NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Nguyễn Trường Tộ Và Những Đề Nghị Cải Cách Của Ông


  Được đăng ảnh  

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

*************

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu  

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

 Giuse Phạm Hữu Tạo  

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa..... (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) - (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ? Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ: TỪ HUYỀN THOẠI ĐẾN THỰC CHẤT

 

Trần Chung Ngọc

 

 

 

Nguyễn Trường Tộ Và Những Đề Nghị Cải Cách Của Ông

Văn Tân

 

Như tập san Nghiên Cứu Lịch Sử số 23 đă nói, Nguyễn-Trường-Tộ là một trong những nhân vật của lịch sử cận đại Việt Nam mà chúng ta cần đánh giá cho đúng mức.  Đối với Nguyễn-Trường-Tộ từ trước đến nay, chúng ta thường có khuynh hướng đề cao.  Năm 1941, ông Từ-Ngọc Nguyễn-Lân đă viết và xuất bản cuốn Nguyễn-Trường-Tộ, ở quyển sách này, ông Nguyễn-Lân đă coi Nguyễn-Trường-Tộ là một "bậc vĩ nhân đệ nhất của nước Nam" "đáng cả quốc dân tôn sùng, tượng đồng bia đá", Nguyễn-Trường-Tộ là một nhà "đại học vấn, đại kiến thức, đại tư tưởng, đại nghị luận".  Trong Lịch Sử Việt Nam, ông Đào Duy Anh để cả một chương - chương XIII - để nói về các đề nghị cải cách của Nguyễn-Trường-Tộ nhưng với thái độ dè dặt hơn.  Ông cho Nguyễn-Trường-Tộ là một trong "những nhà chí sĩ thức thời hiểu rơ sự cần thiết đổi mới", là một nhà nho học, nhờ một người giáo sĩ đạo Thiên chúa dạy cho chữ Pháp và đem du lịch ở Âu Châu trong ít năm, nên lại có thêm được cái học thiết thực của một nhà tân học.  Từ năm 1861 đến năm 1871, thấy việc nước mỗi ngày một khó, thế nước mỗi ngày một suy, nghỉ trù nghĩ những phương sách làm cho dân giàu nước mạnh và dùng hết lời lẽ thống thiết để đưa lên triều đ́nh mấy chục xấp điều trần.   Ở các trường đại học của ta, gần đây, mỗi khi giảng về Nguyễn-Trường-Tộ, nói chung, chúng ta cũng vẫn có khuynh hướng đề cao tác giả các đề nghị cải cách mà ta vẫn gọi là các bản điều trần. 

 

   Vai tṛ Nguyễn-Trường-Tộ trong lịch sử thực sự ra sao?  Các đề nghị cải cách của Nguyễn-Trường-Tộ, nếu được thi hành, có khả năng làm cho nước Việt-Nam trở nên giàu mạnh như Nhật-Bản  hay các nước   phương Tây tư sản hay không?  Đây là những vấn đề chúng ta cần thảo luận để đi đến một nhận định nhất trí đặng có thể đóng góp chút ít cho công tác biên soạn thông sử hiện đang được tiến hành tích cực.

 

   Nguyễn-Trường-Tộ sinh năm 1828 ở làng Bùi Chu, phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.  Ông thân sinh ra Nguyễn trường Tộ là Nguyễn Quốc Thư, một nhà nho làm nghề thày lang (đông y) theo Thiên chúa giáo.  Ngay từ hồi c̣n nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đă nổi tiếng là Trạng Tộ, v́ ông thông minh đặc biệt, học đâu nhớ đấy, hiểu đấy.   Năm mười tám tuổi, Nguyễn Trường Tộ theo học ông Tú Giai ở làng Bùi nghĩa, sau ông theo học ông Cử Hữu ở Kim-khê, rồi ông đến trường của một viên tri huyện hưu trí để tập làm văn.  Nếu được đi thi, rất có thể Nguyễn Trường Tộ cũng thi đỗ như các nhà nho hay chữ khác.  Nhưng dưới triều Tự Đức, giáo dân Thiên chúa giáo bị phân biệt đối xử, và bị gọi là "dĩu dân" tức dân xấu đối với lương dân là những người dân không theo Thiên chúa giáo.  Nguyễn Trường Tộ là tín đồ của Thiên chúa giáo, lẽ tự nhiên là ông bị liệt vào hạng "du dân", và do đó bị cấm không được đi thi.  Năm 1858 tức năm Nguyễn trường Tộ ba mươi tuổi, ông được giáo đường Tân-ấp mời đến dạy học chữ Hán.  Giám mục Pháp là Gô-chi-ê (Gauthier) thấy Nguyễn Trường Tộ thông minh, liền đem chữ Pháp dạy cho ông.  Khi ông đă biết ít nhiều tiếng Pháp rồi, Gô-chi-ê lại dạy ông cả các khoa học tự nhiên nữa, rồi đem ông đi du lịch Hồng Kông và Xanh-ga-po.  Năm 1858, chiến hạm Pháp bắn phá vào Đà Nẵng báo hiệu việc mở đầu chính sách xâm chiếm Việt Nam bằng vơ lực.  Triều đ́nh Huế vốn vẫn nghi ngờ các tín đồ Thiên chúa giáo, nhân dịp này quay ra đàn áp các tín đồ Thiên chúa giáo.  Gô-chi-ê phải đem Nguyễn Trường Tộ đi lánh nạn, và đến năm 1860 th́ đem ông sang Pháp.  Nguyễn Trường Tộ được lưu học ở Pa-ri chừng hai năm.  Trong thời gian ở Pa-ri, ngoài việc nghiên cứu khoa học, Nguyễn Trường Tộ c̣n để ư nghiên cứu các hoạt động khác của xă hội Pháp lúc bấy giờ.  Chính ông đă viết: "Về học vấn, th́ môn ǵ tôi cũng để ư đến: trên là thiên văn cao xa, dưới là địa lư sâu sắc, giữa là nhân sự phiền phức, cho đến luật lịch, binh thư, bách nghệ, cách trí, thuật số đều là nghiên cứu đến nơi cả".  Không những Nguyễn Trường Tộ học sách vở, ông c̣n đến các nhà máy để học tập trong các hoạt động thực tế của người Pháp nữa.  Nhờ vậy, sau hai năm ở Pháp ông đă thâu thái được một cái vốn kiến thức khá to.  Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đáp tầu từ Pháp về Sài-g̣n là thành phố đă bị quân đội Pháp đánh chiếm từ năm 1859.   Khi Nguyễn Bá Nghi được triều đ́nh Huế cử vào Gia-định thay Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trường Tộ có biên thư cho Nguyễn Bá Nghi khuyên phải tạm ḥa với Pháp.  Tháng 6 năm 1862, Nguyễn Trường Tộ gặp Phan Thanh Giản ở Sài-g̣n trong dịp Phan kư ḥa ước nhường 3 tỉnh Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường cho Pháp, và mở các cửa biển cho tầu Pháp tự do vào buôn bán ở khắp nước Việt Nam.

 

   Tháng 3 năm 1863, Phạm Phú Thứ đến Gia Định, Nguyễn Trường Tộ có gửi Phạm một tập trần t́nh và ba bản điều trần đưa về triều đ́nh Huế.  Trong ba bản điều trần, th́ bản I là bài "Thiên hạ phân hợp đại thế luận" chuyên nói về t́nh h́nh các nước trên thế giới; bản II là bài "Dũ tài tế cấp luận" đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề lương thực, vơ khí, quốc phí, dân sinh, và khuyên triều đ́nh Huế phải khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Anh và Pháp nhằm tăng cường địa vị của Việt Nam để cuối cùng buộc Pháp phải bỏ Gia Định; bản III là bài "Giáo môn luận" đưa ra các lư lẽ khiến cho con người phải theo tôn giáo này hay tôn giáo khác.  Theo Nguyễn Trường Tộ, th́ nguyên nhân mất nước không phải v́ có nhiều tôn giáo.  Ông cho rằng: "Những người theo Thiên chúa giáo cũng đều là người do Tạo vật sinh dục, và cũng là bộ phận của nhân dân trong nước, những người phản nghịch th́ chỉ là một trong một trăm hay một ngh́n.  Tại sao ở trên không xét rơ mà cho là phản nghịch cả?"

 

   Năm 1864, Nguyễn Trường Tộ gặp một người Anh ở Gia Định.  Người Anh này là đại biểu một viện khoa học ở Luân-đôn.  Hắn mời Nguyễn Trường Tộ sang Anh dự một hội nghị khoa học, Nguyễn Trường Tộ biên thư cho Trần Tiễn Thành khuyên Trần đề nghị với triều đ́nh Huế phái người sang Anh giao thiệp với chính phủ Anh nhằm thực hiện chính sách ngoại giao mà ông đă tŕnh bày trong "Lục lợi từ": Lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh và Pháp.  Mùa Đông năm 1865, Nguyễn Trường Tộ gửi cho Phạm Phú Thứ hai bức thư và Trần Tiễn Thành ba bức thư khuyên Phạm và Trần lưu ư đến việc mua vơ khí, việc gửi học sinh ra nước ngoài, việc khai thác các nguồn lợi trong nước và việc giao thiệp với các cường quốc.  Tháng 2 năm 1866, Tự Đức triệu Nguyễn Trường Tộ đến Huế để hỏi về những đề nghị cải cách do ông đề xướng, ông được Trần Tiễn Thành tiếp đón ân cần.  Nhân dịp này ông có nói cho Trần Tiễn Thành biết âm mưu của thực dân Pháp là sẽ đánh chiếm nốt ba tỉnh miền Tây đất Nam Kỳ.  Rồi đột nhiên Nguyễn trường Tộ bỏ Huế đi về Quảng-b́nh mà không hề báo cho Trần Tiễn Thành biết. (Có thuyết cho rằng Tự Đức thấy bọn quan lại ở Huế phản đối Nguyễn Trường Tộ kịch liệt quá, phải cho người hộ tống Nguyễn về quê quán).  Sau khi về Quảng b́nh Nguyễn Trường Tộ lại cùng với Gô-chi-ê về Xă Đoài là nơi có nhiều tín đồ Thiên chúa giáo cư trú.  Rồi từ xă Đoài, Nguyễn Trường Tộ lại gửi cho triều đ́nh Huế một tập "Khai hoang từ", một tập "Quốc vị quan vị luận", một tập "Học tập sử tài luận" và một bức thư nói về việc giáo dân ở Nghệ-an bị khủng bố.  Tháng 7 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ được triều đ́nh Huế cử đi t́m mỏ từ Quảng b́nh đến Hải đương cùng với viên lang trung Nguyễn Văn Long.  Sau đó, ông lại được triều đ́nh Huế phái đi Gia-định để đáp tầu sang Pháp.  Ở Gia-định, Nguyễn trường Tộ thấy giữa các người Pháp có sự chia rẽ, ông biên thư về cho triều đ́nh Huế báo cho triều đ́nh biết t́nh h́nh đó.  Trong một bức thư khác viết cho triều đ́nh, ông có nói đến cuộc khởi nghĩa của Pu-cam-pô ở Cao-miên, và khuyên triều đ́nh t́m cách liên minh với người Khờ-me, người Xiêm, người Anh để ngăn chặn không cho Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.  Cuối năm 1866, sứ bộ trong đó có Nguyễn Trường Tộ đến Pháp. Từ Pháp, Nguyễn Trường Tộ gửi về cho triều đ́nh Huếtập "Tế cấp bát điều" (Tám điều cấp cứu) khuyên triều đ́nh: sửa sang việc vơ bị; sửa đổi các tệ hại để cứu văn tài chính; hợp tỉnh huyện, giảm quan lại; chỉnh đốn học pháp; điều chỉnh thuế ruộng; kinh lư bờ cơi; điều tra dân số; lập dục anh viện và tế cùng viện.  Giữa lúc sứ bộ Việt Nam đang ở Pháp, th́ quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.  Năm 1868 sứ bộ về nước.  Trong chuyến đi này Nguyễn Trường Tộ có đem về cho triều đ́nh Huế 3 giáo sư, một chuyên viên kỹ thuật, nhiều sách giáo khoa và các dụng cụ thí nghiệm khoa học để triều đ́nh lập ra một trường kỹ thuật.  Việc mất 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ đặt triều đ́nh Huế vào một t́nh trạng vô cùng hoang mang lo sợ.  V́ vậy việc lập trường kỹ thuật bị băi đi.  Dư luận Huế lúc này rất xao xuyến về việc Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây.  Nhiều người coi Nguyễn Trường Tộ là tay sai của Pháp.  Có người lại xin triều đ́nh đem Nguyễn Trường Tộ ra xử tử.   Tự Đức phải sai Trần Tiễn Thành cho người hộ tống ông về xă Đoài.   Từ xă Đoài, Nguyễn Trường Tộ lại viết thư cho triều đ́nh biết rằng không có hi vọng ǵ thu phục được đất đai đă mất bằng con đường thương lượng, và ông khuyên triều đ́nh Huế phải sớm duy tân tự cường, đặt quan hệ ngoại giao với các nước, chờ khi Pháp có nội loạn hay bị xâm lược, th́ mới có cơ lấy lại được những đất đai đă mất.   Đến năm 1871, Nguyễn lại gửi cho triều đ́nh Huế hai đề nghị, khuyên triều đ́nh nên đánh úp quân Pháp ở Gia định, Nguyễn lại t́nh nguyện vào Gia định để chỉ huy cuộc đánh úp.  Đến cuối năm 1871 th́ Nguyễn Trường Tộ mất.

 

   Xét các đề nghị cải cách của Nguyễn trường Tộ, nhất là những cải cách về công nghiệp và thương nghiệp, chúng ta thấy Nguyễn muốn đưa nước Việt Nam vào con đường tư sản hóa như các nước Tây Âu, cụ thể là nước Pháp và nước Anh.  Về mặt công nghiệp, Nguyễn rất lưu ư đến việc khai mỏ, Nguyễn biết đất nước Việt Nam "có rất nhiều ngũ kim bát thạch, rất nhiều thứ ngọc quư và của lạ".  Hồi ấy ở Pháp có những tổ chức gọi là Hội kinh doanh ngoại quốc.  Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đ́nh giao thiệp với những hội ấy để nhờ họ khai thác một số mỏ ở nước ta.  Theo Nguyễn, có thể thuê mướn các hội ấy hay hợp tác với các hội ấy để chia lời.  Để cho các hội trên đến kinh doanh ở nước ta, theo Nguyễn, chỉ có lợi cho nước ta.  Đến kinh doanh ở nước ta, tất họ phải thuê người nước ta, những người nghèo khó ở nước ta sẽ có công ăn việc làm.  Kỹ sư và công nhân các nước đến nước ta tất phải thuê nhà ở, thuê đất làm nhà ở nước ta, do đó sẽ có những thành thị mới.  Điều quan trọng nhất là nhân dân ta sẽ có dịp học tập được tài nghệ của các nước: "Hiện nay, cái mà chúng ta rất thiếu thốn là sự học tập tài nghệ...Nếu họ đến khai thác một chỗ nào, th́ quan quân chúng ta cũng đến đó, và mắt sẽ thấy nhiều điều mà học tập được.  C̣n thường dân của chúng ta th́ làm cho họ, cư xử gần nhau, ăn mặc như nhau, như thế th́ không ngoài mười năm, tài nghệ của dân ta sẽ không kém ǵ họ.  Như vậy th́ nhà nước không tốn một đồng tiền mà nhân dân đều học tập thành nghề cả".  Để cho nhân dân Việt Nam có thể học tập được tài nghệ của nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ chủ trương một mặt phải cho người đi du học các nước châu Âu, một mặt phải mở mang các trường kỹ nghệ trong nước.  Về thương nghiệp, Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đ́nh khuyến khích các nhà buôn lớn bỏ vốn ra lập thành những hội (công ty) hợp cổ, và trọng thưởng cho hội nào tập hợp được một số vốn từ một trăm quan tiền trở lên; hội nào mua được các tầu lớn để đi buôn bán với các nước châu Âu và trung-quốc cũng sẽ được trọng thưởng.  Để tiện cho việc giao thông, vận tải và giao lưu hàng hóa trong nước, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đ́nh "đào một con kênh lớn từ Hải-dương đến kinh đô Huế để cho thuyền quan hay thuyền dân, việc lớn hay việc nhỏ đều thông hành được cả".  Nguyễn Trường Tộ cho rằng nông nghiệp vẫn là nền tảng kinh tế của nước ta; nông nghiệp của nước ta suy đồi là v́ kỹ thuật nông nghiệp của ta thấp kém.  Nguyễn đề nghị triều đ́nh mở khoa nông chính để dạy dân các môn: 1) Thiên văn học nông nghiệp; - 2) Địa lư học nông nghiệp; - 3) Thực vật học; - 4) Địa văn khí tượng học; - 5) Tổ chức nông nghiệp trong nước.  Để khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật, Nguyễn khuyên triều đ́nh phải chú ư khen thưởng những người có sáng kiến hay.   Nguyễn lưu tâm đặc biệt đến công tác trị thủy và công tác thủy lợi.  Trong tập "Tế cấp bát điều", Nguye6~n viết: "Nước ta có nhiều núi mà ít đồng bằng, khi mưa to đổ xuống th́ bị thế núi quanh co ngăn lại và gây nên úng thủy, dân gian thiệt hại rất nhiều.  Nay nếu đào nhiều kênh để khơi nước, nước sẽ chia đường đi chảy đi nhiều ngả, sức nó sẽ ḥa hoăn không thể tràn lan".  Nguyễn trường Tộ có lẽ là người Việt Nam đầu tiên nh́n thấy sự cần thiết của Thống kê học, theo ông chỉ có Thống kê học mới cho phép chúng ta biết rơ nhân lực, vật lực, tài lực của nước ta.  Chính ông đă viết: "Mỗi năm ở các thành thị, hàng hóa ra vào, thuyền bè đi lại, quán khách nhà trọ, vật giá cao thấp, cùng những mối lợi về bách cốc, lục súc, sơn dầu, cửa bể, khoáng sản, tảo tác và các việc tiêu dùng, hết thảy đều phải ghi chép rơ ràng, để biết rơ được sự thịnh suy, lợi hại".  Về chính trị, Nguyễn trường Tộ chủ trương thuyết "quốc dân nhất thể": "Nước cũng như cơ thể, một bộ phận bị đau th́ cả cơ thể v́ thế mà không yên" - "Quốc gia với nhân dân như huyết mạch trong thân thể con người.  Nếu có sự đ́nh trệ, không lưu thông, th́ tất nhiên sinh ra bệnh tật".  Quốc và dân đă nhất thể, th́ quốc và dân phải đối xử với nhau cho có t́nh.  T́nh, theo quan niệm của nguyễn trường Tộ, rất là cần thiết cho phép trị nước: "Trị nước phải làm cho t́nh được thông.  T́nh là cái sẵn có của dân" "T́nh là cái khí ḥa hoăn.  Nếu trên dưới không quạt cho nhau cái khí ḥa hoăn để đón lấy hạnh phúc, mà chỉ đem sự sát phạt ra để đối xử với nhau, th́ chỉ càng ngày càng xơ xác mà thôi".  Thuyết "Quốc dân nhất thể" "thượng hạ tinh thông" của Nguyễn trường Tộ phảng phất có cái ǵ giống thuyết hữu cơ thể xă hội (organisme sociale) của nhà học giả tư sản Anh là Spen-xơ (Spencer) nhằm ḥa hoăn sự xung đột giữa các giai cấp xă hội, làm cho các giai cấp xă hội cộng tác với nhau đặng làm cho chế độ tư sản phồn thịnh, vững vàng.  Thời Nguyễn trường Tộ là thời chữ Hán được đưa lên địa vị độc tôn và là văn tự chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam.  Nguyễn trường Tộ nh́n thấy những bất tiện của việc dùng chữ Hán là văn tự của dân tộc, ông đă viết: "Nếu một người nói ra một câu, lại phải nhờ một người khác dịch ra tức là một người nước khác rồi.  Một nước Nam ta mà có hai thứ âm thoại, hai thứ văn tự, chẳng hóa ra một nước mà ngăn ra hai thứ người hay sao?", "chữ ḿnh học đă không phải chính âm của trung Hoa, mà cũng không phải âm thoại của ta, khi đi học phải dùng mục lục để xem tự hoạch, lại phải dùng tâm trí đe6? nhớ lấy các tiếng lạ, c̣n âm vận th́ chỉ người có học biết lấy mà thôi, chứ người không học nghe đến chẳng khác ǵ nghe giọng quạ kêu, chim hót". "Những người thông minh ở nước ta đua nhau học chữ Hán, đương lúc trai tráng, không biết làm ǵ để lập công nghiệp mà cứ hao công đèn sách, cặm cụi suốt năm h́nh như muốn học để làm người Trung-quốc, nhưng đem tiếng ấy nói với người trung-quốc, họ không thể hiểu, mà nói với dân ngu họ cũng không biết ǵ.  Một tờ trát văn, cắt nghĩa mỗi người một khác, một chữ trong sách luật có thể thay đổi tội t́nh, đơn khai từ tụng, thường bị các thày c̣ múa bút nói sai, dân gian khai báo không kể được sự t́nh phiền phức.  Vả lại khi nhà nước truyền xuống một lệnh ǵ, phải có người văn nhân cắt nghĩa cho b́nh dân nghe, nhưng có khi họ cắt nghĩa không rơ ràng hoặc viện dẫn xuyên tạc, cho nên bọn dân đen không hiểu được ư tứ của triều đ́nh, tất nhiên là bị sai lầm".  Rồi Nguyễn-trường-Tộ đề nghị triều đ́nh cải cách văn tự, hay nói đúnh hơn, sáng tạo ra một thứ văn tự để làm văn tự chính thức của dân tộc: "Nay xin lấy chữ Hán làm mẫu, lựa chữ nào tiếng đă hợp với tiếng ta, th́ cứ đọc theo quốc âm, không phải đọi giảng nghĩa, c̣n chữ nào tương tự với tiếng ta, th́ cứ đánh dấu vào một bên để đọc theo quốc âm.  Lại xin đem chữ đó chia ra từng loại, đặt một quyển tự vị ban khắp các nha môn và các học đường, để người ra học tập được tiện lợi.  Bất cứ người nào hễ viết một tờ giấy việc quan hay là việc riêng, cũng phải theo thứ chữ của nhà nước ban bố, chứ không được thay đổi...Ta chỉ dùng chữ Hán mà đọc ra tiếng ta, không cần phải học nghĩa.  Ví dụ hai chữ "thực phạn" th́ cứ đọc là "ăn cơm" để thay cho hai chữ "thực phạn", như vậy không lẽ ǵ cho "thực phạn" quư hơn "ăn cơm"...Nếu ta đem chữ Hán mà đọc ra tiếng ta, th́ mỗi người đọc ra, mọi người có thể hiểu được, chắc là sẽ bớt được những sự phiền phức vô số".

 

   Nguyễn-trường-Tộ nhận rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh "có nhiều tài trí, học giỏi về cơ xảo, lại có tính muốn học sự hay của người".  Nhưng người Việt Nam lại ở tŕnh độ văn hóa thấp, là v́ nền giáo dục của Việt Nam là nền giáo dục chỉ chú trọng những điều không thiết thực: "Thuở bé học những tỉnh Sơn-đông, Sơn-tây mắt chưa hề trông thấy, lớn lên lại làm những việc ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ mà chân thường đi tới; thuở bé học những thiên văn, địa lư, chính trị, phong tục của trung-hoa hiện nay đă thay đổi đi rồi, mà lớn lên làm những việc thiên văn, địa lư, chính trị, phong tục của nước Nam, mỗi nơi một khác:thuở bé ho,c những việc về lễ nhạc, yến tiệc, cư xử, chiến tranh trong thời quá khứ ở Trung-hoa, mà lớn lên th́ làm những việc về lễ nhạc, yến tiệc, cư xử, chiến tranh ở nước Nam hiện đại".

 

   Những đề nghị cải cách kể trên của Nguyễn-trường-Tộ biểu thị rằng Nguyễn là một nhân sĩ phong kiến tiến bộ, muốn cho nước Việt Nam giàu mạnh và có một nền văn hóa dân tộc.  Những đề nghị cải cách của ông, nếu được thi hành tất có tác dụng thúc đẩy nước Việt Nam đi vào con đường tư sản hóa như nước Nhật Bản hồi nửa cuối thế kỷ XIX vậy.  Xét toàn bộ các đề nghị cải cách nói trên, chúng ta thấy rằng đồng thời với Nguyễn-trường-Tộ trong giai cấp phong kiến Việt Nam c̣n có những phần tử như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ ...cũng từng đua ra những đề nghị cải cách ít nhiều giống như những đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ.  Sau khi đi sứ sang một vài nước ở châu Âu, Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ cũng từng khuyên triều đ́nh Huế phải điều đ́nh với thực dân Pháp, và phải cho người ra ngoại quốc học phép phú quốc cường binh của người phương Tây.   Ngoài ra, Đinh -văn-Điền người ở Ninh-b́nh, và Bùi-Viện người ở Thái-b́nh cũng từng đề nghị triều đ́nh Huế thi hành các cải cách để làm cho nước giầu dân mạnh.  Nguyễn-trường-Tộ chỉ khác Phan-thanh-Giản, Phạm-phú-Thứ, Đinh-văn-Điền, Bùi-Viện ở chỗ các điều trần của ông có vẻ thiết tha hơn và toàn diện hơn.  Đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là đề nghị của những nhân vật đang sống ở nơi tối tăm khi đi ra nước ngoài được chứng kiến những cái mới lạ của nền văn minh tư sản vào lúc nền văn minh này ở thời kỳ thịnh trị.  Hồi nửa đầu thế kỷ XIX ở Nhật Bản người ta đă thấy một trường hợp tương tự như trường hợp của Nguyễn-trường-Tộ ở Việt Nam.  Cao-dă Trường-Anh (Takano Choei) là một người Nhật sáng suốt đă sớm biết nền văn minh tư sản châu Âu.  Ông đă học tiếng Hà-lan và làm nghề thầy thuốc của người châu Âu.  Năm 1838, khi một chiếc tầu Anh đến U-ra-ga làm cho cả nước Nhật xôn xao, th́ Cao-dă trường-Anh cho xuất bản quyển Chuyện một giấc mộng miêu tả tỉ mỉ nền văn minh tư sản ở châu Âu, và bài bác thái độ cổ hủ của bọn chúa phong kiến trên các đảo Nhật-bản.  Tức giận, bọn chúa phong kiến bắt Cao-dă trường-Anh và kết ông vào tội tù chung thân.  Ở tù được ba năm,, Cao-dă Trường-Anh trốn ra khỏi nhà tù rồi làm công tác phiên dịch cho tên chúa phong kiến ở Vũ-ḥa đảo.  Năm 1844, Cao đổi tên họ rồi trở về Giang-hộ (Edo) làm việc dịch các sách ở châu Âu ra tiếng Nhật.  Bọn chúa phong kiến ḍ ra tung tic'h Cao, cho lính đến bắt ông.  Cao chống cự lại rất hăng, nhưng cuối cùng ông phải tự tử sau khi giết chết hai tên lính của bọn chúa phong kiến.  Cao-dă Trường-Anh chỉ khác Nguyễn-trường-Tộ ở chỗ Cao hô hào, vận động công việc tư sản hóa ở nước Nhật, khi giai cấp tư sản Nhật đă ra đời và đă bắt đầu có lực lượng.   Chính v́ vậy, cho nên sau khi Cao tự tử, th́ phong trào đấu tranh của tầng lớp phú thương Nhật và tầng lớp đại-my-ô (Daimyo) chống chế độ áp bức, bóc lột của bọn chúa phong kiến lại càng mạnh mẽ, và cuối cùng làm bùng nổ ra cuộc vận động tôn vương đảo Mạc (tôn Nhật hoàng đánh đổ Mạc phủ Đức-xuyên).  C̣n ở Việt Nam, Nguyễn-trường-Tộ cũng hô hào, vận động duy tân, nhưng ông  hô hào, vận động duy tân, trong lúc giai cấp tư sản Việt Nam chưa đủ điều kiện h́nh thành.  V́ vậy, Nguyễn-trường-Tộ tốn nhiều công sức mà không đạt được kết quả nào.  Bọn Vua quan triều Nguyễn là bọn hủ bại, thiển cận, tự cao tự đại một cách ngu si.  Đó là điều mà hết thảy mọi người đều biết cả.  Nhưng bọn vua quan nhà Nguyễn là đại biểu của giai cấp phong kiến, chúng chống lại các đề nghị cải cách nhằm tư sản hóa nước Việt Nam, th́ có ǵ là lạ?  Ở Nhật-bản hồi đầu nửa đầu thế kỷ XIX, bọn chúa phong kiến ở các địa phương và bọn Mạc-phủ Đức-xuyên chẳng chống lại các cải cách nhằm tư sản hóa nước Nhật-bản đấy ư?  Cao-dă Trường-Anh người lính tiên phong tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản ở Nhật chẳng bị tù chung thân, và cuối cùng phải tự tử đấy ư?  Cao-dă Trường-Anh chết, nhưng cuối cùng Mạc-phủ Đức-xuyên bị đánh đổ và các thế lực phong kiến phải rút lui, để cho nước Nhật-bản đi vào con đường tư bản chủ nghĩa.  Nước Nhật-bản đi vào con đường tư bản chủ nghĩa không phải tại vua Minh-Trị yêu cải cách hơn Tự-Đức, mà chủ yếu là v́ ở nước Nhật hồi thế kỷ thứ XIX, giai cấp tư sản đă ra đời và đă có lực lượng ở trường chính trị và trường kinh tế.  Ở Việt-Nam trong thời Nguyễn-trường-Tộ, t́nh h́nh lại hoàn toàn khác hẳn.  Trong thời gian này, giai cấp tư sản vắng mặt trên vũ đài chính trị và kinh tế.  Bao nhiêu quyền lực về chính trị, kinh tế, văn hóa đều tập trung vào triều đ́nh Huế bảo thủ và cực kỳ cận thị.  Lời kêu gọi của Nguyễn-trường-Tộ sở dĩ thành lời kêu gọi trong băi sa mạc chủ yếu là v́ ở sau lưng Nguyễn-trường-Tộ không có một lực lượng xă hội tiến bộ ủng hộ cho các đề nghị cải cách của ông.  Nguyễn là một nhân vật khai minh của giai cấp phong kiến.  Trong khi giai cấp ông tỏ ra hoàn toàn mù quáng và phản động, th́ chỉ có ông và một vài người nữa là có đủ sự sáng suốt và đủ sự can đảm để đưa ra một loạt những đề nghị cải cách, nếu được thực hiện, th́ có khả năng đưa nước Việt-Nam đi vào con đường tư bản chủ nghĩa.

 

   Nguyễn-trường-Tộ là nhân sĩ khai minh, nhưng chủ trương của ông về căn bản lại là chủ trương không tưởng.  Ông muốn cho nước Việt Nam Âu hóa, nhưng ông không biết rằng nước Việt Nam chỉ có thể Âu hóa khi nó có một cơ sở kinh tế và xă hội khả dĩ cho phép nó tiếp thu những đề nghị cải cách của ông.  Nguyễn-trường-Tộ kém Cao-dă Trường-Anh ở chỗ ông không nh́n thấy thực trạng của xă hội Việt Nam, và không t́m thấy một lực lượng xă hội tiến bộ sẵn sàng làm hậu thuẫn cho những đền nghị cải cách của ông.  Không phải đến năm 1871, t́nh h́nh nước Việt Nam mới đ̣i những cải cách cần thiết.  Cuộc khủng khoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt-Nam hồi thế kỷ XVIII đă cho mọi người thấy rằng xă hội cần phải vươn ḿnh tiến sang một chế độ mới, th́ đất nước mới giàu mạnh vững vàng.   Phong tào Tây-sơn vừa hé cho chúng ta con đường phải đi lên, th́ giai cấp phong kiến phản động do Nguyễn-phúc-Ánh đứng đầu lại trỗi dậy kéo nước Việt-Nam trở lại t́nh trạng tối tăm và khủng khoảng trầm trọng hơn hồi thế kỷ XVIII.  Trong thời gian từ thế kỷ XVIII đến hết nửa đầu thế kỷ XIX, xă hội Việt-Nam, nói chung, là xă hội cần cải cách.  Nhưng đến khi thực dân Pháp bắt đầu thi hành chính sách xâm lược, nhất là sau khi thực dân Pháp đă đánh chiếm sáu tỉnh Nam kỳ và tích cực tiến hành âm mưu đánh chiếm Bắc-kỳ và Trung-kỳ, th́ vấn đề đặt ra trước dân tộc Việt Nam - mà đây là vấn đề bức thiết như nước sôi lửa bỏng - không phải là vấn đề thi hành những cải cách để tư sản hóa nước Việt Nam, mà là vấn đề tập trung tất cả mọi lực lượng của dân tộc để đánh giặc cứu nước.  Vấn đề đánh giặc cứu nước, cứu dân tộc phải đặt lên trên lợi ích của gia cấp, đó là vấn đề duy nhất phải đặt ra và cấp tốc giải quyết trong dân tộc Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đă đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ.  Đây là nhiệm vụ phải đặt lên trên tất cả các nhiệm vụ khác.  Không thi hành được nhiệm vụ chủ chốt đó, th́ nước sẽ mất.  Và nước đă mất th́ đừng có nói đến thi hành cải cách này hay cải cách khác.

 

   Triều đ́nh Huế khi khước từ các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ chủ yếu là v́ họ phản động, ngu dốt, tối tăm.  Họ gạt bỏ các đề nghị cải cách của Nguyễn, nhưng rồi họ lại ngoan ngoăn cúi đầu dâng đất nước cho giặc.   Trước lịch sử, tội lỗi của chúng là ở đấy.  Nhưng giả sử các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ được thi hành, th́ việc đó không những không cứu được nước Việt Nam, mà trái lại chỉ tạo điều kiện làm cho nước Việt Nam chóng mất.  Như bên trên chúng tôi đă từng nói, nhiệm vụ cấp bách của nước Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ, là phải tập hợp mọi lực lượng dân tộc để đánh giặc cứu nước.  Ngoài nghiệm vụ này không có nhiệm vụ nào khả dĩ cứu được nước Việt-Nam.   Dă tâm của thực dân Pháp sau khi chúng đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ là dă tâm của một bầy hổ đói.  Ḥa với chúng là mù quáng và dại dột.  Năm 1861, sau khi đồn Kỳ-ḥa thất thủ, Nguyễn-bá-Nghi khuyên triều đ́nh Huế phải tạm ḥa với thực dân Pháp.  Thực ra từ năm 1856 khi đại bác của chiến hạm Ca-ti-na (Catinat) bắn vào các đồn lũy ở cử bể Đà Nẵng cho đến năm 1884, đối với thực dân Pháp, chính sách của triều đ́nh Huế lúc nào cũng là chính sách "ḥa" liên tiếp trước một kẻ địch lúc nào cũng sẵn sàng dùng vơ lực để tấn công.  Triều đ́nh Huế muốn "ḥa", nhưng thực dân Pháp lại muốn "chiến" để xâm chiếm cho kỳ hết nước Việt-Nam.  Các cuộc tấn công của thực dân Pháp từ năm 1858 đến năm 1884 đều nằm trong một kế hoạch đă được nghiên cứu từ lâu.  Sau mấy phát đại bác bắn vào Đà Nẵng để thăm ḍ lực lượng, thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam-kỳ, sau khi ngồi vững ở ba tỉnh miền Đông, chúng tiến lên một bước nữa đánh chiếm ba tỉnh miền Tây; làm chủ sáu tỉnh Nam-kỳ rồi, chúng mới tính đến việc đánh Bắ-kỳ và Trung-kỳ.   V́ chính sách của thực dân là chính sách "chiến", cho nên triều đ́nh Huế cố "ḥa" mà vẫn không "ḥa" được.  Năm 1882 khi thấy Hăng-ri Ri-vi-e đem quân ra Hà Nội, Hoàng Diệu một mặt cho pḥng thủ Hà-nội, một mặt khác xin triều đ́nh gửi viện binh ra Bắc, th́ Tự Đức đă hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu là đă "đem binh dọa giặc" và "chế ngự sai đường".  Tư tưởng "ḥa" - thực chất là đầu hàng - là tư tưởng chủ đạo của triều đ́nh Huế, như vậy th́ việc ǵ Nguyễn-trường-Tộ c̣n phải khuyên triều đ́nh tạm ḥa với Pháp nữa?  Triều đ́nh Huế không những muốn tạm "ḥa", mà c̣n muốn "ḥa" vĩnh viễn với Pháp để có thể cứu văn được đôi chút cơm thừa canh cặn, nhưng khốn nỗi thực dân Pháp lại cứ một mực "chiến" măi cho đến khi chiếm hết được nước Việt Nam mới thôi.  Khi biên thư cho Nguyễn-bá-Nghi khuyên triều đ́nh Huế phải tạm ḥa với Pháp, Nguyễn-trường-Tộ tỏ ra không những không hiểu triều đ́nh Huế, mà c̣n tỏ ra không hiểu cả thực dân Pháp nữa.  Khi đưa ra những đề nghị cải cách về công nghiệp, Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận rằng nhân dân Việt Nam phải làm ăn chung đụng mười năm với người Âu, th́ "tài nghệ" người Việt-Nam mới bằng người Âu.  Những cải cách của Nguyễn-trường-Tộ chỉ có thể thi hành được khi nước Việt-Nam có một khoảng thời gian rảnh tay chừng trên dưới mười năm (theo Nguyễn-trường-Tộ).  Nhưng khốn nỗi thực dân Pháp có để cho triều đ́nh Huế nghỉ ngơi để thi hành các cải cách đâu.  Chính sách của thực dân Pháp là chính sách tàm thực, đánh chiếm hết nơi nọ lại đánh chiếm đến nơi kia, như vậy th́ các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ nếu được triều đ́nh Huế chấp nhận cũng không có th́ giờ để thi hành.  Nhưng giả sử các đề nghị ấy được thi hành, th́ kết quả cũng không phải làm cho nước Việt Nam giàu mạnh, tư sản hóa như Nguyễn-trường-Tộ mong muốn đâu, mà trái lại lại tạo điều kiện cho thực dân Pháp dễ dàng tiến hành xâm chiếm nhanh chóng Bắc-kỳ và trung-kỳ.  Thật vậy, trong điều kiện đă mất sáu tỉnh Nam-kỳ, muốn thi hành các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ, triều đ́nh Huế không thể không trông vào sự "giúp đỡ" của thực dân Pháp.  Chính Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận thấy rằng nhờ sự "giúp đỡ" của thực dân Pháp là một tất yếu trong công cuộc cải cách nước Việt-Nam nhằm đưa nước Việt-Nam vào con đường tư bản chủ nghĩa.   Nguyễn đă từng khuyên triều đ́nh Huế nhờ các Hội kinh doanh ngoại quốc của giai cấp tư sản Pháp làm các công cuộc như t́m mỏ, khai mỏ, xây dựng cửa bể, dựng nhà máy v..v... Các Hội kinh doanh ngoại quốc mà Nguyễn-trường-Tộ muốn nhờ cậy đấy là ai, nếu không phải là các tổ chức thực dân chuyên chỉ huy và phát động các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa?  Nếu chúng ta biết rằng trong chính sách xâm lược hồi thế kỷ XVII công ty thương nghiệp Đông Ấn-độ đă đóng một vai tṛ quan trọng, th́ chúng ta thấy rằng giao các công việc t́m mỏ, khai mỏ, xây dựng cửa bể, nhà máy cho các Hội kinh doanh ngoại quốc nói trên khác nào giao vận mệnh của Tổ quốc cho bọn trùm kẻ cướp?  Ở thời đại ông, Nguyễn-trường-Tộ chỉ nh́n những Hội kinh doanh là những tổ chức thương nghiệp hoặc công nghiệp, ông chưa đủ sáng suốt, và kinh nghiệm để khám phá ra rằng các Hội kinh doanh ấy chỉ là các tổ chức xâm chiếm thuộc địa dấu tên mà thôi.  Như chúng ta đều biết, Nguyễn-trường-Tộ là một tín đồ Thiên chúa giáo, bản thân ông đă được các giáo sĩ giáo dục và giúp đơ rất nhiều.  Không có giám mục Gô-chi-ê, Nguyễn-trường-Tộ không làm ǵ có cơ hội biết nước Pháp hay biết các nước khác ở châu Âu.  V́ lẽ đó, Nguyễn rất tin các giáo sĩ, nhất là giáo sĩ Pháp.  Chính ông đă đề nghị triều đ́nh "cho phép các giáo hội Tây phương cứ tới nước ḿnh mà lập hội cứu tế".  Không những thế, ông c̣n xin "nhà nước nên cho phép mỗi tỉnh lập ra một viện dục anh, giao cho một ông giám mục quản cố" nữa.  Những đề nghị này cộng với những đề nghị trông nhờ vào các Hội kinh doanh ngoại quốc để phát triển kinh tế, nếu được thi hành, sẽ mở cửa nước Việt-Nam cho người Pháp kéo vào nắm giữ các hoạt động kinh tế, văn hóa và xă hội của nước Việt Nam.  Lúc này như chúng ta đều biết là lúc thực dân Pháp đă đánh chiếm xong sáu tỉnh Nam-kỳ và đang ngấp nghé Bắc-kỳ và Trung-kỳ.  Ai có thể bảo đảm rằng những người Pháp hay người Âu làm ở các ngành kinh tế, văn hóa và xă hội kia lại không ngấm ngầm làm cả cái việc mà ta gọi là gián điệp nữa?  Giăng Đuy-Puy (Jean Dupuis) chỉ là một tên lái buôn, nhưng trong việc thực dân Pháp đánh chiếm Bắc-kỳ năm 1873, Giăng Đuy-Puy đă giữ một vai tṛ quan trọng.  Ta có thể nói chính đích thân Đuy-puy đă gây ra việc đánh Bắc-kỳ năm 1873.  Và cũng chính Đuy-puy là kẻ xúi dục tên Tạ-văn-Phụng  đánh lại triều đ́nh nhà Nguyễn.  Nhuyễn-trường-Tộ không những không tưởng ở toàn bộ các đề nghị cải cách của ông, mà ông c̣n không tưởng ở từng điểm trong các đề nghị cải cách nữa.  Trong bức thư viết cho Trần-tiễn-Thành, Nguyễn-trường-Tộ khuyên Trần-tiễn-Thành giao thiệp với người Anh để lợi dụng người Anh chống lại người Pháp.  Khi ở Gia-định, Nguyễn-trường-Tộ đă đến thăm viên lănh sự Tây-ban-nha, và định lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Tây-ban-nha và thực dân Pháp.  Đây là một thủ đoạn quỷ quyệt mà các nhà ngoại giao tư sản thường dùng.  Nhưng đối với triều đ́nh nhà Nguyễn, sau khi thực dân Pháp đă đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ, th́ việc vận dụng thủ đoạn trên lại không dễ mà thi hành được.  Người Việt-Nam biết hoạt động ở trường ngoại giao, th́ thực dân Pháp c̣n có đầy đủ điều kiện để hoạt động ở trường ngoại giao bằng mười ta.  Thực dân Pháp lại có phương tiện hơn ta để lung lạc người Anh hay người Tây-ban-nha.  Người Anh hay người Tây-ban-nha mà Nguyễn-trường-Tộ định lợi dụng cũng chỉ là bọn thực dân như thực dân Pháp, họ cũng quỷ quyệt, tham lam và cũng đang thèm muốn thuộc địa.  Lợi dụng họ không được trong nhiều trường hợp là mở đường cho họ lợi dụng ḿnh.  Nguyễn-phúc-Ánh đă lợi dụng thực dân Pháp để đánh nhà Tây-sơn, nhưng Nguyễn-phúc-Ánh có ngờ đâu rằng kẻ đánh triều đ́nh nhà Nguyễn để cướp nước Việt-Nam không phải là nông dân, mà lại là thực dân Pháp?  Hồi thế kỷ XIX, giữa thực dân Pháp và triều đ́nh Măn Thanh rơ ràng là có mâu thuẫn sâu sắc, và mâu thuẫn này đă bùng nổ ra cuộc chiến tranh giữa thực dân Pháp và triều đ́nh Măn Thanh, cho nên năm 1882, triều đ́nh Măn Thanh đă cho Tạ-kinh-Bưu và Đường-cảnh-Tăng đem quân sang Việt-Nam; quân Măn Thanh và quân Pháp đă đánh nhau mấy trận ở Bắc-kỳ.  Triều đ́nh Huế quả đă biết khai thác mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và triều đ́nh Măn Thanh.  Nhưng đến năm 1885, sau khi Pa-tơ-nốt (Patenôtre) kư với Lư-hồng-Chương ḥa ước Thiên-tân, th́ triều đ́nh Măn Thanh công nhiên thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên đất Việt-Nam, và ra lệnh cho quân Măn Thanh đóng ở Việt-Nam rút về Trung-quốc.  Trong việc này chúng ta thấy kẻ lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và triều đ́nh Măn Thanh là triều đ́nh Huế, nhưng kẻ thiệt tḥi nhất trong việc này cũng lại là triều đ́nh Huế.  Đủ hiểu khéo léo về ngoại giao đương nhiên là cần, nhưng khéo léo mà không có lực lượng làm hậu thuẫn cho chính sách của ḿnh, th́ khéo léo vẫn không mang lại kết quả ǵ.  Thủ đoạn lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh và Pháp, v́ vậy, không phải dễ thi hành.  Thủ đoạn này khác nào con dao hai lưỡi không khéo dùng th́ nó quay lại làm hại ngay chính bản thân ḿnh.  Như bên trên đă nói, Nguyễn-trường-Tộ là người tin các giáo sĩ phương Tây, chính ông đă khuyên triều đ́nh Huế giao công việc cứu tế xă hội cho các giáo sĩ phương Tây.  Nhưng trong t́nh h́nh nước Việt-Nam đang bị thực dân Pháp xâm lược, triều đ́nh Huế làm sao có thể tin các giáo sĩ phương Tây trong đó có các giáo sĩ Pháp được?  Trong số các giáo sĩ phương Tây sang hoạt động ở Việt-Nam hồi thế kỷ XIX, đương nhiên là có những người thực tâm v́ đạo, nhưng cũng không ít kẻ đội lốt tôn giáo để làm việc do thám cho thực dân Pháp.  Lịch sử Việt-Nam đă chứng minh rơ ràng như thế,  Đề nghị của Nguyễn-trường-Tộ dựa vào các giáo sĩ phương Tây để tiến hành các công tác cứu tế xă hội, v́ vậy, không phải là một đề nghị có cơ sở thực tế để thi hành được.

 

   Về chính trị như đă tŕnh bày, Nguyễn-trường-Tộ chủ trương thuyết "Quốc dân nhất thể" "Thượng hạ tinh thông" phảng phất như thuyết hữu cơ thể xă hội của Spen-xơ.  Thuyết này nhằm điều ḥa mâu thuẫn giữa các giai cấp xă hội, ở thời Nguyễn-trường-Tộ, th́ đó là một chủ trương tiến bộ.  Nh́n t́nh h́nh các giai cấp trong xă hội Việt-Nam hồi thế kỷ XIX, Nguyễn-trường-Tộ đă nh́n thấy "quốc chính rất là xa kẻ dưới, mà kẻ dưới th́ kiếm cách che dấu lừa dối kẻ trên", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn", nhiều người giữ thái độ bàng quan chủ nghĩa "nước mặc nước, ta mặc ta, hờ hững thờ ơ, không can thiệp ǵ".  Tại sao "kẻ trên kẻ dưới" lại ở vào cái thế "như cái mâu cái thuẫn"?  Tại sao trong nước lại có nhiều người giữ thái độ thờ ơ "nước mặc nước, ta mặc ta"?  Nguyễn-trường-Tộ cho rằng sở dĩ xă hội có t́nh trạng trên là v́ "đạo học không thuần túy, tâm thuật không duy nhất, thế liên hợp không có, danh vị không được coi trọng".  Nhưng tại sao đạo học lại không thuần túỷ tâm thạt lại không duy nhất? Thế liên hợp lại không có? Danh vị lại không được coi trọng?  Vấn dề này mới là then chốt của tất cả các vấn đề đưa ra trong các đề nghị cải cách của nhà nhân sĩ yêu nước họ Nguyễn ở làng Bùi Chu.  Giải quyết được vấn đề này sẽ tạo điều kiện để giải quyết tất cả các vấn đề do t́nh trạng khủng khoảng của xă hội Việt-Nam hồi nửa sau thế kỷ XIX đề ra.  Nhưng ở các bản điều trần của ông, Nguyễn -trường-Tộ tỏ ra không nh́n thấy vấn đề ấy, và như vậy là v́ quan điểm của ông là quan điểm duy tâm của một tín đồ Thiên chúa giáo.  Đứng trên quan điểm duy tâm, Nguyễn-trường-Tộ không nh́n thấy nguyên nhân làm cho xă hội Việt-Nam hồi thế kỷ XIX sinh ra t́nh trạng "quốc chính rất là xa cách với kẻ dưới, mà kẻ dưới th́ kiếm cách che giấu lừa dối kẻ trên", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn", nhiều người giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta".  Nguyên nhân ấy tuyệt đối không phải là "đạo học không thuần túy" hay "tâm thuật không duy nhất", mà chính là bản thân chế độ phong kiến cực kỳ phản động do Gia-long và Minh-mệnh đă dựng ra, và Tự-đức thừa kế.  Chế độ phong kiến của nhà Nguyễn đă phá hoại nghiêm trọng sức sản xuất của xă hội, làm cho công nghiệp, thương nghiệp bị đ́nh đốn, nông nghiệp bị suy đồi, văn hóa và giáo dục bị đẩy vào con đường công thức chủ nghĩa.  Muốn đưa Việt-Nam ra khỏi t́nh trạng khủng khoảng hồi thế kỷ XIX, muốn tạo cho nước Việt-Nam đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, trước hết phải đánh đổ chế độ phong kiến phản động mà triều đ́nh nhà Nguyễn là kẻ đại biểu trung thành.   V́ quan điểm duy tâm, v́ cũng là nhân sĩ thuộc giai cấp phong kiến, Nguyễn-trường-Tộ không quan niện nổi sự cần thiết phải đánh đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn.  Nguyễn-trường-Tộ vẫn tin ở chế độ phong kiến, và ở chế độ quân chủ thần quyền.  Lập trường giai cấp phong kiến và quan điểm duy tâm của ông khiến cho ông rất tin ở chế độ quân chủ thần quyền: "Nhân quân đối với dân, thay trời mà chăn, thế trời mà làm", "thay quyền Tạo vật để chăn nuôi nhân dân".  Nhưng hồi thế kỷ XIX "đấng quân nhân" mà Nguyễn-trường-Tộ đề cao lại không hề làm cái việc "chăn nuôi nhân dân", mà thực ra chỉ ăn cướp của nhân dân mà thôi: ăn cướp gián tiếp bằng sưu cao thuế nặng, ăn cướp trực tiếp bằng quan tham lại nhũng, hối lộ công hành.  Những nhân quân như thế thực sự đă tách ra khỏi nhân dân, sống thù địch với nhân dân.  Đó là những kẻ thù của nhân dân.  Chính Nguyễn-trường-Tộ cũng nh́n thấy như thế một phần nào khi ông viết "quốc chính rất xa lạ với kẻ dưới", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt lẫn nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn".  Chúng tôi nói Nguyễn-trường-Tộ chỉ nh́n thấy t́nh trạng trên một phần, là v́ khi Nguyễn viết "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau", th́ ông vẫn có ư cho rằng người gây ra t́nh trạng ấy không những là trên, mà c̣n là người dưới nữa.  Nhưng thử hỏi giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, kẻ nào nuốt kẻ nào?   Ai cũng biết rằng kẻ có điều kiện để nuốt kẻ khác không phải là kẻ yếu, mà là kẻ mạnh tức bọn vua quan nhà Nguyễn và chân tay của chúng.  Lập trường giai cấp phong kiến của Nguyễn-trường-Tộ đă làm cho ông lẫn lộn thị phi, định gạt bớt tội lỗi của triều đ́nh Nguyễn sang kẻ yếu là nhân dân Việt-Nam hồi nửa cuối thế kỷ XIX.  Cũng do lập trường giai cấp phong kiến của ông, Nguyễn-trường-Tộ đă viết hồ đồ rằng xă hội có nhiều người giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta".  Nhưng hồi nửa cuối thế kỷ XIX, ai là kẻ giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta"?  Kẻ đó nhất định không phải là nhân dân Việt-Nam, mà chính là bọn "nhân quân" ở triều đ́nh quen cầu an hưởng lạc, chỉ biết vơ vét của nhân dân để ăn chơi cho sướng và để xây dựng điện, lăng tẩm, không quan tâm ǵ đến đời sống của nhân dân, không lo ǵ đến đánh giặc cứu nước.  Chính bọn "nhân quân" ở triều đ́nh đă để cho giặc đánh chiếm hết nơi này đến nơi khác và cuối cùng đă dâng cả đất nước cho giặc để cố cứu văn lấy chút cơm thừa canh cặn.   C̣n nhân dân Việt-Nam th́ không những không bao giờ giữ thái độ "nước mặc nước", mà c̣n luôn luôn chăm lo việc nước.  Khi triều đ́nh Huế đă kư "ḥa ước" sỉ nhục dâng sáu tỉnh Nam-kỳ cho giặc cũng như khi triều đ́nh kư "ḥa ước" sỉ nhục 1884 chịu sự bảo hộ của giặc, nhân dân Việt-Nam ở khắp Bắc, Trung, Nam vẫn không ngừng chiến đấu và làm cho giặc tổn thất nặng nề.  Lập trường giai cấp phong kiến khiến cho Nguyễn-trường-Tộ cố t́nh đề cao cái "đấng nhân quân " khi các "đấng nhân quân " ấy không những ở các nước tư sản châu Âu, mà ở cả nước Việt-Nam, đă mất hết uy tín trước nhân dân và trở thành chướng ngại vật cho tiến bộ của xă hội.

 

   Nguyễn-trường-Tộ là người khâm phục nền văn minh tư sản của các nước phương Tây, ông đă ca tụng pháp luật của các nước tư sản là những pháp luật lư tưởng.  Chính ông đă viết: "Các nước phương Tây lập pháp rất chặt chẽ, mà lại trở thành khoan dung, v́ rằng người người đều ở trong ṿng pháp luật, không thể lừa dối được, cho nên cũng không sinh ra sự lừa dối, trở lại thấy dễ chịu một cách bất tự giác mà cho rằng pháp luật là khoan dung".  Thật ra những pháp luật tư sản mà Nguyễn-trường-Tộ ca tụng có khoan dung và không lừa dối không?  Dĩ nhiên pháp luật tư sản có khoan dung, nhưng đó là khoan dung với bọn bóc lột, c̣n đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, th́ pháp luật tư sản rơ ràng là những công cụ áp bức rất dă man.  Khi Nguyễn-trường-Tộ viết những ḍng trên, nhân dân các nước tư sản phương Tây đă nh́n thấy tính chất áp bức của pháp luật tư sản, và đă đứng lên đấu tranh nhằm thủ tiêu những pháp luật ấy đă.  Công xă Pa-ri nổ ra ngày 18 tháng 3 năm 1871 đă nói lên rằng giai cấp công nhân Pháp không những đă thấy rằng pháp luật tư sản là lừa dối, mà c̣n thấy rằng toàn bộ bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản cũng là công cụ áp bức hết sức nặng nề đối với giai cấp công nhân.  Trong tập trần t́nh của ông, Nguyễn-trường-Tộ đă căn cứ vào t́nh h́nh đấu tranh giai cấp ở Pháp, và t́nh h́nh châu Âu mà đoán rằng nội chiến sẽ nổ ra ở Pháp, và chiến tranh sẽ có thể xẩy ra giữa Pháp và một nước khác ở châu Âu (nước Phổ).  Như vậy là chính bản thân Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận thấy rằng trong cái xă hội Pháp mà ông ca tụng cũng đang có cái ǵ là áp bức đối với nhân dân Pháp.  Nếu không, th́ tại sao Công-xă Pa-ri lại bùng ra?   Và, khi Nguyễn-trường-Tộ đă nh́n thấy Công-xă Pa-ri, th́ tại sao ông lại nói rằng pháp luật tư sản ở Pháp là "khoan dung", "không lừa dối"?   Nếu pháp luật tư sản quả là "khoan dung", "không lừa dối", th́ tại sao những pháp luật ấy đă đem hàng vạn công nhân Pháp (đă tham gia Công-xă Pa-ri) ra bắn chết rồi chôn vùi ở nghĩa địa Père Lachaise ở Pa-ri?

 

  Tóm lại, Nguyễn-trường-Tộ với các đề nghị cải cách của ông, nêu lên trong tập trần t́nh và các bản điều trần, là một nhân sĩ phong kiến khai minh.  Nguyễn là một nhân vật yêu nước muốn cho nước giàu dân mạnh.  Nguyễn đă tốn nhiều công sức viết các tập trần t́nh và các bản điều trần nhằm hô hào triều đ́nh nhà Nguyễn sớm duy tân tự cường.  Nhưng nghiên cứu kỹ các tập trần t́nh và các bản điều trần, chúng ta thấy các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là những đề nghị không xuất phát từ t́nh h́nh cụ thể của nước Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đă đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ và đang ráo riết tiến hành âm mưu đánh chiếm Bắc-kỳ và Trung-kỳ.  Sau một thời gian sống ở Pháp, Nguyễn-trường-Tộ quáng ḷa về nền văn minh tư sản, ông muốn lắp lại những cái mà ông thấy ở Pháp vào xă hội Việt-Nam đang lung lay muốn đổ.   Nhưng xă hội Việt-Nam hồi ấy lại chưa đủ co sở vật chất để tiếp thu những đề nghị cải cách của ông.  Các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là không tưởng, không thể thực hiện được.  Triều đ́nh nhà Nguyễn không thi hành các đề nghị của Nguyễn-trường-Tộ là v́ chúng là những kẻ phản động, bảo thủ một cách ngu si.  Nhưng giả sử những đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ được thi hành, th́ các cải cách của ông cũng không cứu được nước Việt-Nam khỏi nguy cơ mất nước, mà trái lại chỉ tạo điều kiện cho bọn thực dân xâm lược Pháp càng dễ dàng đánh chiếm nốt Bắc-kỳ và Trung-kỳ.  Do thái độ của triều đ́nh nhà Nguyễn, Bắc-kỳ và Trung-kỳ tất mất vào tay quân xâm lược Pháp, mặc dầu các cải cách của Nguyễn-trường-Tộ có được thi hành hay không.  Nhưng việc thi hành các đề nghị cải cách của Nguyễn sẽ làm cho thực dân Pháp dễ tiến hành âm mưu xâm lược của chúng hơn.  Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi cho rằng các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là cái bao đường để cho người ta nuốt trôi được viên thuốc đắng là sự mất nước.  Khi đưa ra các đề nghị cải cách, trong ư thức chủ quan, Nguyễn-trường-Tộ mong muốn cứu Tổ quốc ra khỏi t́nh trạng lạc hậu về kinh tế và văn hóa để do đó mà có thể làm cho Tổ quốc không bị mất vào tay bọn xâm lược Pháp.  Nhưng vấn đề của thời đại Nguyễn-trường-Tộ - thời đại thực dân Pháp đă và đang xâm lấn nước ta - lại không phải là vấn đề cải cách tập hợp lực lượng dân tộc để đánh giặc cứu nước. Đánh giặc cứu nước là vấn đề cấp bách phải đặt lên trên các nhiệm vụ khác. 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend