NHÂN DÂN VIỆT NAM.ORG
TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC TRONG NUỚC VÀ HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN QUYẾT TÂM
CÓ NGÀY VUI ĐẠI THẮNG VIỆT NAM III LÀ ĐẬP TAN ÂM MƯU DBHB CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, GIẢI TRỪ VÀ GIẢI HOẶC
GIẶC ÁO ĐEN VATICAN – GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊA – GIẶC TIN LÀNH

    Giới thiệu một số website:

   * Cong San
   * Nhan Dan
   * Cong An
   * Cong An N.D.
   * Quan Doi N.D
   * Lao Dong
   * Thanh Nien
   * Tuoi Tre
   * Saigon G, P.
   * VNA Net
   * Voice of V.N.
   * www.chuyenluan.com
   * www.duoctue.org
   * www.khuongviet.net
   * www.nguoivietyeunuoc.org
   * www.nguyentua.com
   * www.dongduongthoibao.net
   * www.dongduongthoibao.com
   * home.comcast.net/~charlieng


   

Vai Tṛ Của Petrus Key Trong Sứ Đoàn-Thông Ngôn-Nhà Báo


  Được đăng ảnh  

QUỐC KỲ VIỆT NAM : Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CACờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” BỊ TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ:Trên mạng www.cva646566.com/IRAQ/index. h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

VÀI NÉT VỀ “CỤ HỒ” Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới Chống Cộng Cực Đoan [CCCĐ] hay Chống Cộng Cho Chúa [CCCC], viết theo cảm tính thù hận Quốc Gia chống Cộng, hay Công Giáo chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết ǵ về Hồ Chí Minh th́ rất dễ, v́ muốn viết sao cũng được. Đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v..v.. nhằm “ám sát tư cách cá nhân” (character assassination), bằng những từ tục tĩu, hạ cấp v..v.. cho hả ḷng thù hận, th́ có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến tŕnh độ, và không cần đến liêm sỉ...

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN (KỲ I) & (KỲ II) Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris: Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở","lật lọng"…lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả...

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được.....

 

* VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ ANH MINH “CỤ DIỆM”: Chính Nghĩa Đệ I Việt Nam Cộng Ḥa

...Thành tích của ông trong thời Pháp thuộc không lấy ǵ làm sáng sủa, chưa kể ông thuộc ḍng họ ba đời làm Việt Gian. Thành tích “yêu nước” nổi bật nhất của ông là trong thời Pháp thuộc, khi làm Tri Phủ Ḥa Đa, ông đă dùng đèn cầy đốt hậu môn của những người yêu nước chống Pháp để tra khảo....

 

* VIỆT NAM MÁU LỮA QUÊ HƯƠNG TÔI: Hoành Linh Đỗ Mậu

* CUỘC CÁCH MẠNG 01-11-1963 - HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

* DỤ SỐ 10 – NGÀY 6/8/1950

* NGÔ Đ̀NH KHẢ LÀ AI?

* D̉NG HỌ BA ĐỜI LÀM VIỆT GIAN Ngô Đ́nh Thục

* NGHỈ G̀ VỀ HAI D̉NG HỌ THÔNG GIA Ở HUẾ

* BA CÁI CHẾT SAU NỬA THẾ KỶ

* Vụ Hà Thúc Kư Mưu Sát Ngô Đ́nh Diệm Năm 1957

* CẦN LAO CÔNG GIÁO....PHẤT CỜ PHẢN QUỐC PHỤC NGÔ

* MẠN ĐÀM NGUYỄN GIANG - BÙI TÍN - NGUYỄN XUÂN PHONG

* Bà Quả Phụ Trịnh Minh Thế Nói Chuyện... Ngô Đ́nh Diệm Giết Tướng Trịnh Minh Thế

* KHU BIỆT GIAM CHÍN HẦM....TAM ĐẠI VIỆT GIAN D̉NG HỌ NGÔ Đ̀NH

* TAM ĐẠI VIỆT GIAN NGÔ Đ̀NH DIỆM CÓ ĐỨA CON TRAI?

* KHẨU CUNG: PHAN QUANG ĐÔNG

* Vụ Hành Quyết Ông Ngô Đ́nh Cẩn 1964 Trịnh Quốc Thiên

* Sự Thật Sau Cái Chết Của Ông Ngô Đ́nh Cẩn

 

 

*************

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Tony Blair picture 1811810

Lê Hồng Phong

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử Những người muốn hạ bệ Hồ Chí Minh để vinh danh “chí sĩ” Ngô Đ́nh Diệm của họ nhân dịp 1/11 th́ hăy kiếm đọc cuốn “Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử” (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators) của Nigel Cawthorne, Barnes & Noble, NY, 2004,....

<> Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Đến Thăm Giáo Hoàng Bé-Nơ-Đít-To XVI

<> Việt Nam Sẵn Sàng Thả Tức Khắc Việt Gian Phản Loạn DBHB: Lư-Đài-Quân...Qua Mỹ

<> Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử

<> Nhà Nước Cách Mạng Việt Nam Sẽ Lấy Đất Nhiều Nhà Thờ Trả Lại Cho PGVN

<> Phật Giáo Việt Nam Đang Tiến Hành Lấy Lại Đất Những Nhà Thờ Xây Trên Đất Chùa

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu  

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

 Giuse Phạm Hữu Tạo  

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

* "BOM ÁP NHIỆT" DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Mỹ gọi kháng chiến quân Ả Rập tự chế bom giết quân Mỹ xâm lược là quân khủng bố Nhân loại và dân Ả Rập gọi Dương Nguyệt Ánh, canh cải bom áp nhiệt giết dân Ả Rập là ǵ nhỉ?....

 

* VIETNAM WHY DID WE GO? Việt Nam: V́ Sao Chúng Ta Đă Đi? (CHƯƠNG I - II - III) Sự đ̣i hỏi của họ đă được hỗ trợ bởi các yêu cầu tương tự từ Vatican muốn giúp Pháp ngăn chặn Việt Nam trở thành Cộng sản. Tuy vậy sau khi Pháp thất bại, và Cộng sản cầm quyền ở miền Bắc Việt Nam, Vatican và quân đội và các nhóm Ca-tô tại Capitol Hill, hồi phục lại các hoạt động của họ với mức độ quyết liệt hơn, và qua đó mà một chính sách cấp tiến mới rốt ráo đă được công thức hóa và thông qua. Chính sách mới thật trơ trẽn. Vatican và Hoa Kỳ đă đồng quyết định ngăn ngừa Nam Việt Nam tổ chức cuộc bầu cử như đă hứa theo Công bố Geneva.... Hoa Kỳ đă thay Pháp nhận nhiệm vụ quân sự tại Nam Việt Nam. Pháp đă đồng ư rút toàn bộ khỏi nước này, tuy vậy về mặt lư thuyết th́ Pháp c̣n ở lại Nam Việt Nam hai năm nữa..... (CHƯƠNG IV) - (CHƯƠNG V - VI - VII) - (CHƯƠNG VIII - IX) - (CHƯƠNG X - XI - XII) - (CHƯƠNG XIII - XIV)

 

* Nữ Anh Hùng Susanna Maiolo Của Thế Kỷ 21 Đánh Gục Giáo Hoàng Benedict XVI Một người phụ nữ “đơn thương độc mă” kéo ngă một giáo hoàng và làm Hồng y Roger Etchegaray, người vừa tham dự dịp lễ khai mạc năm thánh của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam hôm 24-11 vừa qua, cùng ngă và bị gẫy xương đùi dù cho Giáo hoàng được các hồng y và linh mục phụ tế cùng nhiều vệ sĩ bảo vệ hộ tống. Điều này nói lên được “Chúa quan pḥng” chỉ là một cách nói để tạo ra một thứ mầu nhiệm không thật, để xây dựng một h́nh ảnh mang màu sắc huyền bí mà thôi....

 

* DẸP BẠO LOẠN Ở QUỲNH LƯU ..ông Phan Quan Đông, người chỉ huy một cơ quan T́nh Báo Tối Mật của Quốc Gia, với những Điệp Vụ phía Bắc vĩ tuyến 17....một bông Hồng hiếm quư của T́nh Báo miền Nam....Đạo diễn chính vụ nhân dân Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An nổi dậy chống chính quyền Miền Bắc vào năm 1956 là một thí dụ điển h́nh công tác và nhiệm vụ của cơ quan này....( tr 6 – tr 7 Liên Thành Biến Động Miền Trung)

 

* SỰ NGHI NGỜ TẤT YẾU Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma kư hôm 14-9-2009 dường như đă làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng...

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

* Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Sài G̣n Cao Văn Viên: Lời Thú Nhận Muộn Màng Cao Văn Viên viết: Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng… Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm t́nh với ḷng thành…”. ...đọc tiếp

* SADDAM HUSSEIN HAY TRỤC MA QUỶ BUSH CON-TONY BLAIR-JOHN HOWARD AI BỊ TREO CỔ? Không ǵ kịch tính hơn lúc vị chánh án tuyên án tử h́nh, Saddam tức giận lên án ông này cùng cả ṭa án là tay chân của những kẻ chiếm đóng, kẻ thù của Iraq và Ngài Saddam Uy Dũng hùng hồn bất khuất, hiệu triêu nhân dân và kháng chiến quân Iraq rằng:

 

* “Tôi đă dành cả đời chiến đấu với những kẻ ngoại xâm”

* “ Tôi hủy hoại những kẻ xâm lược và người Ba tư và tôi hủy hoại kẻ thù của Iraq….và tôi biến Iraq từ nghèo khó thành giàu có”

* “Đây là kết thúc của tôi…đây là kết thúc của cuộc đời tôi. Nhưng tôi bắt đầu cuộc đời ḿnh như một người chiến đấu và một dân quân chính trị - v́ vậy cái chết không làm tôi sợ”Click đọc: VĨ NHÂN TỔNG THỐNG SADDAM HUESSEN....LĂNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN QUÂN IRAQ

 

* CHÍNH PHỦ MỸ ĐĂ TIẾN HÀNH VỤ TẤN CÔNG 11/9?

5 năm sau vụ tấn công khủng bố 11/9, nhiều người vẫn nghi ngờ nguyên nhân dẫn tới sụp đổ toà Tháp đôi mà Uỷ ban điều tra 11/9 của Mỹ đưa ra. Họ cho rằng Trung tâm thương mại thế giới đă bị chính chính phủ Mỹ đánh sập bằng bom gài từ bên trong toà nhà....

 

* Những Lập Luận Trái Chiều Về Vụ 11/9 Ngay sau khi vụ hai toà nhà ở Trung tâm Thương mại thế giới bị phá sập vào ngày11/9/2001, đă có nhiều ư kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thật của vụ khủng bố mà chính quyền Mỹ cho là của tổ chức Al-Qaeda chủ mưu. Một vụ khủng bố lớn đă có tác động đến cục diện chính trị của nhiều quốc gia…v́ thế không ít ư kiến cho rằng, đây là “sản phẩm” của CIA, nhằm tạo cớ cho Mỹ tấn công Afghanistan

 

* QUYẾT ĐỊNH ĐỊNH PHI LƯ BẤT CHẤP ĐẠO LƯ Thật trớ trêu, chưa đầy một tuần sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo t́nh h́nh nhân quyền ở 190 nước năm 2008, phê phán hàng loạt nước, bao gồm cả Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, th́ Ṭa án tối cao Mỹ lại ra một quyết định xâm phạm một trong những quyền cơ bản nhất của con người – quyền được công lư bảo vệ....

 

 

 

 

 

Vai Tṛ Của Petrus Key Trong Sứ Đoàn-Thông Ngôn-Nhà Báo

 

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu

 

 

Petrus Key và Sứ Đoàn Phan Thanh Giản (1863-1864)

 

          Trong tâm bút Paris: Xuân 1996, tôi c̣n công bố tài liệu về việc năm 1863, khi phái đoàn Phan Thanh Giản qua Pháp xin điều đ́nh việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, ông Petrus Key là thành viên của phái bộ hướng dẫn Pháp, do Trung tá Henri Rieunier cầm đầu, mà không phải là thông ngôn của sứ đoàn nhà Nguyễn. Một phóng ảnh đă được in lại trong cuốn Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68), và Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I (1999, tr. 297).

 

Cho tới năm 1996, nhiều người vẫn tin rằng năm 1863 “Phan Thanh Giản yêu cầu Trương Vĩnh Kư làm thông ngôn cho phái đoàn đi Paris và Madrid.”(Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 24) Thực ra, chi tiết ông Petrus Key thuộc phái bộ Pháp tháp tùng sứ đoàn Phan Thanh Giản đă được công bố ở Sài G̣n từ năm 1960. Báo Văn Đàn [của nhóm Tinh Việt Văn Đoàn?] từng đăng bản dịch “Tây Hành Nhật Kư” [Nhật kư đi Tây] của cụ Phạm Phú Thứ, một phó sứ của Phan Thanh Giản, đă tŕnh lên vua Tự  Đức ngày 31/3/1864. Theo tài liệu này:

 

Ngày 1-2/7/1863, triều đ́nh bổ sung danh sách phái bộ, thêm hai người thông ngôn [một người tên Nguyễn Văn Trường bị chết dọc đường]. Về phía Pháp, bổ sung thêm 4 người, trong đó có Trương Vĩnh Kư làm thông ngôn, Tôn Thọ Tường làm kư lục. (Hải Ngọc sao lục, in lại trong Phạm Phú Thú với tư tưởng canh tân [Đà Nẵng: 1995], tr. 166-7).

 

[Thực ra, từ năm 1919 và 1921, tờ Bulletin de Amis du Vieux Hue (BAVH, Thành tích biểu của Hội Những ngụi bạn của cố đô Huế) đă có những loạt bài dịch tập Nhu Tây sứ tŕnh nhật kư của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ. Các tài liệu này đều xác nhận thông ngôn chính của sứ đoàn Nguyễn là Linh mục Nguyễn Hoằng. Petrus Key và Tôn Thọ Tường là phụ tá của Trung tá Aubaret, thông dịch viên chính thức cho sứ đoàn Phan Thanh Giản trong thời gian tại Paris và Madrid. Xem, chẳng hạn, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian,” traduit par Trần Xuân Toạn et Nguyễn Đ́nh Ḥe; BAVH (1921), pp. 147-187, 243-281; hay A. Delveaux, BAVH (1926), pp. 69-80. Năm 1919, Cửu phẩm Ngô Đ́nh Diệm tại Tân Thơ Viện Huế cũng dịch và giới thiệu tập nhật kư của Phan Thanh Giản-Phạm Phú Thứ, nhưng tôi chưa đuọc tham khảo]

 

Không được đọc các tài liệu trên, hoặc đọc mà không hiểu, cho tới năm 2001, tại hải ngoại vẫn có người cả đoan rằng chính sứ thần Phan Thanh Giản đích thân xin ông Petrus Key tham gia sứ đoàn Nguyễn, và nhắm mắt lại “phán” rằng tài liệu văn khố tôi công bố là “sai lầm.” Tôi không nêu tên những người này, v́ không cần thiết. Điều đáng nói ở đây là sự phản ứng do tư tâm và cảm tính trên, dù dễ hiểu, nhưng không thể chấp nhận được ở những người từng tốt nghiệp Đại học. Trước hết, những người này chưa từng nghiên cứu về sử, và kiến thức sử chỉ là tổng hợp những tư liệu đầy rẫy sai lầm của các tác giả và nhà truyền giáo trước đây (như không một giáo dân nào tiếp tay Francis Garnier trong cuộc đánh chiếm Hà Nội và Bắc Kỳ năm 1873 [sic]). Thứ hai, do một nguyên nhân thầm kín nào đó, họ mất đi sự lương thiện tối thiểu cần thiết của người trí thức và người cầm bút trong một cuộc tranh luận: Muốn chỉ trích hay đả phá một phát hiện lịch sử nào, cần trưng dẫn những tài liệu rơ ràng, hiển nhiên (thí dụ như trong trường hợp này, văn thư của cụ Phan Thanh Giản gửi các quan tướng Pháp, hoặc tŕnh báo lên vua Tự Đức về việc xin đích danh Petrus Key, hay ban khen của Tự Đức sau khi hoàn tất sứ mệnh). Ví thử kiến thức có bị ô nhiễm v́ những sách báo cũ từ trước đến nay  kiểu Petrus Key làm thông ngôn trong phái đoàn Phan Thanh Giản, hay “đích thân Phan Thanh Giản xin Petrus Key đi làm thông ngôn,” th́ cũng cần vận dụng khả năng suy luận để tự hỏi tại sao trong số những người qua Pháp làm thông ngôn lại có thêm những Petrus Sang, Ba Tường, Hiếu, Trần Văn Luông, Simon Của, v..v... mà sử sách cũ, ngoại trừ tư liệu của cụ Phạm Phú Thứ, không hề chép đến? Và, cũng nên tự hỏi, chẳng lẽ Rieunier hay Aubaret “sai lầm” khi làm báo cáo xin thành lập phái đoàn thông ngôn qua Pháp năm 1863? Hoặc, nếu có cơ hội, nên ḍ hỏi xem quốc sử nhà Nguyễn có ghi chép ǵ về việc này hay chăng. Đó là sự thận trọng tối thiểu cần thiết của người trí thức để tránh mắc phải lỗi lầm hồ đồ.

 

         V́ tập đi sứ của Phạm Phú Thứ chưa được phiên dịch toàn bộ, chỉ thấy có tên Aubaret là người thường xuyên liên lạc với phái bộ Việt. Điều này có nghĩa, khi về tới Pháp, Rieunier được chính thức nghỉ phép, và phái đoàn thông dịch do Aubaret cầm đầu, với các phụ tá người Việt như Petrus Key, “Ba” Tường, v.. v..., giữ việc liên lạc giữa Bộ Ngoại Giao Pháp và sứ đoàn.

 

Tên Trương Vĩnh Kư c̣n xuất hiện trong nhật kư của cụ Phan Phú Thứ khi sứ đoàn được chính phủ Espania mời đến thăm Roma một tuần, từ ngày 1 tới ngày 7/12/1863: Ngày 2/12/1863, theo cụ Phan Phú Thứ, “Phái bộ đưa Trương Vĩnh Kư vào thăm thành Roma và gặp Giáo hoàng.” (Ibid., tr. 175) Đoạn văn trên của Phó sứ Thứ cũng cho thấy Petrus Key không thuộc phái bộ sứ đoàn Nguyễn. (Thực ra, khi từ Marseille qua Madrid, Aubaret chỉ mang theo Petrus Key và Ba Tụng cùng hai thuộc hạ khác. Sứ đoàn Nguyễn phải rút lại c̣n 20 người để khỏi chật chội; Trần Xuân Toạn, 1921:279).

 

Cách nào đi nữa, cần khẳng định rằng “Những người An-nam-mít ở Nam Kỳ thuộc Pháp đi qua Pháp cùng với sứ đoàn của vua Tự Đức [Annamites de la Cochinchine francáise allant en France avec l’bassade du Roi Tu Duc],” trong phái đoàn Rieunier, gồm có nhất đẳng thông ngôn Petrus Key Trương Vĩnh Kư, Giáo sư trường thông ngôn Pháp; đệ nhị đẳng thông ngôn Petrus Sang; hai nho (lettré) Tôn Thọ “Ba” Tường (Phủ Tân B́nh), và Hiếu (nho thuộc Bộ Tổng Tham mưu); hai học sinh trường Giám mục d’ran, Trần Văn Luông [Long], con Trần Tử Ca, và Simon Của. Ngoài ra, c̣n 3 người hầu, kể cả Pedro Trần Quang Diệu. Họ không thuộc sứ đoàn Phan Thanh Giản (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 161, 163-4, 186chú49; Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập I, tr. 68)

 

[Tiện đây, cũng cần đặt lại vấn đề thực chăng ông Phan Thanh Giản cầm đầu sứ đoàn của vua Minh Mạng qua Pháp năm 1839-1840? Theo Đại Nam Liệt Truyện, Chính Biên (truyện Phan Thanh Giản) cũng như Đại Nam Thực Lục, Chính Biên, phái đoàn này chỉ có hai quan Nguyễn là Tư vụ Trần Viết Xương và thư lại Tôn Thất Thường, cùng hai thông ngôn. Họ dùng tàu của triều đ́nh qua Giang-lưu-ba [Djakarta] vào tháng 10 Kỷ Hợi, tức trong khoảng 6/11-5/12/1839, trên tàu Thụy Long của Tham tri Đào Trí Phú. Từ Djakarta, sứ đoàn dùng tàu Tây phương để qua Âu châu quan sát, ghi chép cẩn thận mọi sự mọi việc để về báo cáo, và mua hàng hóa.(ĐNTL,CB, II, 21:230-1) Thời gian này, Phan Thanh Giản ở trong nội địa Đại Nam, và không thể theo phái đoàn trên. Tài liệu các nhà truyền giáo mà tôi có cơ hội tham khảo th́ chỉ ghi nhận là khi tới Paris vào cuối năm 1840, sứ đoàn Nguyễn c̣n 3 người.(Lettre Commune (Paris), 16/4/1841). Không thấy nêu tên thành viên sứ đoàn. [Xem thêm A. Delveaux, “L’Ambassade de Minh Mang a Louis Philippe, 1839 a 1841;” BAVH (10-12/1928), pp. 257-264]

 

Đào Tạo Thông Ngôn

 

          Từ Pháp trở về, Petrus Key vẫn tiếp tục nghề thông ngôn cho Soái phủ Pháp (v́ tiền bạc, dĩ nhiên, nhưng cũng v́ lập trường đồng hóa quyền lợi cá nhân với quyền lợi nước Pháp ở Đại Nam). Nhưng vai tṛ Petrus Key ngày một thăng tiến. Năm 1866, theo một tác giả, Petrus Key được cử làm Giám đốc trường thông ngôn (Collège des Interprètes). (Phạm Long Điền, “Những khám phá mới về Gia Định Báo;” Bách Khoa M [số 403] (1974), tr. 33-37; N [số. 404] (1974), tr. 23-30). Làm việc tại đây khoảng 2 năm, ngày 2/11/1868, Petrus Key xin từ chức v́ đụng chạm với Giám đốc Sở Nội chính là Paulin Vial. (Ibid., tr. 34)

 

Trường Thông Ngôn này, tưởng nên thêm, nhằm đào tạo thông ngôn cho các địa phương. Ngoài việc giúp các đạo quân viễn chinh Pháp (như thông dịch, thu lượm tin tức t́nh báo, v.. v... ) họ c̣n có nhiệm vụ truyền bá chữ “quốc ngữ mới.” [Xem Phụ Bản 3]

 

Triều đ́nh Huế cũng lựa chọn một số thiếu niên thông minh gửi vào Sài G̣n cho Petrus Key huấn luyện. Và đây là lần đầu tiên tên Petrus Key, đúng hơn, Trương Vĩnh Kư, được ghi chép trong Đại Nam Thực Lục, Chính Biên.

 

Nhà Báo

 

          Ngày 16/9/1869, XLTV Thống đốc Sài G̣n là Đề đốc Maurice G. H. Ohier (4/1868-12/1869) kư Nghị định số 298 bổ nhiệm Petrus Key  làm “Chánh tổng tài” [Chủ biên] Gia Định Báo.(Phạm Long Điền, “Gia Định Báo;” Bách Khoa M [số 403], 1974, tr. 34-5) Tuần báo này xuất bản năm 1865, phát không trong các làng mạc để phổ biến chính sách của Pháp.(Ibid., tr. 36; Courrier de Saigon, số 7, 5/4/1865) Báo xuất bản tới cuối năm 1909, và đ́nh bản từ ngày 1/1/1910. Trong số những Chủ biên cuối cùng có Diệp Văn Cương (21/5/1908-18/9/1908).(Lê Văn Cẩn, “Góp ư với ông Phạm Long Điền về Gia định báo;” BK, số P, 1974, tr. 73-4) Thư viện Quốc Gia Pháp có một sưu tập khá đầy đủ tựa báo này, từ năm 1866. (Năm 2000, chỉ c̣n từ năm 1867)

 

Trong khi trông coi tờ Gia Định Báo, năm 1872, Petrus Key được Thống đốc Jules Dupré (4/1871-3/1874) thăng lên hàm tri huyện hạng nhất.(BK, N, tr. 20) ít lâu sau, khi Elucian Luro thành lập trường Tập sự Hành chánh thuộc địa [Collège des Stagiaires], Petrus Key được điều về đây dạy tiếng Việt và những môn liên hệ đến lịch sử, phong tục, địa lư cho các viên chức Pháp-Việt.

 

Năm 1888, Petrus Key (lúc này đổi tên thành Petrus J.B. Trương Vĩnh Kư) xuất bản một tờ học báo lấy tên Thông Loại Khóa Tŕnh (Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles).  Báo ra hàng tháng, từ tháng 1/1888 tới tháng 10/1889, được 18 số. (Nguyễn Văn Trung, 1993:169-205)

 

Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm 1876 [Ất Hợi]

 

          Năm 1876, Petrus Key được soái phủ Sài G̣n cử ra Bắc thi hành một nhiệm vụ bí mật. Ngày 28/4/1876, Petrus Key viết một báo cáo khá dài cho Đô đốc [Charles Duperré, 12/1874-10/1877] qua trung gian Regnault de Premesnil [Chánh văn pḥng của Duperré].” (Bouchot, pp. 34-41). Theo học giả Osborne, báo cáo này có thể t́m thấy trong Bảo tàng viện Petrus Key ở Sài G̣n. Năm 1881, Petrus Key cũng viết lại bằng tiếng Việt, cho in dưới tựa Voyage au Tonking en 1876 - Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi. Tuy nhiên, phần báo cáo chính trị bị cắt bỏ, măi sau ngày Petrus Key chết mới được công bố. (Tựa sách này lưu trữ trong thư viện Mitterand, Paris).

 

Chuyến đi bí mật của Petrus Key này khiến có người kết án Petrus Key “làm gián điệp” cho Pháp. Nhưng có thể đây chỉ là một chuyến du khảo miền Bắc, sau khi triều Huế đă kư Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874) nhượng đứt sáu tỉnh miền Nam cho Pháp. Không hiểu chuyến đi này liên hệ ǵ đến lời phản kháng mạnh mẽ của Giám mục Paul Puginier và giới giáo sĩ về việc mà họ gọi là sự phản bội của ông Paul Philastre hay dự án ép triều Nguyễn tu chính Ḥa ước 1874 của Duperré hay chăng? (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:244-8) Trong chuyến đi năm 1876, Petrus Key được tiếp xúc rất nhiều người. Thoạt tiên là Lănh sự Hải Pḥng, tức Y sĩ Hải quân Louis Turc, một cựu Đốc lư Sài G̣n. Rồi đến Tổng đốc Hải Yên Phạm Phú Thứ, người từng biết Petrus Key khi qua Pháp năm 1863-1864. Linh mục Trần Lục—Chánh xứ Phát Diệm, cánh tay bản xứ của Giám mục Puginier, người tuyển mộ cho Francis Garnier từ 12,000 tới 14,000 lính đánh thuê trong cuộc xâm chiếm Bắc Kỳ năm 1873, mà đa số là giáo dân Ki-tô (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:225-6)—cũng dẫn Petrus Key tới tận Thanh Hóa, Ninh B́nh, Kẻ Sở. Thông điệp, hay lời khuyên của Petrus Key với các giới chức Việt là hăy hợp tác chân thành với người Pháp, đưa cả hai tay mà nắm lấy họ. Nguyên văn như sau:

 

Thưa quí ngài, tôi trả lời . . . . quí Ngài chỉ cần có ḷng tin tưởng ở các đồng minh đáng kính của chúng ta [tức người Pháp] và nương tựa hết sức vào họ để mà tự đứng dậy, nhưng cần thẳng thắn, không một hậu ư, không có những mưu mẹo bí mật, đưa cả hai tay cho họ mà không chỉ đưa ra một tay, tay kia dấu lại.

 

 (Nguyên văn: “Messieurs, ai-je repliqué, . . . . vous nơavez quơà avoir confiance en vos illustres alliés [les Francáis] et à vous appuyer sincèrement sur eux pour vous relever, mais franchement, sans arrière-pensée, sans secret combinaison, leur donner les deux mains et non pas en livrer une et réserver lơautre;” Báo cáo ngày 28/4/1876, P. Truong Vinh Ky gửi Duperré. Giáo sư Phạm Thế Ngũ chỉ dịch lại một phần báo cáo trên,[Phạm Thế Ngữ, tr. 72] nên chỉ hiểu được “một nửa” quan điểm chính trị của Petrus Key. Nguyễn Văn Trấn cũng lược dịch phần nào; Trấn 1993, tr. 40-41).

 

          Petrus Key cũng nêu lên t́nh trạng Lương-Giáo nghi ngờ, thù hận lẫn nhau, và tiết lộ nhiều giáo mục bản xứ đă hành động quá đáng trong lúc trả thù, báo oán (tức vụ Văn thân nổi dạy và vụ nổi loạn của Hồ Văn Vạn cùng nhóm lính đánh thuê cũ của Garnier. Điều này chứng tỏ quan điểm tôn giáo của Petrus Key đă rộng răi hơn 18 năm trước, hoặc các giáo mục giáo dân miền Bắc dưới trướng Puginier c̣n bảo thủ và quá khích hơn cả Petrus Key.

 

Đáng lưu ư và cần nhấn mạnh rằng Petrus Key, với phương vị một đặc sứ của Pháp, gốc nước Nam Kỳ thuộc Pháp, dùng những tiếng như “rebelles” [ngụy, tức giặc hay làm loạn] để diễn tả các tổ chức và cá nhân kháng Pháp ở miền Bắc. Và đây không phải là lần đầu hay cuối cùng. [Người học sử Việt không thể không nghĩ đến Lê Tắc với những tiếng như “bạn nghịch,” “phản,” hay “yêu đảng” trơng An Nam Chí Lược hơn 500 năm trước khi nói về Hai Bà Trưng, v.. v...]

 

Chẳng hiểu Duperré, lúc ấy đang nghỉ phép ở Paris, nhận được báo cáo của Petrus Key ngày nào. Chỉ biết ngày 1/6/1876, khi Duperré sắp lên đường trở lại Ầông Dương, Bộ trưởng Hải Quân & Thuộc Ầịa chỉ thị là không được can thiệp vào Bắc Kỳ và phải ngăn cản các giáo sĩ làm loạn hay khôi phục nhà Lê. (MAE (Paris), Documents Diplomatiques,  I, tr. 55-57; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:248)

 

Những ai c̣n hoài nghi về lập trường chính trị của Petrus Key không thể không đọc báo cáo này. Nó bộc lộ rơ ràng quyết tâm của Petrus Key: phục vụ Pháp, không một chút hậu ư. Lập trường này đă nhiều lần được Petrus Key viết thành văn. Thư gửi Paulin Vial ngày 3/10/1868 chỉ là một thí dụ ngoài báo cáo năm 1876 vừa lược dẫn. Cho đến lúc gần cuối đời, Petrus Key vẫn không thay đổi lập trường: ́ng muốn dạy dỗ cho các thế hệ thanh thiếu niên Việt “đưa cả hai tay nắm lấy người Pháp mà đứng lên.”

 

“Ẩn sĩ” ở Huế (1886)

 

          Thời gian làm việc tại Viện Cơ Mật Huế năm 1886 có lẽ là giai đoạn vàng son nhất của Petrus Key.

 

Ưđịnh đưa Petrus Key ra Huế để lập một hạt nhân những người đồng hóa quyền lợi bản thân với quyền lợi Ầại Pháp đă được nghiên cứu ở Paris từ năm 1885, sau biến cố đêm mồng 4 rạng ngày 5/7/1885 ở Huế, tức Phụ chính Tôn Thất Thuyết tấn công quân Pháp, đưa ấu vương Hàm Nghi (1885-1888) đi kháng chiến. Ngày 28/10/1885, Bộ trưởng chiến tranh Pháp là Tướng Boulanger  đề cử Petrus Key với Tướng Roussel de Courcy để phụ giúp Ầồng Khánh (1885-1889)—người được Giám mục Caspar và Puginier ủng hộ lên làm vua để “phục hưng ḍng chính thống” và biến Hàm Nghi thành một “chú bé chạy trốn lang thang”, hầu lấy đi uy thế của phong trào Cần Vương. Tuy nhiên, de Courcy không muốn sử dụng Petrus Key, người mà theo ông ta từng dính líu vào vụ giặc biển Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ, và chủ trương Pháp nên rút bỏ Bắc Kỳ gạo, tập trung giữ vùng Bắc Kỳ biển trong hai năm 1879-1880 của Linh mục Peine [Pène?] Siéfert. (SHAT [Vincennes], 10H 21) Nhưng khi de Courcy xin hồi hương, và Paul Bert được cử làm Tổng Trú Sứ Đại Nam, cả Petrus Key lẫn Peine-Siéfert đều được trọng dụng. Ngày 12/4/1886, Bert cử Petrus Key vào làm việc trong Viện Cơ Mật Huế. Trong gần nửa năm tại Huế, “ẩn sĩ” Petrus Key và Linh mục Peine-Seifert là cặp bài trùng gây nên nhiều chống đối trong giới quan lại. Linh mục Nguyễn Hoàng [Hoằng], người lo việc thông ngôn khá lâu ở triều đ́nh, bị đuổi ra Thanh Hóa, rồi chết ở đây.

 

Theo tài liệu quốc sử Nguyễn, tháng 3 Bính Tuất [4/4-3/5/1886], Đồng Khánh phong “ẩn sĩ” Petrus Key [lúc này đă lấy tên Sĩ Tải Trương Vĩnh Kư] làm Hàn Lâm Thị giảng học sĩ.(ĐNTL,CB, 37:148) Hai tháng sau, Petrus Key được thêm chức Tham tá Cơ Mật Viện cùng với Thị giảng Nguyễn Trọng Tạo. Tháng 8 Bính Tuất [29/8-27/9/1886], Soái phủ Sài G̣n tăng cường thêm cho nhóm thông ngôn miền Nam Diệp Văn Cương và Trương Vĩnh Thế (có họ với Petrus Key). Đồng Khánh phong cho họ chức Hàn Lâm Viện kiểm thảo.( ĐNTL,CB, 37:196-7)

 

Nhiệm vụ chính của Petrus Key trong giai đoạn này là nắm gọn vua Đồng Khánh—dạy bảo vua phải biết đưa hai tay ra nắm lấy người Pháp, và lựa chọn vào Viện Cơ Mật những người đồng hóa quyền lợi bản thân với quyền lợi nước Pháp. Ngoài ra, Tổng trú sứ Bert muốn Petrus Key khuyên dụ Đồng Khánh kư một qui ước tách biệt Bắc Kỳ khỏi Huế, thành lập chức Kinh Lược Sứ Bắc Kỳ, có toàn quyền thay mặt triều đ́nh xử lư mọi việc. (Dụ ngày 3/6/1886) Nguyễn Hữu Độ#273;ược cử vào chức vụ này. Đổi lại, Bert chính thức hủy bỏ Qui ước 30/7/1885, tức qui ước đặt phần lănh thổ c̣n lại của Đại Nam dưới chế độ quân quản Pháp, và cho phép 12 tỉnh An-Nam được nhiều quyền tự trị hơn. ( ĐNTL,CB, 37:108; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập II. Xem thêm thư ngày 25/9/1886, Bert gửi Petrus Key; Trấn, 1993, tr. 83-4)). Việc sử dụng Hoàng Kế Viêm, một lăo tướng trụ cột của nhà Nguyễn tại Bắc Kỳ trước năm 1883, để “an phủ” [chiêu hồi] các lực lượng Cần Vương là một thành quả khác của Petrus Key. Tuy nhiên, chủ trương đứng ngoài cuộc tranh chấp Giáo-Lương của Bert và Petrus Key không được sự tán thưởng của giới giáo sĩ. Giáo sĩ và giáo dân bất chấp lệnh “an phủ” của Bert, tiếp tục bắt giết các thủ lĩnh Cần Vương về hàng, kể cả thày dạy cũ của Ầồng Khánh là Trần Văn Dữ. Thư ngày 5/10/1886 mà Petrus Key gửi cho Bert phần nào phản ảnh sứ mệnh khó khăn của ḿnh.(Xem thêm thư ngày 19/1/1887, Petrus Key gửi Noel Pardon; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 96-8; Osborne 1969:134-5) Dẫu vậy, Bert vẫn đề nghị Paris ban thưởng cho Petrus Key một tấm Đệgũ Đẳng Bắc đẩu Bội tinh, loại huân chương cao quí của nước Pháp mà rất  ít người, kể cả sĩ quan và viên chức Pháp, được phong tặng. (Thư ngày 25/9/1886, Bert gửi Petrus Key; Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 83-4) Trong số rất hiếm người Việt được ân thưởng Bắc Ầẩu Bội Tinh c̣n có Huyện Sỹ, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Trần Lục, v.. v.... Không hề vào sinh ra tử, chỉ với số vốn liếng chữ Pháp và Latin hấp thụ được từ trường Collège général de Pinang và ng̣i bút của ḿnh, Petrus Key đă cấy xuống hạt mầm của kế hoạch tách hẳn Bắc Kỳ khỏi An-Nam mà đến năm 1897 người Pháp mới thực hiện được qua nhóm Nguyễn Thân-Ngô Ầ́nh Khả.(Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:542-3)

Cái chết đột ngột của Bert vào tháng 11/1886 chấm dứt vĩnh viễn vai tṛ chính trị của Petrus Key tại Huế. Nhưng giai đoạn ngắn ngủi mà Petrus Key làm “ẩn sĩ” ở kinh đô lưu lại những kỷ niệm chẳng mấy tốt đẹp. Sau này, ngày 10/4/1892, Phủ Phụ Chính của Thành Thái (1889-1907) gửi công văn cho Jean de Lanessan yêu cầu Toàn quyền Pháp đừng bao giờ gửi ra Trung Kỳ những nhân vật như Petrus Key, Diệp Văn Cương, thông phán Nguyễn Trọng Tạo hay kư lục Lê Duy Hinh, v.. v... (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, II:534, 593chú 43).

 

Mùa Xuân năm 1888, Petrus Key lại có dịp tiếp tay Pháp mở rộng biên giới Đông Dương. Tháng 4/1888, Petrus Key qua Bangkok để thi hành một sứ mệnh đặc biệt. Trong báo cáo vào tháng 5/1888, Petrus Key yêu cầu người Pháp khuyến khích triều Nguyễn tuyên bố các xứ Nam Chưởng, Vạn Tượng, v.. v... vốn là chư hầu của Đại Nam, ba năm cống hiến một lần, hầu chống lại đ̣i hỏi lănh thổ của Xiêm La.(Bouchot, tr. 91-7; bản dịch “Những năm cuối cùng của cuộc đời Pétrus Kư” của Tân Văn Hồng; Nguyễn Thanh Liêm, op. cit., tr. 107-11) Cũng trong thời gian này, Toàn quyền Pháp cho lệnh triều Đồng Khánh lục lọi văn khố, t́m bất cứ tài liệu nào về chủ quyền của Ầại Nam trên đất Lào. Nhờ vậy, Lào được sát nhập vào Động Dương như “xứ” (pays) thứ năm. Tháng 7/1893, Pháp gửi chiến hạm ngược sông Chaophraya lên Bangkok, uy hiếp chính phủ Chulalongkorn (1868-1910). May mắn cho Chulalongkorn, v́ cả Bri-tên và Pháp muốn duy tŕ Xiêm La (Syam) như một trái độn, nên năm 1896, hai bên kư Hiệp ước tôn trọng chủ quyền của Xiêm. Đổi lại, Xiêm La nh́n nhận biên giới hiện nay.

 

Tóm lại, thời gian ở Huế nói riêng, và suốt gần 40 năm phục vụ chế độ Bảo hộ Pháp, Petrus Key luôn luôn bày tỏ một ḷng yêu nước nồng nàn. Nhưng là ḷng yêu nước Pháp, tổ quốc mới của ông ta.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend