cũng đă công khai chấp nhận quan niệm đó. Đọc câu chuyện lụt cả, tôi càng thấy Sáng Thế Kư gồm toàn là những chuyện thần thoại, từ con rắn biết nói, đến “Cây biết lành, biết dữ”, “Cây hằng sống”, chuyện Noe đi bắt chim, bắt cọp, bắt sên, bắt kiến, nghĩa là bắt 10.000.000 sinh linh (5 triệu x 2, v́ có đực có cái) đem về.

 

    Về phương diện Thiên Chúa, có lẽ nào Ngài đă hối hận v́ đă chót dựng nên loài người (Gen 6:6), để đến nỗi phải hạ quyết tâm tiêu diệt tất cả. Và nếu Chúa quả t́nh v́ một cơn giận dữ, mà hủy diệt thiên hạ – từ con người đến muôn triệu sinh linh – th́ Ngài hết sức ác độc, hết sức dă man, hết sức bốc đồng, hết sức nhẹ dạ, đến nỗi làm công việc đó rồi lại hối hận, phàn nàn, và lại hứa hẹn sẽ không bao giờ hủy diệt quần sinh nữa. Đọc lời Ngài long trọng hứa với Noe và quần sinh:

 

    Bao lâu trái đất c̣n đây,

    Mùa màng, cấy gặt chẳng thay chẳng rời.

    Hè qua, đông lại tới nơi,

    Ngày đêm, tiếp tục, chẳng ngơi, chẳng ngừng (Gen 8:22).

 

    Đọc xong lời hứa long trọng này, tôi nghĩ ngay những lời đe dọa sắp tận thế trong Tân Ước, từ của Chúa Giê Su đến các thánh tông đồ, như Matthew, như Peter, như Paul, như John (Mat. 24:26-32; Marc 13:24-32; Luke 20:25-32; I Peter 3:7; I Thessalonians 4:15; Rev. 22:10-13), tôi thấy ḷng bùi ngùi, v́ chẳng lẻ Thiên Chúa lại luôn luôn tiền hậu bất nhất như thế hay sao. Và chính v́ tin rằng Thượng Đế toàn năng, toàn thiện, nên tôi mới dám đoan quyết rằng trong Kinh Thánh cả cũ lẫn mới, có rất nhiều điều chẳng do Chúa soi sáng, mà là của người phàm viết bậy bạ vào mà thôi. Đúng là “Tận tín thư bất như vô thư”.

 

    Tóm lại, tôi đă dựa vào những dữ kiện hết sức vô tư, để kết luận rằng Sáng Thế Kư chẳng qua là một bộ huyền sử, và lịch sử của dân tộc Do Thái mà thôi. Giá trị của nó cũng như chuyện Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ.

 

    Tôi đi đến kết luận đó nhờ câu chuyện Ṿm Trời, nhờ chuyện Hồng Thủy, và nhờ những Mâu Thuẫn Nội Tại giữa các mẫu chuyện khác nhau và về Hồng Thủy, nhờ sự so sánh các niên kỷ của Sáng Thế Kư về Sáng Tạo và của Khoa Học. Càng ngày tôi càng không tin Cựu Ước là do Chúa soi sáng để viết ra, v́ nếu quả thật như vậy, th́ những điều Ngài mô tả về chính Ngài hết sức là lẫn thẩn, kỳ quặc, hết sức tàn ác. Ngài rát mô hồ về Thiên văn. Ngài là Chúa của một bộ lạc, một dân tộc nhỏ, đă v́ Israel mà gieo tai giáng họa cho Ai Cập; mà tàn sát các dân trong vùng đất Canaan, khi Do Thái được lệnh vào chiếm đoạt vùng này. Ngài là Chúa có h́nh dáng một con người, có lưng, mặt, tay chân như người, có lúc đă từng xuống vật nhau với Jacob và điểm huyệt Jacob (Gen 32:3-33). Ngài cũng phàn nàn hối hận, cũng ghen tuông, giận dữ như con người, cũng để cho dân riêng ḿnh bị vua Babylon bắt đi đày, đền thờ ḿnh bị phá hủy, rồi đạo ḿnh lập ra cũng bị chính những người theo đạo con ḿnh phỉ báng và coi là tà đạo… Không có lư nào khi Chúa đă dựng nên vũ trụ này từ 15 tỉ năm nay, mà Ngài lại có thể nói lầm là mới dựng nên cách đây có hơn 6.000 năm.

 

   Sự mặc khải đối với tôi, được thường xuyên liên tục diễn ra, như là một hồng ân cho tất cả những người có ḷng tha thiết t́m cầu. Và CHÂN LƯ là của chung nhân loại chứ không có ai có quyền sở hữu riêng tư, độc sản về chân lư.

 

    Sở dĩ các người sáng lập đạo Công Giáo đă đoan quyết rằng Cựu Ước là hoàn toàn đúng, v́ họ cần dúng Cựu Ước để chứng minh rằng Chúa Giê Su chính là đấng Cứu Thế đă được các tiên tri trong Cựu Ước tiên tri từng li từng tí. Trong khi viện dẫn các lời Cựu Ước thấy câu nào không hợp với Chúa Giê Su th́ thông qua, thấy câu nào có thể dùng được th́ lấy ra, th́ cắt xén đi hoặc dịch lại cho phù hợp. Thực là cả một công tŕnh tinh vi, tuyệt diệu. Một người đă làm được chuyện ấy là thánh Matthew. Phúc Âm Matthew chuyên môn dùng Kinh Thánh cũ để áp dụng vào Chúa Giê Su, để huyền thoại hóa Chúa Giê Su. Khi muốn dùng Thánh Kinh cũ để chứng minh Chúa Giê Su là đấng Cứu Thế đă được tiên tri từ ngàn xưa, tuyệt đối sẽ lượt bỏ qua những câu lớn lao như:

 

    “Này đây lời Yahvê, vua Isreal, đấng Cứu Chuộc Isreal, Yahvê các đạo binh. Ta là đầu, là cuối. Ngoài ta ra không có Chúa nào khác. Ai là người giống Ta, hăy đứng lên, nói xem..” (Isaiah, 43:6-7).

 

    “Chính ta, Yahvê, đă làm nên tất cả. Ta một ḿnh đă căng trời, bện đất. Nào có ai giúp Ta?” (Isaiah, 44:24).

 

    “Và các ngươi hiểu rằng chính là Ta. Trước Ta không có Chúa nào, và sau Ta, cũng không có Chúa nào. Chính Ta là Yahvê, không có Đấng Cứu Rỗi nào ngoài Ta. Không ai có thể cứu khỏi tay Ta. Ta làm, th́ không có ai có thể kháng cáo.” (Isaiah 43:11-13).

 

    “Ta là Yahvê, chẳng có ai bằng; ngoài Ta ra, không có Chúa nào khác.” (Isaiah 45:5).

 

    “Chính Ta là Yahvê, ngoài Ta ra, không có Chúa nào khác.” (Isaiah 45:21).

 

    “Hăy quay về với Ta, từ mút cùng mặt đất, v́ Ta là đấng chẳng ai bằng.” (Isaiah 45:22).

 

    Chắc chắn những câu đó chủ trương Yahvê độc tôn vô đối, duy nhất bất nhị, không bao giờ có Ba Ngôi. Thảo nào mà dân Do Thái, không thể nào tin Chuá Giê Su là Thiên Chúa giáng trần, là Ngôi Hai Thiên Chúa được. Đối với họ, Chúa Yahvê là chí tôn, vô đối. Không làm ǵ có thứ tội mà bị phạt cả đến trăm ngh́n đời, v́ Chúa chỉ phạt tối đa là ba đời (Deuteronomy 5:9); sau Ngài lại đổi ư, chỉ phạt một đời, ai làm tội, người ấy chịu mà thôi (Ezechiel 18:3-4).

 

    Đấng Cứu Thế mà dân Do Thái chờ mong, sẽ làm vua dân Do Thái, và sẽ có nhiệm vụ đem vinh quang lại cho dân Do Thái, chứ không như Chúa Giê Su đă đem thống khổ, xỉ nhục lại cho dân Do Thái từ mấy ngh́n năm nay. Họ nói không phải là không có lư.

 

    Khi Matthew muốn chứng minh là Chúa Giê Su đă được sinh ra do Đức Mẹ đồng trinh, ông đă viết như sau:

 

    “… Bà sẽ sinh ra một người con và sẽ đặt tên là Giêsu: v́ chính người sẽ cứu dân người cho khỏi tội khiên; mà tất cả để thực hiện lời tiên tri của Chúa: “Này đây có một người nữ đồng trinh sẽ mang thai và sẽ sinh con, đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta” (Mat. 1:21-23).

 

    Dở Isaiah ta thấy câu chuyện như sau:

 

    “Lúc ấy vua Achaz đang bị hai vua Syria và Ireal uy hiếp. Chúa mới dùng tiên tri Isaiah đến trấn an vua Achaz, rằng hai vua kia sắp sửa bị tiêu diệt rồi, chỉ trong ṿng ít năm nữa mà thôi. Isaiah nói như sau: “Ví thử có một người nữ, mà bây giờ có mang, và sẽ sinh ra một người con. Con trẻ này sẽ được đặt tên là Emmanuel. Nó sẽ ăn sữa và ăn mật ong. Đến khi nó phân biệt lành dữ, th́ đất đai của hai vua mà Ngài sợ sẽ hoang, quạnh quẽ…” (Isaiah 7:14-17).

 

    Isaiah vâng lệnh Thiên Chúa đến nói với Achaz câu chuyện đó có một mục đích hẳn hoi, có một ư nghĩa hết sức rơ ràng. Chắc Isaiah cũng không thể ngờ được rằng câu nói của ḿnh lại có thể biến hóa được đến như vậy. Và có thể Chúa Yahvê cũng không ngờ được là sẽ có chuyện kỳ dị như vậy.

 

    Nguyên bản là NGƯỜI NỮ. Thánh Jerome dịch thành NGƯỜI NỮ ĐỒNG TRINH (Virgo), là v́ Matthew đă chót hiểu như vậy. Ngày nay, ai cũng cho rằng thánh Jerome đă dịch sai, và các bản Kinh Thánh mới dịch lại là “người nử”. Tôi không nghĩ rằng đă dịch sai, mà chính là cố ư ngụy tạo nguyên bản.

Ví dụ Kinh Thánh cũ có câu: “Khi Israel c̣n nhỏ, ta yêu thương nó, và ta gọi con ta từ Ai Cập trở về, nhưng ta càng gọi chúng càng xa ta, và chúng đă tế lễ thần Baal (Osea 11:12).

 

    Câu này dĩ nhiên là Chúa nhớ lại chuyện đă đem dân Israel từ Ai Cập trở về. Matthew chỉ cần lấy ra câu “Ta gọi con ta từ Ai Cập trở về”, và nhân đó bày ra chuyện Chúa đă trốn sang Ai Cập mấy năm, sau đó trở về (Mat. 2:15), một chuyện mà theo Luke, chắc chắn không thể nào có (Luke 2:30).

 

    Thật ra, tôi phục nhất là Matthew đă biết dùng Kinh Thánh cũ để chứng minh rằng nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đă được tiên tri, tiên đoán trong Cựu Ước.

 

    Trong Mat. 2:23, Matthew cho rằng người ta gọi Chúa Giêsu là dân Nazareth, để làm trọn các lời tiên tri xưa. Tôi cho các nhà b́nh giải kinh thánh đă cố đi t́m xem câu tiên tri đó ở sách nào trong Cựu Ước, nhưng cho đến bây giờ cũng không t́m ra ... Chuyện đó có sao đâu!

 

    Tôi cũng rất bái phục Giáo Hội Công Giáo, đă biết dùng Cựu Ước để củng cố đạo Công Giáo. Giáo Hội Công Giáo đă long trọng tuyên bố rằng Cựu Ước chẳng qua cốt là để dọn đường cho sự quang lâm của Chúa Kitô. Hiến chế lời Thiên Chúa, số 15 viết:

 

    “Nhiệm vụ Cựu Ước có được ấy cốt là để dọn đàng cho cuộc quan lâm của Chúa Kitô, Đấng cứu chuộc muôn loài, và Nước cánh chung của Người, bằng lời tiên tri loan báo, và bằng các h́nh bóng nhiều kiểu” (Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn, tr. XI).

 

    Sau khi đă dùng Kinh Thánh cũ và Kinh Thánh mới để ngụy xưng Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa giáng trần, đạo Công Giáo chính là đạo thật duy nhất, và Giáo Hoàng chính là đại diện của Chúa Giêsu, người nắm quyền sinh sát thực sự ở gian trần này, th́ đạo Công Giáo bắt đầu tuyên bố các luật đạo Do Thái là luật Maisen (chứ không phải của Đức Chúa Cha); đạo Do Thái là đạo Maisen, chứ không phải là đạo của Đức Chúa Cha, nên đă lạc hậu, đă lỗi thời. Người Công Giáo từ nay không phải theo các lề luật cũ của đạo Do Thái. Thậm chí mười điều răn Thiên Chúa, Công Giáo cũng vất đi hai. Chúa tuyệt đối cấm thờ ảnh tượng. Chúa dạy giữ ngày thứ bảy, Công Giáo dạy giữ ngày Chủ Nhật. Chúa dạy rằng dân Do Thái là dân riêng của ngày măi măi, trừ khi nào mặt trời mọc ban đêm, mặt trăng mọc ban ngày lúc ấy mới thôi (Jeremiah 33:24-26). Các Giáo Hoàng dần dần dùng chữ Tà đạo “Perfidia” để chỉ đạo Do Thái(8).

Đặc biệt nhất là mấy chữ PRO PERFIDIS JUDAEIS đă được chép vào Kinh Thánh Lễ Công Giáo ngày Thứ Sáu Tuần Thánh để cầu cho bọn tà đạo – bọn theo đạo đức Chúa Cha sớm trở về với đạo Công Giáo – đạo Đức Chúa Con. Ba chữ vàng son đó, sau khi đă ngự trị trong sách Thánh Lễ Công Giáo cả ngh́n năm, dến thời Công Đồng Vatican II, tức là khoảng năm 1965 mới được bỏ đi…(9).

 

    Rồi dần dần Giáo Hội công khai tuyên bố rằng dân Do Thái là dân hèn hạ, vô tín ngưỡng, thứ dân giết Chúa, cần phải đọa đày, hành hạ cho sánh danh Thiên Chúa, và đạo Do Thái là thứ đạo lầm lạc. Trong nhiều thế kỷ, các Giáo Hoàng và các vua chúa Công Giáo đă dùng vơ lực bắt buộc người Do Thái phải bỏ đạo ḿnh mà theo đạo Công Giáo, nếu không sẽ bị trăm điều khốn nạn. Tôi không những thương dân Do Thái, mà c̣n thương cả Đưc Chúa Cha, v́ đạo Ngài lập ra, sau này lại bị những người theo đạo Con Ngài phỉ báng cho là tà đạo. Và tôi liên tưởng đến những vị vua cha khi đă già nua, con cái lên cầm quyền chẳng c̣n coi ḿnh ra ǵ nữa.

 

    Dẫu sao th́ ai theo đạo Do Thái hay theo đạo ǵ ngoại đạo Công Giáo cũng sẽ xuống hỏa ngục! Điều này đă được giảng dạy từ mấy ngh́n năm nay, và nếu không c̣n giảng dạy như thế nữa họa chăng từ 1965, nghĩa là sau Công Đồng Vatican 2.

 

    Nếu tôi không lầm, th́ các Giáo phụ Công Giáo như Augustine, Origen, Cyprian đă nhất mực tuyên bố: Ngoài Giáo hội, không được cứu rỗi (Extra Ecclesiam, nulla salus). Augustine viết: “Ai sống ngoài Giáo hội sẽ phải chịu h́nh phạt đời đời, dẫu người đó tự thiêu nhân danh Chúa Kitô”(10).

 

    Công đồng Florence (1442) đă dơng dạc tuyên bố: “Thánh Giáo hội La Mă tin chắc, tuyên xưng và công bố rằng ngoài Giáo Hội Công Giáo, không một ai có thể được sống đời đời, dù nó là ngoại đạo, là Do Thái giáo, vô thần, hay tách rời khỏi Giáo Hội: Nó sẽ làm mồi cho lửa đời đời dành cho ma quỷ và thủ hạ ma quỷ, nếu nó không trở về với Giáo hội Công Giáo trước khi chết”(11).

 

    Giáo hoàng Pius IX, trong tập tà Thuyết Kỷ Yếu (Syllabus of Errors), công bố vào tháng 12, 1864 cũng phi bác không chấp nhận rằng bất kỳ sống trong đạo giáo nào, con người cũng có thể t́m được sự sống đời đời và không chấp nhận rằng con người có thể tùy thích chọn tôn giáo ḿnh ưng để mà theo(12).

 

    Công Đồng Chung Vatican I, năm 1870 tuyên xưng như một “tín lư” rằng không ai có thể cứu rỗi, ngoài Giáo Hội(13).

 

    Tới Công Đồng Chung Vatican II (1962-1965), ta thấy Giáo Hội Công Giáo đă đổi chiều và trở nên khiêm tốn, dè dặt hơn. Trong thông điệp Lumen Gentium, Giáo hội Công Giáo bắt đầu phân biệt Giáo Hội Chúa Kitô và Giáo hội Công Giáo. Thông điệp viết:

 

    “Đó là Giáo hội Chúa Kitô duy nhất, mà chúng ta tuyên xưng là duy nhất, thánh thiện, công cộng và do các Tông đồ, mà Chúa Cứu Thế chúng ta sau khi Ngài sống lại đă gửi gấp cho Peter cùng các Tông Đồ khác quảng bá và chủ tŕ .. Giáo hội này, được sáng lập và tổ chức thành một cộng đoàn ở trong thế giới hiện nay, hiện TIỀM TÀNG trong Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hội Công Giáo đă được cai trị bởi đấng kế thừa thánh Peter, và bởi các Giám mục đồng tâm, đồng chí với Ngài. Tuy nhiên có nhiều yếu tố thánh thiện và chân lư đă thấy được ngoài giới hạn, phạm vi hữu h́nh khả kiến của Giáo hội đó. V́ đó là những ân sủng thuộc Giáo hội Chúa Kitô, nên đó là những hoạt lực thúc đẩy tiến tới sự hợp nhất Công Giáo”(14).

 

    Ta đọc văn bản trên, thấy giọng điệu quanh quất, úp mở, tuy nhiên đă bớt có vẽ độc tôn. Giáo hội đă hữu ư dùng chữ SUBSISTS IN thay v́ chữ IS tức là đă không dám coi ḿnh là giáo hội duy nhất nắm giử chân lư, và đă muốn mở một con đường mới để đi đến chổ cộng tác với Tin Lành và Chính thống giáo. Thực ra đó cũng là một sự nhượng bộ, một sự thay chiều đổi hướng rất lớn lao của Giáo Hội La Mă rồi.

 

    Như vậy đà diễn tiến từ Do thái giáo đến Công giáo đă được thi triễn như sau :

 

    1. Chấp nhận Thánh Kinh Do Thái Giáo là chân lư.

 

    2. Dùng Thánh Kinh Do Thái để chứng minh Chúa Giê Su chính là Thượng Đế giáng trần.

 

    3. Trong khi Chúa Giê Su tuyên xưng chỉ giảng dạy cho dân Do Thái và không hề có ư đổi một lề luật nào của Do Thái, th́ Thánh Paul làm một cuộc đảo chính đầu tiên. Ngài tuyên bố Chúa Giê Su giáng trần chịu chết để chuộc tội tổ tông. – một thứ tội mà cả ngàn năm qua người Do Thái không hề bận tâm đến.

 

    4. Thánh Paul tuyên bố các lề luật Do Thái vô giá trị đối với người Công Gíao. Bỏ hết từ phép cắt b́ cho đến các lề luật chi phối đời sống gia đ́nh, xă hội của người Do Thái.

 

    5. Ngài tuyên xưng đạo cần phải giảng cho dân ngoại.

 

    6. Ngài thẳng thừng tuyên bố không thèm học hỏi với các Tông Đồ Chúa. Ngài chính là hiện thân của Chúa Giê Su, và những điều ngài giảng dạy mới là chân lư, ai không theo Ngài sẽ là những kẻ rối đạo. Mới đầu các tông đồ chống đối, rồi sau cũng bó giáo quy hàng. Như vậy nói cho đúng thánh Paul mới là người sáng lập ra đạo Công Gíao, chứ không phải Chúa Giê Su và các Tông đồ.

 

    7. Từ khi vua Constantine công nhận đạo Công Giáo là quốc giáo, th́ Giáo Hội bắt đầu củng cố quyền hành của ḿnh, bắt tay với chính quyền để hủy diệt các đạo giáo khác.

 

   8. Do Thái Giáo được Công Giáo chiếu cố đặc biệt nhất.

 

    Công Giáo bắt đầu coi Do Thái Giáo là tà giáo, và t́m đủ mọi cách để hành hạ, báo thù người Do Thái v́ tội giết Chúa. Thực ra người lên án từ h́nh Chúa Giêsu là Pilate, toàn quyền La Mă, chứ đâu phải Do Thái. Vả lại Chúa giáng trần chỉ có một mục đích là chịu cheat để chuộc tội, th́ ai giúp Chúa làm tṛn sứ mạng của ḿnh, người ấy phải được phong thần, phong thánh mới phải, v́ đă "đồng công" chuộc tội thiên hạ, chứ sao lại hờn giận họ, căm thù họ, nhất là ḿnh lại rao giảng t́nh yêu và sự nhẫn nhục, tát má này, giơ má kia.

 

    9. Khi đă coi Do Thái giáo là tà giáo, Công Giáo ra sức dùng vơ lực thủ đoạn bắt họ phải chịu phép rửa tội bỏ đạo Đức Chúa Cha, mà theo đạo Đức Chúa Con. Đó là một con đường duy nhất để người Do Thái thoát cảnh hiếp tróc, tù đày, trục xuất, phát lưu, tịch thu tài sản, cấm làm nghề nghiệp để sinh nhai. Có những thời kỳ họ phải mặc áo dấu riêng biệt, đội mũ nhọn cao nghệu, ở trong những khu ghetto chật chội riêng biệt, cheat th́ chôn trong những khu chật chội, đến nỗi các mộ bia san sát nhau như gạch vỉa.

 

    Các đại thánh Công Giáo như Augustine, Thomas, Aquinas , Bêrnard; các Giáo Hoàng qua các thời đại như Gregory I (590-604); Alexander II (l061-1073); Innocent III (1198-1297); Clement IV (1265-1268); Nicholas III (1277-1280); Martin IV (1281-1285); Honorius IV (1285-1287); Nicholas IV (1288-1292); Clement V (1305-lSi4); Martin V (1417-1431);

 

    Eugene IV (1431-1447); Alexander VI (1492-1503) v v ; các Công Đồng như Công Đồng Toledo thứ XVI (694); Công Đồng Nicea (787); Công Đồng Lateran III (1179); Công Đồng Lateran IV (1215-1216) v.v..; tất cả những khối óc “vĩ đại” như vậy, với sự soi sáng của Chúa Thánh Thần trong ṿng nhiều thế kỷ, đă góp sức nhau lại để bày mưu tính kê, hạ nhục, hành hạ, giết sát người Do Thái, th́ dĩ nhiên đó phải là những thủ đoạn heat sức tinh vi, hết sức độc đáo. Tôi tin chắc rằng Giáo Hội mỗi khi nghĩ lại cái dĩ văng huy hoàng, hừng hực hận thù và máu lửa đó, chắc là sẽ hết sức hănh diện v́ ḿnh đă làm được những công chuyện sáng danh Thiên Chúa vĩ đại như vậy. Thảo nào mà mọi người trên thế giới mỗi khi nghĩ tới sự huy hoàng, và bền vững của Công Giáo đă phải cúi đầu bái phục!

 

    Giáo hoàng Innocent III (li98-1217), một trong những vị Giáo hoàng oanh liệt đệ nhất cồ kim, đă nhận định về đạo Do Thái do Đức Chúa Cha sáng lập như (Nói chung, th́ luật Moses chứ không phải luật của Đức Chúa Cha- hứa hẹn những lạc thú tạm bợ, vật chất, một xứ sở chảy ra sữa và mật, lập ra lề luật hại ai sao? sẽ bị trả báo lại như vậy , đề cao hạnh phúc lứa dôi, chủ trương đông con nhiều cái. Ngược lại với những điều ấy, luật Phúc âm đề cao sự khó nghèo, dạy lấy ân để trả oán, trọng vọng trinh tiết độc thân -đó tuy là những gánh nặng, nhưng đối với những kẻt́nh yêu thúc dẩy. chúng lại nên nhẹ nhàng. Luật cũ đặc biệt là nêu cao đời sống hoạt động. chi phối bởi ngũ quan: "Đó là những quân Do Thái sông theo xác thịt, giác quan, chỉ biết thú vui nhục thể mà thôi, và như vậy, mặc dầu các tiên tri của họ nói về tinh thần chứ không phải xác thịt"(15).

 

    Sau khi nghe đấng thay mặt Chúa Giêsu Innocent III là Giáo hoàng đầu tiên xưng minh là Đại diện đấng Christ - tôi như thấy được sáng mắt lên. Th́ ra trong Cựu ước làm ǵ có luật Chúa Cha, đạo Chúa Cha, mà chỉ là đạo Maisen, luật Maisen, và cái đạo Do Thái mà xưa kia tôi cứ nghĩ là cao siêu, dạy thiên hạ chân lư, lư tưởng, té ra ch́ là thứ đạo vật chất, xác thịt, hết sức là tầm thường. Cho nên tôi mới vỡ lẽ ra rằng chuyện giáo hội t́m hết cách bắt dân Do Thái bỏ đạo họ là thương họ thật, muốn cứu rỗi họ thật. Dân Do Thái là dân giết Chúa, mà nay Công Giáo dơ hai tay chờ đón họ vào sống chung một chuồng chiên, th́ thực là lấy ân trả oán đúng theo tinh thần Phúc âm của Chúa. Tôi mới vỡ lẽ ra rằng cái nh́n của ḿnh là cái nh́n của một người tầm thường, c̣n cái nh́n của các đại thánh Công Giáo, Giáo Hoàng Công Giáo là những cái nh́n của các bậc “vĩ nhân”, sinh ra cốt là để ban ân phúc cho đời, cứu vớt nhân loại...

 

    Tuy nhiên tôi lại hơi thắc mắc là tại sao Giáo Hội Công Giáo luôn luôn long trọng tuyên bố Cựu ước cũng chính là lời Chúa?

 

    Cái thắc mắc khác của tôi, là một Giáo Hội đầy ơn Chúa, đầy chân lư và t́nh thương như vậy, khi thực sự đă cai trị Âu Châu, lại làm cho Âu Châu run sợ v́ tàn ác Linh mục Công Giáo Edward A. Synan, tác giả quyển The Popes and The Jews in the Middle Ages cũng đă phải thành khẩn công nhận rằng: khi âu Châu được đặt dưới quyền thống trị của các Giáo Hoàng thời Trung cổ đă không biết chuyện b́nh đẳng và công bằng; luật pháp th́ dă man từ ư hướng đến h́nh phạt, và đă (chĩa mũi dùi vào dân chúng Do Thái tội nghiệp .

 

    Tôi lại càng thêm phục Giáo Hoàng Innocent III v́ đă coi dân tộc Do Thái ngang hàng với "Ḅ", với "Súc Vật " , và Ngài c̣n cho thế là lịch sự tử tế, v́ theo Ngài, tiên tri Isaiah đă coi dân Do Thái thua ḅ, thua giống vật nữa.

 

    Nếu Nostradamus, Marx, Einstein (các vị này đều là gốc Do Thái) mà đọc được những lời của Giáo Hoàng Innocent III, chắc phải khiếp vía, v́ không biết Ngài thông minh đến mức nào, mà dám coi người Do Thái như ḅ, như súc vật. Khi đă coi rẻ Do Thái đến như vậy, đă coi đạo Do Thái tầm thường đến như vậy, th́ tịch thu các sách Talmud - thánh thư của Do Thái giáo - chất lên nhiều xe, đem ra đốt giữa thành phố Paris năm 1242, theo lệnh của vua thánh Louis và được sự chúc phúc tán đồng của Giáo Hoàng Gregory IX là một chuyện rất tầm thường đối với Công Giáo, v́ những "thánh thư Do Thái" đồi bại như vậy, giữ nó làm cái ǵ (18).

 

    Có một điều khó hiểu là những thế kỷ từ 11 đến 15 huy hoàng như vây, đối với người Do Thái lại là 4 thế kỷ kinh hoàng (19) Chẳng những thế ngay người Âu Châu cũng đă vô ơn, đă đầy thiên kiến khi đánh giá những thế kỷ trung cổ (476-1453) đầy ánh sáng Thiên quốc và Phúc âm ấy là "Thời đại Hắc ám " (The Dark Ages). Và khi phong trào khảo cứu lại nền văn minh Hi Lạp nảy sinh ra, họ đă dám gọi đó là (thời Kỳ Phục Sinh (Renaissance) (thế kỷ 14-16); và khi phong trào đề cao Lư Trí con người được khởi xướng, họ lại dám gọi đó là '(Thời Kỳ Phát Quang " (Enlightenment~ (thế kỷ 18). Thực là ngạo mạn, nhảm nhí vô cùng.

 

    10. Chúng ta cũng không thể nói rằng Giáo Hội chỉ nghiêm ngặt, tàn ác với Do Thái Giáo và các giáo phái khác mà thôi. Ngay đối với con chiên bổn đạo ḿnh, Công Giáo cũng đă dùng máu lửa, sắt thép để giữ ǵn cho đoàn chiên được ngoan ngoăn, thuần thành: Năm 1229, Công Đồng Toulouse cấm không cho giáo dân được giữ Kinh Thánh, ngoại trừ những Thánh Vịnh (Psalms), và những đoạn đă có trong Kinh Nhật tụng của Linh mục, và cấm chỉ các bản dịch ra thổ âm của mỗi nước. cho rằng đó là cách ngăn chặn cá bè rối từ gốc rễ.

 

    Tôi mới đầu không hiểu tại sao Giáo Hội cấm không cho giáo dân có Kinh Thánh hay đọc Kinh Thánh, nhất là bằng quốc ngữ. Dần dà tôi mới thấy sự cấm đoán đó hết sức là hữu lư, v́ nếu cứ để cho giáo dân đọc Kinh Thánh, dần dà họ sẽ bới ra được những cái dở của Kinh Thánh, những chỗ dịch sai, dịch bậy của Kinh Thánh, những chỗ thêm, bớt vào Kinh Thánh. Và quả nhiên từ khi Luther dịch Kinh Thánh ra Đức ngữ, dần dà người ta dịch Kinh Thánh ra các thứ tiếng hoàn cầu, rồi đem bán rẻ hoặc đem tặng không cho mọi người đọc. Kết quả là ngày nay người ta bới móc ra rằng Kinh Thánh có nhiều đoạn mâu thuẫn nhau; năm quyển Cựu ước đầu tiên không phải do Mai sen viết mà do nhiều người viết về sau này; Jeremiah, Daniel cũng do nhiều người viết ở nhiều thế kỷ khác nhau; Thánh thư cho giáo đoàn Hebrews, Thánh thư Thessalonians II, Thánh thư Peter II không phải do Paul và Peter viết ra. Thực là điên cái đầu... Rồi Do Thái, rồi Tin Lành không nhận nhiều quyển Kinh Thánh Công Giáo như Tobias, Ecclesiasticus, Sách Khôn Ngoan, sách Macchabeus, sách Judith, ... là Kinh Thánh. Thật là phạm thượng, phạm thánh vô cùng...

 

    Từ khoảng thế kỷ XI trở về sau, Giáo Hội bắt đầu kiêm soát tư tưởng, hành vi của các con chiên bổn đạo, kiểm soát sự ấn loát, lưu hành tàng trữ sách vở trong nước; lập các ṭa H́nh án để khủng bố tín dỗ, miễn sao giữ được sự vâng phục hoàn toàn bên ngoài. Các ṭa H́nh án (Inquisition) được Giáo hoàng Gregory IX (1227-1241) và Công đồng Toulouse năm 1229 thiết lập. Nó có mục đích sưu tra, và tiêu diệt hoặc trừng phạt những tín đồ Công Giáo có những tư tưởng phản lại với Giáo quyền, và đă được duy tŕ trong nhiều thế kỷ. Sau này nhờ sự can thiệp của Napoleon đại đế, Ṭa H́nh án đă bị dẹp bỏ năm 1810, nhưng đến năm 1814 lại được tái thiết ở Tây Ban Nha. 

 

    Ṭa H́nh án có quyền hết sức rộng răi, tha hồ tra tấn những kẻ t́nh nghi để bắt buộc họ phải cung khai những tội họ đă bị tố cáo hoặc vu cáo. H́nh phạt tối hậu có thể là thiêu sinh. Nguyên thời Thomas de Torquêmada làm Chánh án trong ṿng mấy chục name trường, có khoảng 20,000 người đă bị ông cho lên giàn hỏa, hoặc bị tra tấn, tù đày, vong gia bại sản. Sử kư Hội

 

    Thánh chép rằng tuy nhiên sau khi Torquemada chết vào năm 1498, ông cũng đă không được Giáo Hội phong thánh (21). Thực là một điều đáng tiếc v́ một đại công thần suốt đời làm vinh danh Chúa và Giáo Hội như vậy, lúc chết cũng chỉ hai tay buông xuôi, như mọi người. Trong thời kỳ các Ṭa H́nh án hoành hành ở Âu Châu, những người xấu số, khốn nạn nhất vẫn là dân Do Thái. Họ bị cưỡng bách theo Công Giáo nếu sau này họ bị nghi ngờ rằng đă lén lút trở lại giữ đạo Do Thái, th́ chắc chắn sẽ bị bắt, bị tra khảo, tù đày, lên giàn hỏa, và toàn bộ gia sản bị tịch thâu... Những người thừa hưởng gia sản đó là Giáo Hội, Chính quyền và người đứng ra tố cáo, chỉ điểm. Nếu chúng ta ṭ ṃ, khi nào lên San Francisco, đền Cliff House ở bờ biển, sẽ thấy một viện bảo tàng nhỏ nhan dề "Believe it or not" trưng bày các dụng cụ mà giáo quyền xưa đă dùng để hành hạ, tra tấn các tín đồ của ḿnh.

 

    Nhiều người có danh tiếng đă phải lên giàn hỏa như Savonarolla Jerome (1452-1498), Bruno Giordano (1548-1600), John Hus (1369-1415) v.v.. Sau này Calvin, cũng đă bất chước. Công Giáo ra lệnh thiêu sinh Servetus Michael (1511-533) tại Geneva v́ tội không chấp nhận Chúa có Ba ngôi. Cũng nên nhớ rằng trong công cuộc này, giáo quyền bắt tay hết sức chặt chẻ với các chính quyền địa phương..

 

    Sau này cả Công Giáo lẫn Tin Lành đều rất sính đi săn lùng và tiêu hủy những người mà họ cho là những phù thủy, pháp môn để tận diệt, để áp dụng đúng lời Kinh Thánh ghi trong Exodus 22:18: ngươi không dược dể cho phù thủy được sống". Và cuộc truy lùng này cũng đă được kéo dài ở Âu Châu và Mỹ Châu từ 1445, do sự đề xướng của Giáo Hoàng Eugene IV, và được kéo dài nhiều thế kỷ. Ngay ở Mỹ cũng có vụ án truy (lùng phù thủy ở Salem Massachusetts vào name 1692 (23).

 

    11 . C̣n như khi phải đối đầu với những phong trào mạnh hơn có đông người theo hơn, th́ Giáo Hội hô hào hưng binh tiêu diệt. Trong quá khứ Giáo Hội Công Giáo đă hưng binh tiêu diệt các giáo phái Albigenses (Cathari) và Waldensees tại miền Nam nước Pháp.

 

    Công đồng The Third Lateran Council và Giáo Hoàng Innocent III ra lệnh hưng binh năm 1179, và từ đó trong ṿng một phần tư thế kỷ, giáo phái Albigenses nhiều phen đă bị chinh phạt .

 

    Đối với Tin Lành, th́ đă có chiến tranh thật sự giữa hai phe . Chiến tranh tôn giáo bùng nổ ở Pháp vào name 1562 và kéo dài đến năm 1594. Nguyên đêm lễ thánh Bartholomew, vào tháng 8, năm 1572, có cả vạn người Tin Lành bị Công Giáo phục kích chết. Rồi lại có chiến tranh tôn giáo 30 năm ở Đức (Saxony, Moravia). Đối với Hồi giáo (Islamism), th́ có Lục Đại Thánh Chiến:

 

    · Đệ Nhất Thánh Chiến (l096-1143).

    · Đệ Nhị Thánh Chiến (1147-1149).

    · Đệ Tam Thánh Chiến (1189-1192).

    · Đệ Tứ Thánh Chiến (1202-1204).

    · Đệ Ngũ Thánh Chiên (1216-1217).

    · Frederic II Thánh Chiến (1228-1229).

    · Đệ Lục Thánh Chiến (1248-1254).

 

    Các Thánh Chiến thực ra cốt là để làm một công đôi việc, trong nước th́ tiêu diệt Do Thái; nơi đất thánh Jerusalem th́ cốt tiêu diệt Hồi Giáo. Đáng thương thay cho những người Do Thái v́ trong những trận thánh chiến đó, họ đă bị quân binh Công Giáo giết hại vô số kể nhất là vào những năm 1096 và 1146. Những người Do Thái bị giết tập thể tại nhiều tỉnh Âu Châu:

 

    Vào năm 1096: bị giết tại Spyer ngày 3 tháng 5, tại Worm ngày 24 và 25 tháng 5, tại Mayence ngày 27 tháng 5, tại Cologne ngày 1 tháng 7.

 

    - Vào năm 1104: tại các tỉnh bên Pháp: Orleans, Blois, Loches, Paris, Sen, Tours.

    - Vào năm 1146-1147: người Do Thái cũng bị giết trong nhiều tỉnh ở Âu Châu.

 

    Sử chép: trong tất cả các tỉnh mà Nghĩa Binh Thánh Chiến Công Giáo đi qua, họ dă tận diệt những hậu duệ Do Thái c̣n sót lại, coi họ là kẻ nội thù của Giáo Hội, hoặc bắt họ phải chịu phép rửa tội nhưng nhiều tên Do Thái sau đó lại trở lại đạo của họ, như những con chó đă mửa đồ ăn ra rồi lại ăn lại.. (25)

 

    12. Sau này cũng chính v́ ḷng bác ái đối với nhânloại mà trong khi đi xâm chiếm thuộc địa, người Âu Châu - nhất là những người Tây Ban Nha - v́ muốn đem “chân lư” giảng dạy cho nhân loại, nên đă hoặc là dùng vơ lực, hoặc là dùng thế lực, để khiến dân bị trị theo đạo. Thành công hoàn toàn là Tây Ban Nha. Bất kỳ là họ đi đến đâu cũng đă dùng mọi thủ đoạn để cưỡng bách dân chúng theo Công Giáo, cho nên Phi Luật Tân, Mễ Tây Cơ, các nước Trung Mỹ, Nam Mỹ đều theo Công Giáo hầu như toàn ṭng. C̣n những nước mà người Pháp chiếm cứ, th́ số người theo Công Giáo cũng khá, nhưng không được bao nhiêu so với tổng số dân chúng. Ngược lại chỗ nào mà người Anh chiếm cứ th́ đều có người theo Tin Lành. World Almanach 1988 cho biết hiện nay trong toàn thế giới có:

 

    · 900,545,840 người theo Công Giáo.

    · 326,521,820 người theo Tin Lành.

    · 158,352,650 người theo Chính Thống Giáo.

    · 805,895,880 người theo Hồi Giáo.

    · 647,894,950 người theo Ấn Giáo.

    · 220,541,590 người theo Phật Giáo.

    · 16,160,910 người theo Do Thái Giáo.

    · 307,416,030 người vô thần.

 

    Tổng số dân chúng hoàn cầu là 4,923,334,680.

 

    Thống kê trên cho thấy sự thành công của Công Giáo thật là vượt bực. Và có thủ đoạn, có mưu lược, có kế hoạch, có ngoại giao, có chính trị mới mong có thành công.(Phần 1A)

 

Nhân tử Nguyễn Văn Thọ (Theo Sach hiem, 5/10/07)

NDVN, ngày 9/5/08



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend